Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/KDTM-PT

Ngày 19 - 6 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân

Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà và bà Nguyễn Thị Minh Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 02/2025/TLPT-KDTM ngày 16 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, do bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 08/2024/KDTM-ST ngày 20/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 50/2025/QĐ-PT ngày 12/5/2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án số 15/2025/TB-TA ngày 20/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần M;

    Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I, D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T – Giám đốc;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1 – Trưởng phòng xử lý nợ miền B;

    Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Đào Duy H – Chuyên viên xử lý nợ.

    (Có mặt).

  2. Bị đơn:

    2.1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1960. (Có mặt);

    Nơi cư trú: Số nhà D, ngõ A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    2.2. Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1963. (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

    Nơi cư trú: Số nhà D, ngõ A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    3.1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1983. (Có mặt);

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà D, ngõ A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    Chỗ ở hiện nay: Số nhà E, đường số E, tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    3.2. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1986 và chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1993. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

    Đều cư trú tại: Số nhà D, ngõ A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Tại Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - Công ty cổ phần M, người đại diện theo ủy quyền lại là ông Đào Duy H trình bày: Theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2023/VPB-MARS ngày 30/12/2023 và phụ lục kèm theo giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1) với Công ty cổ phần M (trước đây là Công ty TNHH MTV M) thì V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M cũng đồng ý mua các khoản nợ của khách hàng là bà Phạm Thị T2 và ông Nguyễn Văn D, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác phát sinh theo Hợp đồng tín dụng/ Hợp đồng cho vay mà bà Phạm Thị T2 và ông Nguyễn Văn D đã ký với V1. Cụ thể: Ngày 06/01/2022, V1 và bà Phạm Thị T2, ông Nguyễn Văn D ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112274975195, theo đó, V1 đồng ý cho bà T2, ông D vay số tiền 1.780.000.000 đồng, mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh đồ khô, gia vị; Thời hạn cho vay: 12 tháng tính từ ngày giải ngân; Lãi suất áp dụng: 12,5%/năm, mức lãi suất này sẽ được cố định 01 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn cố định, lãi suất cho vay sẽ điều chỉnh 01 tháng/01 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, mức điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng của bên Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 3,7%/năm; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn.

    Tài sản đảm bảo cho khoản vay: Theo Hợp đồng thế chấp số 106 ngày 06/01/2022, tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất thửa đất số 93, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Số D, ngõ A, đường N, tổ B (tổ 03 cũ), phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (đã được UBND thành phố T, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri BN 901126, số vào sổ CH 03279 ngày 06/8/2019 cho ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2). Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà T2 ông D đã trả được số tiền 55.448.887 đồng (trả lãi). Ngày 15/7/2023, bà T2, ông D vi phạm nghĩa vụ trả nợ và chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 15/7/2023 theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng. Tính đến ngày 07/6/2024, số tiền bà T2 ông D còn nợ là 2.219.771.843 đồng (nợ gốc 1.780.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 136.295.939 đồng, nợ lãi quá hạn 276.665.832 đồng, nợ lãi chậm trả 26.810.072 đồng).

    Công ty cổ phần M khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:

    • Yêu cầu ông D, bà T2 phải thanh toán cho Công ty cổ phần M toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ và các văn bản tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 07/6/2024 là 2.219.771.843 đồng (nợ gốc 1.780.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 136.295.939 đồng, nợ lãi quá hạn 276.665.832 đồng, nợ lãi chậm trả 26.810.072 đồng).

    • Đề nghị Tòa án cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến ngày ông D, bà T2 thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty cổ phần M.

    • Kể từ ngày Bản án Quyết định có hiệu lực pháp luật mà ông D, bà T2 không trả nợ đầy đủ cho Công ty, Công ty có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

    • Ngày 15/12/2024, Công ty cổ phần M rút yêu cầu buộc ông D, bà T2 phải thanh toán lãi chậm trả đối với khoản nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112274975195, Khế ước nhận nợ ký kết giữa V2 và ông D, bà T2.

  2. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26/7/2024, bị đơn - ông Nguyễn Văn D trình bày như sau: Ngày 06/01/2022 ông và vợ là bà Phạm Thị T2 có ký kết Hợp đồng tín dụng số LN 2112274975195 với Ngân hàng TMCP V chi nhánh T3, hạn mức vay 1.780.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, hợp đồng còn thỏa thuận về lãi suất vay và các vấn đề khác. Ngân hàng đã giải ngân số tiền 1.780.000.000 đồng, lãi suất 12,5%/năm, thời hạn vay 12 tháng, khế ước nhận nợ ngày 25/10/2022. Để đảm bảo cho khoản vay trên, vợ chồng ông đã ký kết Hợp đồng thế chấp số 106 ngày 06/01/2022 với V1, tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 93, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: Số nhà D, ngõ A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T. Đất vợ chồng ông đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 03279 ngày 06/8/2019. Thực tế, khoản vay 1.780.000.000 đồng tại V1 chủ yếu để cho con trai ông là Nguyễn Văn C kinh doanh buôn bán. Do tình hình kinh doanh của anh C gặp nhiều khó khăn, vợ chồng ông đều đã cao tuổi nên không thể trả nợ cho ngân hàng theo đúng thỏa thuận. Đến thời điểm hiện tại, ngân hàng chuyển giao quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay hạn mức số LN 2112274975195 và các khế ước nhận nợ ký giữa vợ chồng ông với ngân hàng cho Công ty cổ phần M, ông nhất trí. Công ty M khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải thanh toán toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi chậm trả theo hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ với số tiền tạm tính đến ngày 30/3/2024 là 2.151.313.340 đồng, trường hợp vợ chồng ông không trả được nợ thì công ty có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản vợ chồng ông đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 106 ngày 06/01/2022, ông nhất trí. Ông đề nghị Công ty cổ phần M tạo điều kiện để gia đình ông tự bán tài sản thế chấp để trả nợ công ty. Ông D sẽ ủy quyền cho con trai ông là Nguyễn Văn C tham gia tố tụng và quyết định mọi vấn đề liên quan đến vụ án dân sự thụ lý số 07/2024/TLST-KDTM ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình. Tại biên bản tống đạt ngày 04/8/2024 tại Trại giam T4, ông D có ý kiến: Nhà mái bằng 01 tầng và nhà 04 tầng thuộc sở hữu của vợ chồng ông và hai người con trai. Ngoài ra, ông không có tài sản và bất động sản nào khác. Quá trình sinh sống không ai đóng góp tu sửa trên đất và cũng không có biến động tăng thêm diện tích. Tại Bản tự khai ngày 22/11/2024, ông D trình bày ông không biết tài sản thế chấp chỉ là quyền sử dụng đất hay cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 7, tổ B, phường T, thành phố T.

    Bị đơn bà Phạm Thị T2 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không nộp văn bản ghi ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn C1, chị Nguyễn Thị X vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không nộp văn bản ghi ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bản án số 08/2024/KDTM-ST ngày 20/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 121, Điều 122, Điều 123, Điều 124, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 322, Điều 323, Điều 325, Điều 351, Điều 352, Điều 353, Điều 355, Điều 416, Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2011, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 21, Điều 27 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 4, Điều 10 và Điều 12 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    1. Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2 phải thanh toán cho Công ty cổ phần M số tiền tính đến hết ngày 20/12/2024 là 2.365.012.182 đồng (bằng chữ: Hai tỷ ba trăm sáu mươi lăm triệu không trăm mười hai nghìn một trăm tám mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 1.780.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 136.295.939 đồng; Nợ lãi quá hạn là 448.716.243 đồng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số LN 2112274975195 ngày 06/01/2022, Khế ước nhận nợ ký kết giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2.

      Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/12/2024), ông D, bà T2 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà ông D, bà T2 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

    2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông D, bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thửa đất số 93, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Số D, ngõ A, đường N, tổ B (tổ 03 cũ), phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Đất đã được UBND thành phố T, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri BN 901126, số vào sổ CH032, số vào sổ CH03279 ngày 06/8/2019 cho ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2) để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông D, bà T2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty cổ phần M.

  2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2 trả lãi phát sinh trên lãi chậm trả đối với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số LN 2112274975195 ngày 06/01/2022, Khế ước nhận nợ ký kết giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/01/2025 và ngày 18/3/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn C kháng cáo nội dung như sau: Tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 93, tờ bản đồ số 7, địa chỉ thửa đất: Số D, ngõ A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T. Tuy nhiên, trên đất có 01 nhà mái bằng 04 tầng do anh C xây dựng còn 01 nhà mái bằng 01 tầng do anh C, anh C1, chị X cải tạo, sửa chữa và nâng cấp các hạng mục khác nên tài sản trên đất không thuộc tài sản của bố, mẹ anh (ông D, bà T2). Anh C đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không tuyên Ngân hàng được quyền phát mại tài sản là 02 ngôi nhà nêu trên.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày lý do tại Hợp đồng thế chấp số 106 ngày 06/01/2022, ông D và bà T2 chỉ thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 93 mà không thế chấp tài sản là nhà trên đất là vì nhà do ông D, bà T2 xây dựng trái phép.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn D trình bày: Ông và vợ là bà Phạm Thị T2 có khoản nợ vay tại V1 từ năm 2022 với số nợ như Công ty cổ phần M trình bày. Đến nay vợ chồng ông chưa có khả năng thanh toán. Ông đồng ý Công ty cổ phần M khởi kiện đòi nợ vợ chồng ông về khoản nợ này. Tuy nhiên, do ông chấp hành án tại trại giam đến nay vừa được ra trại, công việc làm ăn của anh C lại gặp khó khăn nên ông đề nghị Công ty cổ phần M tạo điều kiện cho vợ chồng ông được trả nợ dần, ông đề nghị Công ty không phát mại tài sản trên đất để gia đình ông có chỗ ở.

Tại phiên toà phúc thẩm, anh C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: 01 nhà mái bằng 04 tầng và 01 nhà mái bằng 01 tầng đều xây trên thửa đất số 93, tờ bản đồ số 7, địa chỉ thửa đất: Số D, ngõ A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T là do anh và vợ chồng anh C1 – chị X xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp nên tài sản trên đất không phải là tài sản chung của ông D, bà T2. Tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 106 ngày 06/01/2022, ký kết giữa V1 với ông D, bà T2 thể hiện ông D, bà T2 chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản trên đất. Hiện nay ông D và bà T2 đã già, kinh tế rất khó khăn, anh đề nghị Công ty cổ phần M tạo điều kiện cho ông D và bà T2 được trả dần nợ gốc của Hợp đồng tín dụng ký kết giữa ông D, bà T2 và V1, anh đề nghị Công ty miễn nợ lãi cho ông D và bà T2. Anh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần M về việc phát mại tài sản là 02 ngôi nhà nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh C, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2024/KDTM-ST ngày 20/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:

    1. [1.1]. Về thời hạn kháng cáo. Ngày 22/01/2025 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình nhận được Đơn kháng cáo đề ngày 21/01/2025 của người có quyền lợi, nghĩa liên quan là anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn C1 và chị Nguyễn Thị X. Tuy nhiên, Đ kháng cáo không hợp lệ nên tại Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo số 01/TB-TA ngày 13/3/2025, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình yêu cầu anh C, anh C1, chị X sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo. Ngày 20/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình nhận được đơn kháng cáo đề ngày 18/3/2025 của anh C, anh C1 và chị X. Ngày 21/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình gửi Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho anh C, anh C1 và chị X. Hết thời hạn theo quy định, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình chỉ nhận được Biên lai nộp tạm ứng án phí phúc thẩm của anh C, không nhận được Biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm của anh C1 và chị X nên Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đã trả lại đơn kháng cáo cho anh C1, chị X. Xét kháng cáo của anh C là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

    2. [1.2] Về sự có mặt của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn; bị đơn là ông D và người kháng cáo có mặt, bị đơn bà Phạm Thị T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh C1, chị X đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Sự có mặt, vắng mặt của các đương sự phù hợp với Điều 294 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. [2] Về nội dung:

    1. [2.1] Xét Hợp đồng thế chấp số 106 ngày 06/01/2022 được ký kết giữa V1 và ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2 thì thấy tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Số D, ngõ A, đường N, tổ B (tổ 03 cũ), phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri BN 901126, số vào sổ CH03279 do UBND thành phố T, tỉnh Thái Bình cấp ngày 06/8/2019 cho ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị T2. Việc các bên ký kết Hợp đồng thế chấp này là để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng vay vốn tín dụng đầu tư số LN 2112274975195, ngày 06/01/2022 được ký kết giữa V1 và ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2. Nội dung của Hợp đồng bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ hiện tại và trong tương lai của các bên, Hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm, phù hợp với các quy định tại các Điều 292, 298, Điều 299 Bộ luật Dân sự, không trái đạo đức xã hội nên Hợp đồng thế chấp hợp pháp, có hiệu lực.

    2. [2.2] Xét, Hợp đồng mua bán nợ số 03/2023/VPB-MARS ngày 30/12/2023 và phụ lục kèm theo giữa V1 với Công ty cổ phần M (trước đây là Công ty TNHH MTV M) có nội dung: V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M đồng ý mua các khoản nợ của bà Phạm Thị T2 và ông Nguyễn Văn D, bao gồm: Các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác phát sinh theo Hợp đồng tín dụng. Hợp đồng do người có thẩm quyền của V1 và Công ty cổ phần M ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp pháp luật nên Hợp đồng có hiệu lực.

    3. [2.3] Từ những căn cứ trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng thế chấp số 106 ngày 06/01/2022 được ký kết giữa V1 và ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2 và Hợp đồng mua bán nợ số 03/2023/VPB-MARS ngày 30/12/2023 và phụ lục kèm theo giữa V1 với Công ty cổ phần M đều có hiệu lực là đúng pháp luật.

  3. [3] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn C thì thấy:

    1. [3.1] Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng vay vốn tín dụng đầu tư số LN 2112274975195, ngày 06/01/2022, thì ngày 06/01/2022 ông D và bà T2 đã ký kết với V1 Hợp đồng thế chấp số 106 ngày 06/01/2022, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Số D, ngõ A, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ngày 07/8/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, xác định: Trên quyền sử dụng đất thế chấp còn có các tài sản gồm 01 nhà mái bằng 01 tầng và 01 nhà 04 tầng. Tại Hợp đồng thế chấp, ông D, bà T2 đã cam kết với ngân hàng rằng các công trình xây dựng trên đất gồm: Loại công trình: CT1: Nhà BTCT 04 tầng, CT2: nhà mái bằng 01 tầng; diện tích sử dụng: 230m²; diện tích sàn: 60m²; số tầng: 04 tầng, thuộc quyền sở hữu riêng của bên thế chấp (ông D bà T2) và không liên quan tới quyền sở hữu, sử dụng hay công sức, tài sản đóng góp của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khác. Bên thế chấp đồng ý và thừa nhận rằng toàn bộ tài sản trên đất cũng là tài sản thế chấp tại bên ngân hàng. Trường hợp bên ngân hàng xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo quy định tại hợp đồng thế chấp, bên ngân hàng được quyền bán, xử lý đồng thời toàn bộ tài sản trên đất và các công trình xây dựng khác gắn với tài sản thế chấp tại thời điểm xử lý. Điều này cho thấy ông D, bà T2 khẳng định nhà đất trên thuộc quyền sở hữu, định đoạt của ông D và bà T2 và đồng ý ngân hàng có quyền bán để xử lý nợ. Mặc dù, anh C trình bày năm 2012 khi ông D chấp hành án tại trại giam, anh ở nhà xây dựng 01 nhà 04 tầng, đến năm 2018 anh và vợ chồng anh C1, chị X sửa chữa, nâng cấp nhà cũ của ông D và bà T2 thành nhà mái bằng 01 tầng nên các tài sản trên đất này thuộc quyền sở hữu của anh và vợ chồng anh C1, chị X, không phải là tài sản chung của ông D và bà T2 thì thấy ông D đi chấp hành án phạt tù vào năm 2014, không phải năm 2012; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới chứng minh rằng các tài sản này thuộc quyền sử dụng chung của anh C, anh C1, chị X.

    2. [3.2] Căn cứ khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “1. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Án lệ số 11/2017/AL có nội dung: “... Trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật ...; Trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng)”. Nội dung của vụ án này phù hợp với nội dung của Án lệ số 11/2017/AL.

    3. [3.3] Từ các căn cứ nêu trên thì thấy mặc dù Hợp đồng thế chấp số 106 ngày 06/01/2022, ông D, bà T2 chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất thì VPBank/ Công ty cổ phần M vẫn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 93 và toàn bộ tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất để thu hồi nợ nhưng dành cho chủ sở hữu nhà trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu. Bản án sơ thẩm không tuyên cho chủ sở hữu nhà trên đất được quyền ưu tiên này là thiếu sót nên Toà án cấp phúc thẩm cần sửa về cách tuyên phần quyết định của bản án sơ thẩm. Do đó, kháng cáo của anh C không có căn cứ chấp nhận.

  4. [4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh C phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Án lệ số 11/2017/AL.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn C, giữ nguyên quyết định của Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 121, Điều 122, Điều 123, Điều 124, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 322, Điều 323, Điều 325, Điều 351, Điều 352, Điều 353, Điều 355, Điều 416, Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2011, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 21, Điều 27 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 4, Điều 10 và Điều 12 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    1. Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2 phải thanh toán cho Công ty cổ phần M số tiền tính đến hết ngày 20/12/2024 là 2.365.012.182 đồng (bằng chữ: Hai tỷ ba trăm sáu mươi lăm triệu không trăm mười hai nghìn một trăm tám mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 1.780.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 136.295.939 đồng; Nợ lãi quá hạn là 448.716.243 đồng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số LN 2112274975195 ngày 06/01/2022, Khế ước nhận nợ ký kết giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2.

      Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/12/2024), ông D, bà T2 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà ông D, bà T2 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

    2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông D, bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thửa đất số 93, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Số D, ngõ A, đường N, tổ B (tổ 03 cũ), phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Đất đã được UBND thành phố T, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri BN 901126, số vào sổ CH03279 ngày 06/8/2019 cho ông Nguyễn Văn D, bà Phạm Thị T2) để thu hồi nợ, nhưng dành cho chủ sở hữu nhà trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu.

      Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông D, bà T2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty cổ phần M.

  2. Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Chuyển số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh C đã nộp theo biên lai thu số 0000116 ngày 31/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí phúc thẩm cho anh C.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 19/6/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HC-TP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/KDTM-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 03/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng Công ty M - D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger