Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/KDTM-PT

Ngày 14 - 02 - 2025

Về “T/c HĐ mua bán hàng hóa”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Thương.

Các Thẩm phán: Ông Phan Hồng Phước;

Ông Trần Việt Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Khánh Duy- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2024/TLPT-KDTM ngày 31 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH C, địa chỉ: Lô B, khu công nghiệp B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: ông Phạm Đức T- Tổng Giám đốc Công ty TNHH C.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

    • + Bà Trần Nguyễn Tố U, địa chỉ: E Đường số A, cư xá C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng ủy quyền ngày 10/9/2024); vắng mặt.
    • + Ông Lê Quang V, địa chỉ: Số E, Đường số A, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng ủy quyền ngày 26/9/2024); có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Võ Ngọc T1 và bà Văn Thị Kim H, địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

    • + Ông Hoàng Đình T2, địa chỉ: Phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Văn bản ủy quyền ngày 05/7/2024); vắng mặt.
    • + Ông Trần Mạnh H1, địa chỉ: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Văn bản ủy quyền ngày 02/8/2024), có mặt.
  3. Người kháng cáo: Công ty TNHH C là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Công ty TNHH C trình bày:

Ngày 01/6/2021, Công ty TNHH C (sau đây gọi tắt Công ty) và ông Võ Ngọc T1, bà Văn Thị Kim H ký kết Hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi thuỷ sản, gia cầm và gia súc số 531110/HD-010621, quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 30/11/2021, giữa hai bên lập biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ công nợ, theo đó, ông Võ Ngọc T1, bà Văn Thị Kim H còn nợ Công ty số tiền 1.363.807.952 đồng. Sau khi đối chiếu công nợ, phía Công ty N và yêu cầu ông T1, bà H thanh toán khoản nợ nói trên nhưng ông T1, bà H không trả.

Vì vậy, Công ty khởi kiện yêu cầu ông T1 và bà H trả cho Công ty số tiền 1.363.807.952 đồng và 304.521.502 đồng tiền lãi do chậm thanh toán. Ngoài ra, công ty không trình bày gì thêm, không cung cấp thêm bất cứ tài liệu gì, việc Tòa án yêu cầu công ty cung cấp tài liệu theo thống báo số 320/CV-TA ngày 31/8/2024, công ty thấy không cần thiết nên không cung cấp, công ty yêu cầu Tòa án chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ là Biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ công nợ ngày 30/11/2021 do công ty G để buộc bà H, ông T1 trả nợ cho công ty, việc sau thời điểm ngày 30/11/2021 các bên còn mua bán hàng hóa với nhau là ngoài phạm vi yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, tại văn bản số 320/CV-TA ngày 31/8/2024, Tòa án yêu cầu công ty B để ông Trương Văn H2 và ông Đặng Văn Đ đến Tòa án để làm việc, tuy nhiên, do công ty đông người nên không xác định được ông Trương Văn H2 và ông Đặng Văn Đ là ai, do đó, không bố trí cho hai người này đến làm việc theo yêu cầu của Tòa án.

Bị đơn ông Võ Ngọc T1 và bà Văn Thị Kim H trình bày:

Quá trình hợp tác làm ăn giữa Công ty và ông T1, bà H thì hàng năm hai bên sẽ ký lại hợp đồng. Hợp đồng ngày 01/6/2021 là thực hiện việc thỏa thuận giữa các bên về việc ký kết lại hợp đồng hàng năm chứ không phải là hợp đồng được ký kết lần đầu giữa hai bên. Theo thỏa thuận, căn cứ vào số lượng hàng hóa nhập vào và văn bản cam kết hỗ trợ ngày 21/5/2020 thì hàng tháng, công ty gửi thông báo về việc chiết khấu và hỗ trợ của công ty đối với ông T1 và bà H, căn cứ vào thông báo này, hai bên sẽ ký biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ công nợ để xác định số tiền ông T1, bà H còn nợ công ty đến thời điểm ký biên bản đối chiếu là bao nhiêu. Biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ công nợ ngày 30/11/2021 mà công ty cung cấp cho Tòa án chỉ là biên bản chốt công nợ của tháng 11/2021 chứ chưa phải là công nợ cuối cùng mà ông T1, bà H còn nợ công ty, vì tháng 12/2021 ông T1, bà H còn nhập hàng của công ty, nếu chưa trừ tiền chiết khấu năm 2021 mà công ty chiết khấu cho ông T1, bà H thì công nợ cuối cùng ông T1, bà H còn nợ công ty là 1.577.659.325 đồng và 1.645.128 đồng tiền lãi chậm thanh toán.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 21/5/2020, phía Công ty đã cử ông Trương Văn H2- Giám đốc kinh doanh; ông Đặng Văn Đ- Giám đốc kỹ thuật và ông Phạm Văn H3 là nhân viên của Công ty đến làm việc với ông T1, bà H, tại phiên làm việc, phía Công ty đã cam kết hỗ trợ việc phát triển trang trại, cụ thể: Hỗ trợ 06 con heo nọc, trị giá 216.000.000 đồng/năm; giống heo thay đàn 262.500.000 đồng/năm; giống trại mới và trại cũ 675.000.000 đồng/năm; chi phí giàn lạnh 750.000.000 đồng/năm; hệ thống sát trùng tự động 100.000.000 đồng/năm; thuốc trộn cho nái 402.500.000 đồng/năm; giám sát xây dựng chuồng trại 150.000.000 đồng/năm; chi phí giàn lạnh, thiết bị làm mát của chuồng cũ 120.000.000 đồng/năm. Tổng số tiền công ty cam kết hỗ trợ là: 2.676.000.000đồng. Từ tháng 5/2020 đến tháng 12/2021, Công ty mới chi trả tiền hỗ trợ theo Biên bản cam kết ngày 21/5/2020 là 1.401.000.000đồng. Tính đến tháng 12/2021, ông T1, bà H còn nợ 1.577.659.325 đồng và 1.645.128 đồng tiền lãi chậm thanh toán.

Ngày 31/11/2022, Công ty đã chiết khấu năm 2021 cho ông T1, bà H số tiền là 327.829.592 đồng.

Sau khi đối trừ các khoản chiết khấu và hỗ trợ, tính đến ngày 28/02/2022 ông T1, bà H còn nợ 1.249.829.733 đồng, số tiền này được thể hiện tại Biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ công nợ khách hàng ngày 28/02/2022 mà Công ty đã gửi cho bà H, ông T1.

Trong khi đó, số tiền hỗ trợ còn lại mà Công ty chưa chi trả cho ông T1, bà H là 1.275.000.000đồng. Vì vậy, cấn trừ số tiền này vào khoản tiền hàng mà Công ty đã nhập cho ông T1, bà H thì công ty còn phải trả cho ông T1, bà H số tiền 12.596.595 đồng. Mặt khác, từ 24/11/2020 đến 17/3/2022, ông T1, bà H được Ngân hàng TMCP C1 cấp chứng thư bảo lãnh với số tiền 1.200.000.000đồng nhưng nguyên đơn không yêu cầu Ngân hàng chi trả, điều này càng thể hiện ông T1, bà H không còn nợ tiền của nguyên đơn.

Do đó, ông T1, bà H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện với nội dung: Công ty yêu cầu bà H, ông T1 trả cho công ty số tiền 1.249.829.733 đồng mà bà H, ông T1 thừa nhận còn nợ công ty đến ngày 28/02/2022, tuy nhiên, công ty vẫn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ công nợ ngày 30/11/2021 để giải quyết vụ án.

Với những nội dung trên,

Tại Bản án kinh doanh thương mại số 02/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 5 Điều 70; khoản 1 Điều 91; khoản 1 Điều 96; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 244; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 24 Luật thương mại; Điều 142 và Điều 430 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C về việc yêu cầu bà Văn Thị Kim H và ông Võ Ngọc T1 phải trả số tiền 1.249.829.733 đồng, theo Biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ ngày 30/11/2021 giữa Công ty TNHH C và bà Văn Thị Kim H, ông Võ Ngọc T1.
  2. Đình chỉ xét xử đối với phần rút yêu cầu của nguyên đơn với số tiền 418.499.721đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 07/10/2024, nguyên đơn Công ty TNHH C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ngày 09/01/2025, nguyên đơn thay đổi kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các khoản tiền chiết khấu, hỗ trợ theo yêu cầu của bị đơn để đối trừ công nợ nhưng không thụ lý phản tố và Tòa án sử dụng chứng cứ chiết khấu là các bản photo trong khi đó phía nguyên đơn không công nhận các tài liệu này nhưng vẫn chấp nhận yêu cầu của bị đơn để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ngày 14/02/2025, nguyên đơn thay đổi kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 1.249.829.733 đồng theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 28/02/2022.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không rút kháng cáo; nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Các Thẩm phán, Thư ký cấp phúc thẩm chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, tuyên xử buộc bà Văn Thị Kim H và ông Võ Ngọc T1 phải trả số tiền 1.249.829.733 đồng cho Công ty TNHH C.

Về án phí:

Nguyên đơn không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm; bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng mua bán số 53110/HĐ-010621 ngày 01/6/2021 về mua bán thức ăn chăn nuôi gia súc. Cả hai tổ chức đều có đăng ký kinh doanh, có mục đích lợi nhuận nên căn cứ quy định khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng xác định đây là vụ án Kinh doanh thương mại để thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp cụ thể theo hợp đồng là “Tranh chấp hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi”, tuy nhiên Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh quan hệ pháp luật lại “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

[2.1] Về thụ lý phản tố:

Ngày 04/7/2024, ông Võ Ngọc T1 và bà Văn Thị Kim H có Đơn phản tố với nội dung đã thanh toán đầy đủ số tiền phía nguyên đơn khởi kiện và còn chuyển dư số tiền 812.573.672 đồng cho nguyên đơn, kèm theo đơn phản tố là các hóa đơn, chứng từ. Ngày 19/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng ban hành Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí; ngày 02/8/2024, bị đơn ông T1, bà H có Đơn xin rút yêu cầu phản tố và Tòa án không thụ lý phản tố của bị đơn.

[2.2] Việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của vụ án:

Ngày 01/6/2021, Công ty và ông Võ Ngọc T1, bà Văn Thị Kim H ký kết Hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi thuỷ sản, gia cầm và gia súc số 531110/HD-010621, quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 30/11/2021, giữa hai bên lập biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ công nợ, theo đó, ông Võ Ngọc T1, bà Văn Thị Kim H còn nợ Công ty số tiền 1.363.807.952 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà H thừa nhận còn nợ Công ty số tiền 1.249.829.733 đồng theo Biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ công nợ ngày 28/02/2022, Công ty chấp nhận số tiền này và yêu cầu bà H, ông T1 có nghĩa vụ trả. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Đối với ý kiến của bị đơn đề nghị xem xét chính sách chiết khấu, hỗ trợ của Công ty đối với khách hàng, thấy rằng tại Điều 3 hợp đồng quy định: “3.1. Cargill sẽ thông báo với bên mua về các chính sách bán hàng và các chính sách chiết khấu, khuyến mãi hỗ trợ của mình tùy từng thời điểm Cargill điều chỉnh các chính sách theo quyền tùy nghi và quyết định của mình vào bất kỳ thời điểm nào mà không cần có thông báo trước”.

Theo quy định tại Hợp đồng, phía Công ty có quy định về chính sách chiết khấu, hỗ trợ nên bà H, ông T1 căn cứ văn bản hứa hỗ trợ ngày 21/5/2020 của ông Trương Văn H2 và ông Đặng Văn Đ và giao nộp Thông báo các khoản chiết khấu và hỗ trợ mà bà H ông T1 cho rằng đó là các Thông báo của Công ty gửi cho ông bà để yêu cầu Tòa án xem xét chấp nhận số tiền chiết khấu và hỗ trợ. Tuy nhiên, các tài liệu chứng cứ do phía bị đơn cung cấp chưa được phía Công ty xác nhận, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phúc thẩm đại diện phía Công ty không thừa nhận các chứng cứ này, do đó chưa có đủ cơ sở để xem xét.

[2.3] Thấy rằng,

nguyên đơn Công ty khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 1.249.829.733 đồng, bị đơn thừa nhận còn nợ số tiền này nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Đối với ý kiến của bị đơn yêu cầu Công ty C2, hỗ trợ theo số lượng hàng hóa mà bị đơn sử dụng thì bị đơn phải có đối chiếu, xác nhận của Công ty. Trường hợp đủ điều kiện để hưởng chiết khấu, hỗ trợ nhưng Công ty không thực hiện thì bà H có quyền khởi kiện bằng vụ án khác để yêu cầu Công ty thực hiện.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm,

nguyên đơn rút yêu cầu đối với số tiền 418.499.721 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu này là có căn cứ.

[4] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên,

Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí:

Kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền 49.494.000 đồng, cụ thể (36.000.000 đồng +3% của 449.829.733 đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.
  • - Căn cứ Điều 24 và Điều 50 Luật Thương mại.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 147; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH C. Buộc bà Văn Thị Kim H và ông Võ Ngọc T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Công ty TNHH C số tiền 1.249.829.733 (Một tỷ hai trăm bốn chín triệu, tám trăm hai chín ngàn, bảy trăm ba ba) đồng theo Biên bản đối chiếu kiêm cấn trừ công nợ ngày 28/02/2022, (Theo phần mỗi người thanh toán số tiền 624.914.866 đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C đối với số tiền 418.499.721 đồng.
  3. Về án phí:
    • Buộc bà Văn Thị Kim H và ông Võ Ngọc T1 phải chịu 49.494.000 (Bốn mươi chín triệu, bốn trăm chín tư ngàn) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    • Hoàn trả cho Công ty TNHH C số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 31.025.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000192 ngày 05/6/2024 và số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000263 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - TAND huyện Hải Lăng;
  • - Chi cục THADS h Hải Lăng;
  • - VKSND huyện Hải Lăng;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV;
  • - Tổ HCTP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Kim Thương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán thành viên

Thẩm phán- Chủ tọa

Phan Hồng Phước Trần Việt Trung Đoàn Thị Kim T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/KDTM-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 03/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án kinh doanh thương mại giữa nguyên đơn Công ty Cargill và bị đơn ông Võ Ngọc Thanh, bà Văn Thị Kim Hiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger