Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/KDTM-PT

Ngày 26/6/2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Phúc Lâm.
  • Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Hồng Ánh.
  • Ông Tạ Duy Ước.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phan Hải, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: ông Đinh Xuân Bình, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2025/TLPT-KDTM ngày 13 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 37/2025/QĐPT-KDTM ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 49/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (N1).

Địa chỉ: Số B L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ tố tụng: Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Địa chỉ: Số C phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo uỷ quyền:

  • Bà Trần Thị Minh H, sinh năm 1992; chức vụ: Chuyên viên Phòng Xử lý nợ Miền bắc - Trung tâm Xử lý nợ Ngân hàng TMCP Q. Có mặt.
  • Ông Phạm Quốc H1, sinh năm 1993; chức vụ: Chuyên viên Phòng Xử lý nợ Miền bắc - Trung tâm Xử lý nợ Ngân hàng TMCP Q. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Công ty TNHH MTV N2.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Vũ Ngọc T, chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Vũ Thị H2; sinh năm 1983.
  • Chị Vũ Thị M; sinh năm 1988.
  • Ông Hà Ngọc V; sinh năm 1958.

Cả ba người cùng cư trú: Thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Đều vắng mặt.

  • Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Quảng Ninh.

Địa chỉ: thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Vũ Đức H3, chức vụ: Chủ tịch UBND huyện V.

Người đại diện theo uỷ quyền: bà Phạm Thị Mai L; chức vụ: Phó Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện V. Vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: bà Lưu Thị L1; chức vụ: Chuyên viên Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện V. Vắng mặt.

  • Ủy ban nhân dân xã H, huyện V.

Địa chỉ: xã H, Đ huyện V, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Lưu Mạnh T1, chức vụ: Chủ tịch UBND xã H. Vắng mặt.

4. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày:

Ngày 29/09/2022, Công ty TNHH MTV N2 (sau đây gọi là Công ty N2) cùng với Ngân hàng TMCP Q (sau đây gọi là Ngân hàng N1) chi nhánh Q2 đã ký kết Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 217/22/HĐHM-9221; ngày 26/12/2022, Công ty N2 với N1 ký kết Phụ lục Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 01/PLHĐHMTD/217/22/HĐHM-9221. Theo đó, trong các ngày 28 và 29 tháng 9/2023, N1 đã (03) ba lần giải ngân cho Công ty N2 số tiền vay cụ thể như sau:

Thứ nhất, theo đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 07/KUNN/217/22/HĐHM-9221 ngày 28/09/2023 (LD2327106019).

  • Số tiền giải ngân: 3.500.000.000₫ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng chẵn)
  • Ngày nhận nợ: 28/09/2023;
  • Thời hạn vay: 06 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân
  • Mục đích giải ngân: Thanh toán tiền mua ruột hà cho hộ nuôi trồng Lê Hải V1.
  • Lãi suất vay: Lãi suất kỳ đầu tiên: Trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên là 10,5%/năm. Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay bằng lãi suất tham chiếu cộng 2,0%/năm, khách hàng phải trả lãi vay và nợ gốc cho NCB theo các nội dung cụ thể như sau: ngày trả lãi vay đầu tiên: 25/10/2023; các ngày trả lãi vay tiếp theo: ngày 25 hàng tháng; ngày trả lãi vay cuối cùng là ngày kết thúc thời hạn vay
  • Lãi quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
  • Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm.
  • Bên B phải trả hết gốc khoản vay vào ngày: 28/03/2024.

Ngày 28/09/2023, N1 đã giải ngân số tiền nêu trên vào Số tài khoản 100010570241 tại N1 - CN Quảng Ninh, đơn vị thụ hưởng: Lê Hải V1.

Thứ hai, theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 08/KUNN/217/22/HĐHM-9221 ngày 29/09/2023 (LD2327265232).

  • Số tiền giải ngân: 3.300.000.000₫ (Bằng chữ: Ba tỷ ba trăm triệu đồng chẵn)
  • Ngày nhận nợ: 29/09/2023;
  • Thời hạn vay: 06 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân
  • Mục đích giải ngân: Thanh toán tiền mua ruột hà cho hộ nuôi trồng Lê Hải V1
  • Lãi suất vay; lãi quá hạn và lãi suất chậm trả lãi quy định như tại Hợp đồng số 07/KUNN/217/22/HĐHM-9221 ngày 28/09/2023.
  • Bên B phải trả hết gốc khoản vay vào ngày: 29/03/2024.

Ngày 29/09/2023, N1 đã giải ngân số tiền nêu trên vào Số tài khoản 100010570241 tại N1 - CN Quảng Ninh, đơn vị thụ hưởng: Lê Hải V1.

Thứ ba, theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 09/KUNN/217/22/HĐHM-9221 ngày 29/09/2023 (LD2327268493).

  • Số tiền giải ngân: 3.040.000.000đ (Bằng chữ: Ba tỷ không trăm bốn mươi triệu đồng).
  • Ngày nhận nợ: 29/09/2023;
  • Thời hạn vay: 06 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân.
  • Mục đích giải ngân: Thanh toán tiền mua ruột hà cho hộ nuôi trồng Lê Hải V1.
  • Lãi suất vay; lãi quá hạn và lãi suất chậm trả lãi quy định như tại Hợp đồng số 07/KUNN/217/22/HĐHM-9221 ngày 28/09/2023.
  • Bên B phải trả hết gốc khoản vay vào ngày: 29/03/2024.

Ngày 29/09/2023, N1 đã giải ngân số tiền nêu trên vào Số tài khoản 100010570241 tại N1 - CN Quảng Ninh, Đơn vị thụ hưởng: Lê Hải V1.

Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ngày 26/12/2022, bà Vũ Thị H2 đã ký với Ngân hàng NCB Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 268/22/HĐTC-9221 số Công chứng số 4796 Quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 với tài sản bảo đảm là:

  • Tài sản bảo đảm thứ nhất: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên thế chấp đối với thửa đất có diện tích: 376,8m² và Tài sản gắn liền với đất là: 01 nhà ở riêng lẻ cấp 4 xây dựng năm 1980; Diện tích xây dựng: 65,39m²; Diện tích sàn: 65,39m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 734988, do UBND huyện V, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 04/12/2014 cho bà Vũ Thị H2.
  • Tài sản bảo đảm thứ hai: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên thế chấp đối với thửa đất có diện tích: 278,3m² và tài sản gắn liền với đất là: 01 nhà ở riêng lẻ cấp 4 xây dựng năm 2000; Diện tích xây dựng: 42,6m²; Diện tích sàn: 42,6m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 792340, do UBND huyện V, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 10/07/2017 cho bà Vũ Thị H2.

Ngày 16/03/2023, bà Vũ Thị H2 tiếp tục ký kết với Ngân hàng N1 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 22/23/HĐTC– 9221 số Công chứng số 539 Quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 với tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên thế chấp đối với thửa đất có diện tích: 620,8m² và tài sản gắn liền với đất là: 01 nhà ở riêng lẻ cấp 4 xây dựng năm 2006; Diện tích xây dựng: 45,4m²; Diện tích sàn: 45,4m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS023742, do UBND huyện V, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 08/01/2020 cho bà Vũ Thị H2.

Các tài sản bảo đảm nêu trên đều được đăng ký thế chấp theo đúng quy định pháp luật.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty N2 đã thanh toán cho N1 tổng số tiền là: 294.577₫ (Hai trăm chín mươi tư nghìn, năm trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó tiền gốc là: 0đ, số tiền lãi trong hạn là: 294.577đ và không tiếp tục thực hiện trả nợ theo cam kết mặc dù N1 đã nhiều lần yêu cầu Công ty N2 trả nợ.

Quá trình vay vốn, Công ty N2 đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng cho vay đã ký với N1. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Công ty N2 thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 14/03/2024 là: 10.346.358.146đ (Mười tỷ, ba trăm bốn mươi sáu triệu, ba trăm năm mươi tám nghìn, một trăm bốn mươi sáu đồng).

Tại phiên tòa sơ thẩm, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam (sau đây gọi là Công ty V4) trình bày: ngày 10/10/2024, Công ty V4 với N1 đã ký kết hợp đồng mua bán nợ, theo đó Công ty V4 đã mua lại của N1 toàn bộ khoản nợ mà Công ty N2 đang nợ của N1, của Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 217/22/HĐHM-9221 ngày 26/12/2022. Nay, Công ty V4 yêu cầu Công ty N2 thanh toán trả nợ cho Công ty tổng số tiền tính đến hết ngày 08/01/2025 là: 11.759.588.802đ (Mười một tỷ, bảy trăm năm mươi chín triệu, năm trăm tám mươi tám nghìn, tám trăm linh hai đồng) bao gồm: nợ gốc: 9.840.000,000đ; nợ lãi trong hạn 539.425.555đ; lãi quá hạn 1.327.021.234đ; lãi chậm trả tiền lãi (trong hạn) 53.142.013đ; trường hợp bị đơn không trả đúng, đủ số tiền còn nợ thì Công ty V4 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Người đại diện theo uỷ quyền của Công ty V4 có quan điểm bị đơn hoàn trả cho Ngân hàng N1 toàn bộ chi phí thẩm định tại chỗ.

Bị đơn: Công ty TNHH MTV N2 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không có ý kiến trình bày quan điểm đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

- Bà Vũ Thị H2 có quan điểm: Bà là nhân viên của Công ty N2. Từ tháng 9/2022, Công ty N2 có vay của Ngân hàng N1 số tiền 10 tỷ đồng để hoạt động kinh doanh, để đảm bảo cho khoản vay của Công ty N2. Người đại diện theo pháp luật là ông Vũ Ngọc T; chức vụ Giám đốc và bà H2 đã thỏa thuận: bà sẽ dùng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của cá nhân bà thế chấp cho Ngân hàng N1 để đảm bảo cho khoản vay này của Công ty N2. Việc bà cùng nguyên đơn ký các hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Tài sản thế chấp gồm những tài sản đúng như nguyên đơn đã cung cấp.

Đối với thửa đất có diện tích 376,8m² và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1980 diện tích 65.39m². Đã được cấp GCNQSD đất số BP 734988 do UBND huyện V cấp ngày 04/12/2014. Sau khi Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ thì trên thửa đất này ngoài tài sản của bà còn có tài sản của ông Hà Ngọc V và của chị Vũ Thị M. Bà H2 cho rằng tài sản của ông Hà Ngọc V đã có trước khi bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với tài sản (nhà ở) của chị Vũ Thị M khi Tòa án thẩm định thì nằm ngoài tường rào (tường rào có từ trước khi bà H2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Giữa bà với gia đình ông V và chị M không có tranh chấp gì về đất đai. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án cũng như phía ngân hàng khi quyết định xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất này theo quy định pháp luật.

- Ông Hà Ngọc V có quan điểm: thửa đất gia đình ông sử dụng hiện nay liền kề với thửa đất của gia đình bà Vũ Thị H2, tại thôn I, xã H, huyện V. Nguồn gốc do gia đình ông nhận chuyển nhượng của trường Trung học phổ thông H4 thanh lý cho giáo viên từ năm 1990 (thanh lý nhà đất). Gia đình ông sử dụng ổn định từ đó cho đến nay không có tranh chấp với ai. Còn thửa đất của bà H2 đang sử dụng hiện nay trước kia là của thầy giáo T2 (Trần Ngọc T2) cũng do nhà trường thanh lý, sau đó chuyển cho ông Lý Văn C rồi sau đó chuyển cho chị H2 sử dụng cho đến nay. Ranh giới đất giữa gia đình ông với gia đình thầy T2, ông C cũng như chị H2 hiện nay vẫn giữ nguyên hiện trạng như hiện nay không có thay đổi gì. Phần tường rào giáp ranh giữa hai nhà do ông xây từ năm 2002 (phần phía sau tính từ công trình phụ), còn công trình phụ và phần tường rào phía trước xây năm 2004.

Gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) năm 1990 và năm 2000 đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liến với đất (sổ hồng).

Ông khẳng định thửa đất gia đình ông sử dụng hiện nay hoản toàn đúng với hiện trạng từ khi nhận quyền sử dụng từ năm 1990 đến nay. Quả trình sử dụng không hề có tranh chấp gì với các hộ liền kề.

- Chị Vũ Thị M có quan điểm: thửa đất gia đình bà sử dụng hiện nay liền kề với thửa đất của gia đình bà Vũ Thị H2, tại thôn I, xã H, huyện V. Nguồn gốc do gia đình bà nhận chuyển nhượng của gia đình bà Châu Thị V2 từ năm 2014. Gia đình bà sử dụng ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp. Ngay sau khi mua thửa đất, vào năm 2016, gia đình bà đã xây dựng nhà ở như hiện nay là nhà tường gạch, khung bê tông, mái bằng, nhà 2,5 tầng. Thửa đất gia đình bà mua khi đó đã được giới hạn bởi bức tường rào gạch của gia đình chị H2 (bức tường này hiện nay vẫn còn) và lối đi ra phía sau nhà bà V2 (có móng bằng đá và lát gạch). Khi xây dựng nhà, gia đình bà đã xin cấp phép xây dựng và đã được UBND huyện cấp phép xây dựng, được các gia đình bà H2 và bà V2 đã ký xác nhận ranh giới.

Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình bà được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 734986; ngày 04/12/2014.

Bà khẳng định, thửa đất gia đình bà sử dụng hiện nay hoàn toàn đúng với hiện trạng khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ năm 2014 cho đến nay, đúng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình sử dụng không hề có tranh chấp gì với gia đình bà H2.

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/7/2024 thể hiện:

  • Thửa đất số 270, tờ bản đồ số 64 xã H; địa chỉ thửa đất tại thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh: về diện tích thửa đất: diện tích theo hiện trạng sử dụng là 358,9m² nhỏ hơn so với diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 17,9m²; lý do chênh lệch: phần diện tích 3,6m² là một phần mái bếp và tường rào xây của nhà ông Hà Ngọc V; phần diện tích 14,3m² là một phần nhà ở của chị M.

Tài sản gắn liền với thửa đất gồm: 01 nhà cấp 4, ba gian được xây dựng từ năm 1980, diện tích xây dựng 65,4m²; 01 nhà kho lợp mái tôn diện tích 33,6m²; 01 nhà bếp lợp tôn diện tích 56m² (bên trong có nhà vệ sinh, nhà tắm diện tích 6m²) được xây dựng từ năm 2014; phần tường bao cao khoảng 2m, có chiều dài tiếp giáp với đất của các gia đình ông T3 (M), ông M1, ông Đ; liền kề với tường bao phía Tây là một phần ngôi nhà 2,5 tầng của chị Vũ Thị M; phía Đông thửa đất (phần giáp với đất của gia đình ông V) là tường rào xây gạch, cao khoảng 1,5m và một phần nhô ra của mái nhà bếp của gia đình ông Hà Ngọc V (có sơ đồ kèm theo).

  • Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 64 diện tích 620,8m² tại địa chỉ thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; về hiện trạng thửa đất: diện tích thửa đất: 620,8m², trong đó diện tích quy hoạch đường giao thông 130,1m²; diện tích quy hoạch đất rừng sản xuất 103,4m² (hình thể thửa đất theo sơ đồ kèm theo); vị trí tiếp giáp: phía bắc giáp đất hộ ông Nguyễn Hải N và hộ bà Khổng Thị T4, phía Nam giáp đường ngõ xóm, phía Đông giáp đất hộ bà Khổng Thị T4, phía Tây giáp đất hộ ông Phạm Văn Đ; về hiện trạng tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4 lợp mái tôn kim loại diện tích 45,4m² được xây dựng từ năm 2006; 02 nhà tạm lợp mái tôn diện tích 25,3m² và 23,5m² được xây dựng từ năm 2006; phần tường rào phía trước giáp đường, xây bằng gạch cao 1m, phía trên có rào thép cao 1m dọc theo đường ngõ xóm; phần tường rào còn lại (ba mặt) được xây bằng gạch cao 1,8m.
  • Thửa đất số 142, tờ bản đồ số 65 Bản đồ địa chính xã H; địa chỉ: thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; diện tích thửa đất:278,3m²; hình thể thửa đất được thể hiện tại sơ đồ đo đạc do các đương sự chỉ dẫn kèm theo biên bản thẩm định; vị trí tiếp giáp: phía Bắc giáp đường ngõ xóm, phía Nam giáp đất gia đình ông Tô Văn Đ1, phía Đông giáp đường ngõ xóm; phía Tây giáp đất gia đình ông Điệp Văn K; về hiện trạng tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4, 01 tầng diện tích 42,6m² kết cấu xây dựng gạch vôi, mái ngói xây dựng từ năm 2000 hiện trạng đã đổ nát, tường và mái đã sập một phần (không sử dụng được) và 01 giếng nước đường kính miệng giếng 1,2m; sâu 3m. Các tài sản trên đất do chị Vũ Thị H2 quản lý, sử dụng.

Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 08/01/2025 của Toà án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Buộc Công ty TNHH Một thành viên N2 phải trả cho Công ty TNHH Một thành viên Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam tính đến hết ngày 08/01/2025 số tiền 11.759.588.802đ (Mười một tỷ bảy trăm năm mươi chín triệu năm trăm tám mươi tám nghìn tám trăm linh hai đồng), bao gồm: nợ gốc: 9.840.000.000đ; nợ lãi trong hạn 539.425.555đ; lãi quá hạn 1.327.021.234đ; lãi chậm trả lãi (trong hạn) 53.142.013đ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (09/01/2025) Công ty TNHH Một thành viên N2 còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 217/22/HĐHM-9221 ngày 29/09/2022 và phụ lục hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 01/PLHĐHMTD/217/22/HĐHM-9221 ngày 26/12/2022; các đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 07/KUNN/217/22/HĐHM-9221 ngày 28/09/2023 (LD2327106019), số 08/KUNN/217/22/HĐHM-9221 ngày 29/09/2023 (LD2327265232) số 09/KUNN/217/22/HĐHM-9221 ngày 29/09/2023 (LD2327268493) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

Trường hợp bị đơn Công ty TNHH Một thành viên N2 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nói trên thì nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên Q1 có quyền yêu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp tại các hợp đồng thế chấp số: 268/22/HĐTC–9221 và số: 22/23/HĐTC– 9221 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với chị Vũ Thị H2, cụ thể gồm các tài sản thế chấp sau:

  • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 142, tờ bản đồ số: 65, có diện tích: 278,3m² tại địa chỉ: thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 792340 do UBND huyện V cấp ngày 10/07/2017, người sử dụng đất là Vũ Thị H2.
  • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 03, tờ bản đồ số 64, diện tích 620,8m² tại địa chỉ: thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, đã được cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 023742 do UBND huyện V cấp ngày 08/01/2020, người sử dụng đất là Vũ Thị H2.
  • Quyền sử dụng 358,9 m² đất (được giới hạn bởi các điểm 3, C, D, 6, 7, 8, E, F, G, A, H, I, B, 3 thể hiện tại sơ đồ của Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng đất ngày 26/7/2024) của thửa đất số: 270, tờ bản đồ số 64 tại địa chỉ: thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, đã được cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 734988 (số vào sổ cấp GCN: CH 004159) do UBND huyện V cấp ngày 04/12/2014 mang tên chị Vũ Thị H2 và các tài sản gắn liền với quyền sử dụng diện tích 358,9 m² đất này (kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản) và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22/01/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn kháng nghị toàn bộ Bản án sơ thẩm về tố tụng, thu thập chứng cứ và nội dung theo thủ tục phúc thẩm, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm theo hướng huỷ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Tại cấp phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện V có quan điểm: Việc cấp Giấy chứng nhận cho các đương sự trong vụ án là ông Hà Ngọc V (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 230600, ngày 18/6/2020 đối với thửa 17 diện tích 275,7m² tại địa chỉ thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh); bà Vũ Thị M (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 734986, ngày 04/12/2014 đối với thửa đất số 269 tờ bản đồ số 64 tại địa chỉ: thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh) và bà Vũ Thị H2 (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 734988, do UBND huyện V cấp ngày 04/12/2014 đối với thửa đất số 270 tờ bản đồ số 64 tại địa chỉ thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh) đều đúng trình tự, thủ tục pháp luật, không trùng lấn. Trường hợp các đương sự không có tranh chấp, đồng thuận điều chỉnh lại ranh giới theo đúng hiện trạng sử dụng là quyền tự định đoạt, phù hợp với quy định của luật đất đai. Đối với thửa đất số 03 tờ bản đồ địa chính số 64 tại địa chỉ Thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh có diện tích 620,8m², diện tích quy hoạch đất rừng sản xuất 103,4m2, diện tích quy hoạch đường giao thông là 130,1m²; nhưng đến thời điểm hiện tại, chưa có thông báo thu hồi đất.

Tại cấp phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã H, huyện V vắng mặt, không có quan điểm giải quyết vụ án.

Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có quan điểm đối với tài sản thế chấp thửa đất số: 270, tờ bản đồ số 64 tại địa chỉ: thôn I, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, hiện có hiện trạng sử dụng nhỏ hơn so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, để đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ việc; Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 310 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, đề nghị hủy bản án sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 08/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn để xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

[1] Về tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, thực hiện trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng nghị và Bản án sơ thẩm:

[2.1] Về hợp đồng tín dụng:

Ngày 29/9/2022, Công ty N2 và Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (N1), Chi nhánh Q2 đã ký kết Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 217/22/HĐHM-9221. Đến ngày 26/12/2022, hai bên tiếp tục ký kết Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐHMTD/217/22/HĐHM-9221. Việc ký kết các văn bản này là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty N2 03 lần, với tổng số tiền 9.840.000.000 đồng, cụ thể như sau:

  • Lần 1: Ngày 28/9/2023, giải ngân 3.500.000.000 đồng theo văn bản “Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” số 07/KUNN/217/22/HĐHM-9221 (mã LD2327106019);
  • Lần 2: Ngày 29/9/2023, giải ngân 3.300.000.000 đồng theo văn bản số 08/KUNN/217/22/HĐHM-9221 (mã LD2327265232);
  • Lần 3: Ngày 29/9/2023, giải ngân 3.040.000.000 đồng theo văn bản số 09/KUNN/217/22/HĐHM-9221 (mã LD2327268493).

Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, Công ty N2 mới chỉ trả được 294.577 đồng, theo khế ước nhận nợ ngày 28/9/2023 (LD2327106019). Như vậy, tính đến ngày 08/01/2025, Công ty còn nợ Ngân hàng N1 tổng số tiền 11.759.588.802 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 9.840.000.000 đồng; Lãi trong hạn là 539.425.555 đồng; Lãi quá hạn là 1.327.021.234 đồng; Lãi chậm trả lãi (trong hạn) là 53.142.013 đồng.

Ngày 10/10/2024, Ngân hàng N1 đã ký Hợp đồng mua bán nợ số 1557/2024/MBN.VAMC-NCB với Công ty Q1 (VAMC). Theo quy định tại Điều 7 Thông tư 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 của Ngân hàng N3, kể từ thời điểm hợp đồng mua bán nợ có hiệu lực (tức ngày 10/10/2024), toàn bộ quyền và lợi ích gắn liền với khoản nợ và tài sản bảo đảm của N1 đối với Công ty N2, bao gồm cả các hợp đồng thế chấp giữa N1 và bà Vũ Thị H2, đều được chuyển giao cho Công ty V4. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty N2 phải trả cho Công ty Q1 tổng số tiền 11.759.588.802 đồng là có căn cứ.

Tuy nhiên, cấp sơ thẩm quyết định Công ty N2 phải trả lãi với lãi suất theo hợp đồng với tất cả các khoản phải thanh toán (gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi trong hạn) là không đúng với quy định, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

[2.2] Về tài sản thế chấp và việc xử lý tài sản thế chấp:

Về Hợp đồng thế chấp: để đảm bảo nghĩa vụ của Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 217/22/HĐHM - 9221 ngày 29/09/2022. Giữa N1 và chị Vũ Thị H2 đã ký kết hai hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số : 268/22/HĐTC-9221 số Công chứng số 4796 Quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD và số: 22/23/HĐTC-9221 số Công chứng số 539 Quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD.

Ngân hàng N1 và chị Vũ Thị H2 ký hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 26/12/2022 và ngày 16/3/2023; Bên nhận thế chấp đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V ngày 26/12/2022 và 16/3/2023 phù hợp với các quy định của Điều 119, Điều 320, Điều 298 Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013. Do đó có giá trị bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận và quy định của pháp luật.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng, Điều 299 Bộ luật Dân sự và thỏa thuận mà các bên đã ký kết trong hợp đồng thế chấp, thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn - Công ty V4 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp khi bị đơn không trả được nợ.

Về tài sản thế chấp: căn cứ vào các hợp đồng thế chấp, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và các tài liệu chứng cứ khác thì tài sản thế chấp gồm:

  • Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số: 142, tờ bản đồ số: 65, có diện tích: 278,3 m2 tài sản gắn liền với đất là tại địa chỉ: thôn H, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 792340 do UBND huyện V cấp ngày 10/07/2017 tài sản gắn liền với đất là quyền sở hữu ngôi nhà cấp 4 diện 42,6m² (nay đã hư hỏng không thể sử dụng).
  • Quyền sử dụng thửa đất số 03, tờ bản đồ số 64 xã H huyện V, diện tích 620,8m² và quyền sở hữu 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 45,4m². Đã được cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 023742 do UBND huyện V cấp ngày 08/01/2020.

Gắn liền với hai thửa đất này còn có một số tài sản như giếng nước (gắn liền với thửa đất số: 142, tờ bản đồ số: 65); 01 nhà xe diện tích 25,3m², 01 nhà tạm diện tích 23,5m² và tường rào gắn liền với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 64. Toàn bộ số tài sản gắn liền với đất này thuộc quyền sở hữu của chị Vũ Thị H2, nên được xác định là tài sản thế chấp theo quy định khoản 3 Điều 318 của Bộ luật Dân sự.

Đối với hai tài sản này, có đủ điều kiện xử lý để đảm bảo thực hiện theo nghĩa vụ của các hợp đồng tín dụng trên.

  • Đối với thửa đất số 270, tờ bản đồ số 64 xã H huyện V, có diện tích 376,8m². Đã được cấp GCNQSD đất số BP 734988 (số vào sổ cấp GCN: CH 004159) do UBND huyện V cấp ngày 04/12/2014. Gắn liền với thửa đất này có 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1980 diện tích 65.39m², 01 nhà kho lợp mái tôn diện tích 33,6m²; nhà bếp lợp tôn diện tích 56m² (có nhà vệ sinh, nhà tắm diện tích 6m²) được xây dựng từ năm 2014, mái tôn diện tích 60,2m² (34,5 + 25,4). Phần tường bao cao khoảng 2m, chiều dài dọc thửa đất tiếp giáp với gia đình ông T3, ông M1, ông Đ (từ điểm E, 8, 7, 6, D, C thể hiện tại sơ đồ của Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng đất ngày 26/7/2024). Số tài sản gắn liền với đất này thuộc quyền sở hữu của chị Vũ Thị H2, nên được xác định là tài sản thế chấp theo quy định khoản 3 Điều 318 của Bộ luật Dân sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy: trên diện tích thửa đất (thửa đất số 270) thế chấp này còn có tài sản của nhà bà M và nhà ông V, để đảm bảo giải quyết đúng đắn, toàn diện vụ án cần phải làm rõ phần diện tích đất chồng lấn giữa các hộ dân trên thuộc quyền sử dụng của ai. Nhưng, Toà án cấp sơ thẩm chưa đưa Ủy ban nhân dân huyện V và Ủy ban nhân dân xã H vào tham gia tố tụng, thu thập tài liệu chứng cứ, quan điểm của Ủy ban nhân dân huyện V và Ủy ban ban nhân dân xã H là thiếu xót.

Cấp phúc thẩm, đã bổ sung UBND huyện V và UBND xã H tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tuy nhiên, UBND xã H không tham gia và không cung cấp quan điểm giải quyết vụ án. Như vậy, việc thu thập chứng cứ và chứng minh tại cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.

Mặt khác, tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn có quan điểm không đồng ý với việc tài sản thế chấp, là quyền sử dụng thửa đất số 270 bị giảm diện tích và đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát:

[3.1] Về xác định thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại cấp sơ thẩm, sau khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thấy rằng hộ chị M và hộ ông V có sử dụng lấn vào phần đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị H2, nhưng Toà án cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân huyện V và Ủy ban nhân dân xã H vào tham gia tố tụng, thu thập quan điểm giải quyết vụ án là thiếu xót. Toà án cấp phúc thẩm đã khắc phục, nên kháng nghị này của Viện kiểm sát là có căn cứ.

[3.2] Về việc thu thập chứng cứ: việc xem xét thẩm định tại chỗ, sơ đồ đo vẽ và hồ sơ cấp giấy phép xây dựng nhà ở của gia đình chị Vũ Thị M, phần tường rào, phần nhà bếp của hộ ông V là những tài liệu cần thiết phải thu thập bổ sung. Ngoài ra, các hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng cứ quan trọng cần phải thu thập để giải quyết vụ án nhưng Toà án cấp sơ thẩm đã không thu thập là thiếu sót. Bởi lẽ, các chứng cứ này là căn cứ để giải quyết vụ án đúng đắn, khách quan, toàn diện, nên kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

[3.3] Về nội dung: Viện kiểm sát kháng nghị về việc gia đình ông Hoàng Ngọc V3 xây lấn 3,6m² đất (tường rào 2,1m² và mi mái nhà bếp 1,5m²) không phải là công trình xây kiên cố, bản án sơ thẩm không buộc gia đình ông V3 tháo dỡ phần diện tích trên là vi phạm khoản 2 Điều 266 BLTTDS. Do Toà án cấp sơ thẩm không thu thập các tài liệu chứng cứ trên, nên không có căn cứ xác định phần diện tích đất này của ai. Do đó, chấp nhận kháng nghị này của Viện kiểm sát.

Hội đồng xét xử thấy, việc thu thập chứng cứ và chứng minh tại cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, căn cứ Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và huỷ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án.

[4] Về án phí:

Về án phí sơ thẩm: Án phí sơ thẩm được giải quyết theo quy định khi vụ án được giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Viện kiểm sát không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng được xác định khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh và huỷ Bản án sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 08/01/2025 của Toà án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

Xử:

Huỷ Bản án sơ thẩm số 01/2025/KDTM-ST ngày 08/01/2025 của Toà án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được xác định khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân huyện Vân Đồn;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Vân Đồn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Phúc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/KDTM-PT ngày 26/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 03/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger