Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 03/2025/LĐ-PT

Ngày: 19-6-2025

V/v:“T/c tiền lương”


NHÂNDANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI


  • - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.
  • Các thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu.
  • Bà Đỗ Thị Nhung.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ngọc Châu – Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
  • Bà Đoàn Thị Hương – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 tháng 6 và 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2025/TLPT-LĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp tiền lương”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 21-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Robin Wilberforce L, sinh năm1958.(có mặt)
  • Quốc tịch: New Zealand.
  • Số hộ chiếu: LT918869 do Department of I (Cục X, New Zealand) cấp ngày 28/02/2020.
  • Thường trú tại: G W, K, New Zealand.
  • Địa chỉ tạm trú: Ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  • Người phiên dịch của ông Robin Wilberforce L:
  • Ông Đặng Hồng P, sinh năm 1999.(có mặt)
  • Địa chỉ: Số B P, phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Có bằng cử nhân ngôn ngữ Anh số hiệu DVH.CN/01049, số vào sổ gốc cấp văn bằng: K2017/1A/253 ngày 14/4/2022 của Trường Đại học V; Có Chứng chỉ phiên dịch do Công ty TNHH T1 (CTM) cấp.
  • - Bị đơn: Trường Đại học F.
  • Địa chỉ: Khu G 29, Đại lộ T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội.
  • Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà S.35 B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1968.
  • Địa chỉ: Số A.B Chung cư I, đường T, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

* Theo đơn khởi kiện vào ngày 17/4/2024 và lời trình bày của ông Robin W Lock qua người phiên dịch là ông Đặng Hồng P:

Ngày 16/3/2023, ông Robin Wilberforce L (gọi tắt là ông R) có ký kết hợp đồng lao động với Trường đại học F (gọi tắt là Trường F) với công việc là giảng dạy và nghiên cứu, bắt đầu từ tháng 4/2023 ông đã làm các công việc là soạn giáo án và tài liệu. Đến ngày 06/5/2023 thì ký hợp đồng khoán việc với T FPT, thời gian làm việc bắt đầu từ ngày 08/5/2023 đến ngày 07/8/2023. Trong thời gian ông làm việc, Trường F đã thanh toán tiền lương không đúng như thỏa thuận, cụ thể là chậm thanh toán tiền lương đợt 1 và đợt 2. Do việc thanh toán tiền lương chậm làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông nên ngày 14/7/2023, ông đã thông báo với nhà trường là ông sẽ nghỉ việc và được thầy H (Giám đốc Trung tâm C) chấp nhận.

Ngày 01/8/2023, đại diện Trường F là ông T có gửi mail cho ông và đưa ra đề nghị để chấm dứt hợp đồng với tổng số tiền là 65.550.000 đồng, bao gồm: Tiền lương ông làm việc từ ngày 10 đến ngày 15/7/2023 là 15.550.000 đồng, tiền lương ông tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy với số tiền là 3.500.000 đồng, tiền lương trong khoảng thời gian còn lại theo hợp đồng khoán gọn là 46.500.000 đồng và ông đồng ý, tuy nhiên đối với yêu cầu của ông về việc đề nghị Trường FPT phải thanh toán cho ông số tiền 62.200.000 đồng tiền lương tháng 4/2023 đã không được Trường F đồng ý.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là đề nghị Tòa án giải quyết buộc Trường F phải thanh toán cho ông tiền lương tháng 4/2023 theo hợp đồng đã ký vào ngày 16/3/2023 là 62.200.000 đồng và số tiền 65.550.000 đồng do Trường F đề nghị trả cho ông vào ngày 01/8/2023.

* Theo văn bản trình bày ý kiến vào ngày 31/5/2024 của Trường Đại học F và lời trình bày của ông Nguyễn Duy T - người đại diện theo ủy quyền của Trường Đại học F:

Vào ngày 16/3/2023, Trường Đại học F và ông Robin Wilberforce L có ký Bản đề nghị ký hợp đồng, nội dung của bản đề nghị này chỉ với mục đích là để hai bên cung cấp các thông tin cá nhân, nội dung công việc phải làm và mức lương dùng làm cơ sở ký hợp đồng chính thức là Hợp đồng khoán gọn vào ngày 06/5/2023.

Ngày 06/5/2023, Trường F và ông R đã ký hợp đồng khoán gọn. Theo đó, thời gian làm việc sẽ được chia làm 3 đợt:

  • Đợt 1 từ ngày 08/5/2023 đến ngày 07/6/2023.
  • Đợt 2 từ ngày 08/6/2023 đến 07/7/2023.
  • Đợt 3 từ ngày 08/7/2023 đến ngày 07/8/2023.

Công việc ông R phải làm là giảng dạy và nghiên cứu phục vụ cho việc giảng dạy, chấm điểm, đưa điểm lên hệ thống. Sau khi ông R thực hiện xong công việc làm ở từng đợt thì nhà trường sẽ nghiệm thu và ký biên bản nghiệm thu thì mới thanh toán tiền lương cho ông R. Đợt 1 và đợt 2 đã được hai bên nghiệm thu và nhà trường cũng đã thanh toán tiền cho ông R. Tuy nhiên, đến ngày 14/7/2023 (trong khoảng thời gian làm việc của đợt 3) ông R đã gửi thông báo cho nhà trường là ông sẽ nghỉ việc ngay mà không hề có sự thảo luận với nhà trường, mặc dù vậy nhưng đại diện nhà trường vẫn đồng ý với việc xin nghỉ của ông R.

Sau khi đồng ý cho ông R nghỉ việc thì nhà trường có trao đổi với ông R qua email để tất toán hợp đồng. Ngày 01/8/2023, ông là người đại diện cho nhà trường có

2

đưa ra đề nghị là sẽ trả cho ông R số tiền 65.550.000 đồng để tất toán hợp đồng, ông R đồng ý nhận khoản tiền trên nhưng không đồng ý với điều kiện nhà trường đưa ra là tất toán luôn hợp đồng và không thanh toán thêm khoản tiền nào khác. Chính vì ông R không đồng ý với phương án nhà trường đưa ra nên nhà trường chưa có cơ sở để thanh toán số tiền thực tế của đợt 3 do chưa nghiệm thu.

Nay ông R khởi kiện yêu cầu Trường F phải thanh toán tiền lương tháng 4/2023 theo như đề nghị ký hợp đồng vào ngày 16/3/2023 với số tiền 62.200.000 đồng và số tiền 65.550.000 đồng do Trường F đề nghị tại mail ngày 01/8/2023 để tất toán hợp đồng thì T FPT không đồng ý. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Trường F chỉ đồng ý trả khoản tiền lương trong những ngày ông R trong đợt 3 (từ ngày 10 đến ngày 15/7/2023) với số tiền là 15.550.000 đồng, tiền lương ông R tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy trong tháng 4/2023 với số tiền 3.500.000 đồng như bản án sơ thẩm đã tuyên.

* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo:

Qua lời trình bày của các bên cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng:

Ngày 16/3/2023, Trường F và ông R có ký bản đề nghị ký hợp đồng với nội dung loại Hợp đồng xác định thời hạn từ 01/4/2023 đến 31/3/2025, tiền lương tháng bao gồm: Lương theo chức danh công việc là 11.140.000 đồng, khoản bổ sung kế hoạch và thu nhập khác (nếu có) là 46.260.000 đồng, hỗ trợ nhà ở là 4.500.000 đồng và hỗ trợ công nghệ là 300.000 đồng. Ngoài ra còn nêu địa điểm làm việc, công việc phải làm là công việc giảng dạy, nghiên cứu.

Ngày 06/5/2023, Trường F và ông R tiếp tục ký hợp đồng khoán gọn, thời gian làm việc chia làm 3 đợt: Đợt 1 từ ngày 08/5/2023 đến ngày 07/6/2023; Đợt 2 từ ngày 08/6/2023 đến 07/7/2023; Đợt 3 từ ngày 08/7/2023 đến ngày 07/8/2023. Công việc ông R phải làm là giảng dạy và nghiên cứu phục vụ cho việc giảng dạy, chấm điểm, đưa điểm lên hệ thống. Sau khi ông R thực hiện xong từng đợt thì T FPT phải nghiệm thu và ký biên bản nghiệm thu mới thanh toán tiền cho ông R. Đợt 1 và đợt 2 Trường F đã thanh toán xong.

Đến ngày 14/7/2023, ông R đã gửi thông báo cho Trường F là ông sẽ chính thức nghỉ việc và đại diện Trường F cũng đồng ý.

Ngày 01/8/2023, đại diện Trường F có gửi mail cho ông R và đưa ra đề nghị tất toán hợp đồng với tổng số tiền là 65.550.000 đồng, bao gồm: Thanh toán một tuần lương ông R đã làm việc (từ ngày 10 đến ngày 15/7/2023) là 15.550.000 đồng, tiền lương ông R đã tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy với số tiền là 3.500.000 đồng, tiền lương thời gian còn lại trong hợp đồng khoán gọn với số tiền là 46.500.000 đồng và toàn bộ số tiền trên là thiện chí của Trường F.

Không đồng ý với thỏa thuận trên, ông R đã khởi kiện yêu cầu Trường F phải thanh toán tiền lương tháng 4/2023 theo hợp đồng ký ngày 16/3/2023 là 62.200.000 đồng và số tiền 65.550.000 đồng như Trường F đề nghị giải quyết vào ngày 01/8/2023.

3

Về phía Trường F thì chỉ đồng ý thanh toán số tiền lương ông R làm việc từ ngày 10 đến ngày 15/7/2023 là 15.550.000 đồng, tiền lương ông R tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy trong tháng 4 với số tiền 3.500.000 đồng, tổng số tiền Trường F chỉ đồng ý thanh toán cho ông R là 19.050.000 đồng.

- Đối với yêu cầu thanh toán số tiền 65.550.000 đồng: Căn cứ Hợp đồng khoán gọn ngày 06/5/2023 và những tài liệu đã thanh toán đợt 1 và đợt 2 thì trong đợt 3 nếu ông R làm từ ngày 08/7/2023 đến ngày 07/8/2023 mới đủ một tháng, tuy nhiên ông R chỉ làm việc đến ngày 15/7/2023 thì nghỉ nên Trường F chỉ đồng ý thanh toán số tiền lương ông R đã làm việc đến ngày 15/7/2023 là 15.550.000 đồng, tiền lương ông R tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy với số tiền 3.500.000 đồng, tổng cộng cả hai khoản là 19.050.000 đồng là phù hợp với các thỏa thuận tại hợp đồng. Việc Trường F gửi mail cho ông R vào ngày 01/8/2023, thể hiện thiện ý sẽ thanh toán cho ông R khoản tiền lương còn lại theo hợp đồng khoán gọn với số tiền 46.500.000 đồng đã không được ông R chấp nhận nên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc Trường F phải thanh toán cho ông R tiền lương trong những ngày làm việc của đợt 3 là 15.550.000 đồng và tiền lương ông R tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy trong tháng 4/2023 với số tiền 3.500.000 đồng là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

- Đối với yêu cầu của ông R về việc thanh toán tiền lương tháng 4/2023 với số tiền 62.200.000 đồng: Xét thấy văn bản ngày 16/3/2023 với tên gọi là “Đề nghị ký hợp đồng” có nội dung thể hiện đầy đủ các thỏa thuận của một hợp đồng lao động, về thẩm quyền có đầy đủ chữ ký của các bên gồm đại diện theo pháp luật của bên sử dụng lao động là ông Hoàng Việt H, người lao động là ông Robin Wilberforce L. Theo người đại diện của Trường F thì bản đề nghị ngày 16/3/2023 chỉ nhằm mục đích để các bên cung cấp các thông tin cá nhân, nội dung công việc phải làm, mức lương để làm cơ sở ký hợp đồng chính thức là Hợp đồng khoán gọn ngày 06/5/2023. Tuy nhiên, bản đề nghị ngày 16/3/2023 không thể hiện nội dung như trình bày của Trường F, ngoài ra cũng không có tài liệu nào khác để chứng minh. Như vậy, Hợp đồng khoán gọn ngày 06/5/2023 được xem là thỏa thuận phát sinh trong quá trình thực hiện Hợp đồng lao động đã ký ngày 16/3/2023.

Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 13 và Điều 14 của Bộ luật Lao động thì đề nghị ngày 16/3/2023 được xem là Hợp đồng lao động và căn cứ theo Hợp đồng lao động ngày 16/3/2023 thì thời hạn hợp đồng là từ ngày 01/4/2023. Tại email ngày 15/4/2023, ông R đã gửi cho Trường F về việc ông R có trao đổi đã soạn thảo tài liệu một khóa học, việc trên đã được L2 chấp nhận vào ngày 18/4/2023 nên có cơ sở xác định trên thực tế ông R đã làm việc từ ngày 01/4 đến ngày 15/4/2023. Do trong hợp đồng có giải thích tiền lương tháng thực nhận phụ thuộc vào khoản bổ sung thực tế được tính trên cơ sở khoản bổ sung kế hoạch, số ngày làm việc thực tế trong tháng của người lao động....Vì vậy, có đủ cơ sở xác định các khoản tiền ông R phải được Trường F thanh toán trong tháng 4/2023 là 39.071.000 đồng (cụ thể: Tiền lương chức danh theo công việc là 11.140.000 đồng, tiền hỗ trợ nhà ở là 4.500.000 đồng, tiền hỗ trợ công nghệ là 300.000 đồng, số tiền quy định tại khoản 3.2 của hợp đồng là 46.260.000 đồng : 2 = 23.131.000 đồng) nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông R về khoản tiền lương tháng 4/2023 là không đúng theo quy định của pháp luật.

4

Từ những phân tích như trên, xét thấy kháng cáo của ông R có cơ sở chấp nhận một phần nên căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 21-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo hướng phân tích như trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông R Wilberforce Lock trong hạn luật định và ông Robin Wilberforce L có đơn xin miễn án phí phúc thẩm theo quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

[3] Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo:

3.1. Về nội dung vụ án: Theo ông R thì vào ngày 16/3/2023, ông có ký hợp đồng lao động với Trường F để làm công việc giảng dạy và nghiên cứu. Từ đầu tháng 4/2023, ông đã làm các công việc như soạn giáo án và tài liệu nhưng Trường F không chi trả lương tháng 4/2023 cho ông. Do vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Trường F phải thanh toán tiền lương tháng 4/2023 cho ông theo hợp đồng đã ký vào ngày 16/3/2023 với số tiền 62.200.000 đồng, ngoài ra Trường F còn phải thanh toán cho ông khoản tiền 65.550.000 đồng theo như Trường F đã gửi thư đề nghị giải quyết chấm dứt hợp đồng lao động với ông vào ngày 01/8/2023.

3.2. Theo Trường F, văn bản “Đề nghị ký hợp đồng” vào ngày 16/3/2023 không phải là hợp đồng lao động và không thể được xem là hợp đồng lao động. Bởi lẽ văn bản “Đề nghị ký hợp đồng” là để các bên dùng làm cơ sở thực hiện việc ký kết hợp đồng khoán gọn sau này.

3.3. Xét thấy văn bản có tiều đề “Đề nghị ký hợp đồng” mà Trường F gửi cho ông R vào ngày 16/3/2023 chỉ là văn bản đưa ra các điều khoản hai bên cần có sự thỏa thuận thống nhất với nhau trước khi ký kết hợp đồng lao động. Nội dung của văn bản “Đề nghị ký hợp đồng” chỉ thể hiện việc các bên cung cấp thông tin cá nhân, công việc phải làm, mức lương để làm cơ sở ký kết hợp đồng khoán gọn vào ngày 06/5/2023, do đó văn bản “Đề nghị ký hợp đồng” vào ngày 16/3/2023 giữa Trường F và ông R không phải là hợp đồng lao động nên việc ông R cho rằng căn cứ theo quy định tại Điều 13 và Điều 14 của Bộ luật Lao động thì văn bản “Đề nghị ký hợp đồng” trên được xem là Hợp đồng lao động để yêu cầu Trường F phải thanh toán tiền lương tháng 4/2023 với số tiền 62.200.000 đồng là không có cơ sở nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu trên của ông R là có căn cứ.

3.4. Đối với yêu cầu của ông R về việc buộc Trường F phải thanh toán số tiền 65.550.000 đồng theo như Trường F đã gửi thư đề nghị giải quyết chấm dứt hợp đồng lao động với ông R vào ngày 01/8/2023, nhận thấy:

Theo Hợp đồng khoán gọn được ký kết giữa Trường F và ông R vào ngày 06/5/2023, thì thời gian làm việc được chia thành 3 đợt:

  • Đợt 1: Từ ngày 08/5/2023 đến ngày 07/6/2023.
  • Đợt 2: Từ ngày 08/6/2023 đến 07/7/2023.
  • Đợt 3: Từ ngày 08/7/2023 đến ngày 07/8/2023.

5

Với công việc ông R phải làm là giảng dạy và nghiên cứu phục vụ cho việc giảng dạy, chấm điểm, đưa điểm lên hệ thống. Trong đó, đợt 3 ông R chỉ làm việc trong khoản thời gian từ ngày 10/7/2023 đến ngày 15/7/2023 và ngày 16/7/2023, ông R đã chính thức nghỉ việc.

Theo hồ sơ thể hiện thì ngày 01/8/2023, ông Nguyễn Duy T là người đại diện của Trường F có đưa ra đề nghị trả cho ông R số tiền 65.550.000 đồng, bao gồm: Tiền lương một tuần ông R làm việc trong tháng 7/2023 (từ ngày 10 đến ngày 15/7/2023) là 15.550.000 đồng, tiền công ông R tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy (nói chuyện trong thời gian Trường F vào tháng 4/2023) là 3.500.000 đồng, thanh toán thêm cho ông R khoản tiền trong thời gian còn lại của hợp đồng khoán gọn với số tiền 46.500.000 đồng nhưng với điều kiện là ông R phải chấm dứt mọi thắc mắc khiếu nại về các vấn đề có liên quan đến việc ký kết hợp đồng lao động với Trường F, tuy nhiên ông R đã không đồng ý với đề nghị trên.

Do vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, ý kiến trình bày của các bên đương sự xác định số tiền lương Trường F chưa thanh toán cho ông R ở đợt 3 (từ ngày 10/7/2023 đến ngày 15/7/2023) với số tiền 15.550.000 đồng và tiền tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy (nói chuyện trong thời gian Trường F vào tháng 4/2023) với số tiền 3.500.000 đồng để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông R, buộc Trường F phải thanh toán cho ông R khoản tiền lương trong đợt 3 (từ ngày 10/7/2023 đến ngày 15/7/2023) với số tiền là 15.550.000 đồng và tiền tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy (nói chuyện trong thời gian Trường F vào tháng 4/2023) với số tiền 3.500.000 đồng là đúng với quy định của pháp luật.

3.5. Từ sự nhận định trên, xét thấy không có căn cứ để xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của ông R nên Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 21-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông R là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên Tòa án cấp sơ thẩm miễn cho ông R, đồng thời buộc T FPT phải chịu số tiền 571.500 đồng là đúng theo quy định nên giữ nguyên.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho ông R do ông là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo quy định.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc buộc Trường F phải thanh toán cho ông R tiền lương trong những ngày làm việc ở đợt 3 là 15.550.000 đồng và tiền tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy với số tiền là 3.500.000 đồng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Đối với khoản tiền lương tháng 4/2023, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cho rằng căn cứ theo quy định tại Điều 13 và Điều 14 của Bộ luật Lao động thì đề nghị ngày 16/3/2023 của Trường Đại học F đối với ông R được xem là Hợp đồng lao động. Căn cứ email ngày 15/4/2023 về việc ông R đã gửi cho T FPT thông qua bà Larry N) việc ông có trao đổi đã soạn thảo tài liệu một khóa học và được bà Larry N chấp nhận vào ngày 18/4/2023, có cơ sở xác định trên thực tế ông R có làm việc từ ngày 01/4/2023 đến ngày 15/4/2023 nên đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng buộc T FPT phải thanh toán cho ông R tiền lương trong tháng 4/2023 với số tiền 39.071.000 đồng (bao gồm: L1 chức danh theo công việc là

6

11.140.000 đồng, tiền hỗ trợ nhà ở 4.500.000 đồng, hỗ trợ công nghệ 300.000 đồng, lương làm việc đến ngày 15/4/2023 trên số tiền quy định tại khoản 3.2 của hợp đồng là 46.260.000 đồng : 2 = 23.131.000 đồng) là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được ghi nhận.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Robin Wilberforce L.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 21-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ khoản 1 Điều 32, 35, 39, 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15, 90, 95, 96 Bộ luật Lao động 2019; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Robin Wilberforce L đối với Trường Đại học F.
  2. Buộc Trường Đại học F phải thanh toán cho ông Robin W Lock khoản tiền lương trong đợt 3 (từ ngày 10/7/2023 đến ngày 15/7/2023) với số tiền là 15.550.000 đồng và tiền tham gia một số hoạt động ngoài giảng dạy (nói chuyện trong thời gian Trường F vào tháng 4/2023) với số tiền 3.500.000 đồng. Tổng cộng cả hai khoản là 19.050.000 đồng (Mười chín triệu không trăm năm mươi nghìn).
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Miễn cho ông R Wilberforce Lock theo quy định.
    2. Trường Đại học F phải chịu 571.500 đồng (Năm trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho ông R Wilberforce Lock theo quy định.
  5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

7

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Thu Đỗ Thị N1

Trương Thị Thảo

8


Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Long Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Long Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thảo

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/LĐ-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp tiền lương

  • Số bản án: 03/2025/LĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền lương
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Robin - trường đại học F - Tranh chấp tiền lương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger