|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/KDTM-PT
Ngày 18-3-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ
Ông Trịnh Hoàng Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Trứ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên
Trong các ngày 11 và 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 19/2024/TLPT-KDTM ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/KDTM-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5;
Địa chỉ: A khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Quốc T - Chức vụ: Chủ tịch kiêm giám đốc Công ty.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy T1, sinh năm 1974- Nhân viên công ty (có mặt);
Địa chỉ: 6, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
-
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D2 (Nay là Công ty TNHH T6);
Địa chỉ: Số B, đường N, tổ H, khu phố Q, phường P, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân D - Chức vụ: Giám đốc công ty (có mặt);
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
-Công ty Trách nhiệm hữu hạn T7;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Vân T2 - Giám đốc Công ty.
Địa chỉ: Tổ H, đường I, khu phố ông T3, phường T, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bồ Thanh Q, sinh năm 1973 (có mặt);
Địa chỉ: Số C, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1962 (có mặt);
Địa chỉ: Số B N, phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày:
Ngày 01/09/2022, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 (sau đây gọi tắt là Công ty T5) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn D2 (sau đây gọi tắt là Công ty D2) ký kết hợp đồng nguyên tắc về việc cung cấp xe cuốc, xe xúc làm hàng nông sản hạt, xá (Hợp đồng số 010922-01/HDNT/SP-QTP ngày 01/9/2022) để thực hiện việc dịch vụ đánh tẩy, dọn hầm tàu và vận chuyển hàng nông sản từ cảng vào kho bằng xe cơ giới như xe cuốc, xe xúc lật.
Đơn giá dịch vụ theo Điều 2 của Hợp đồng gửi kèm.
Phương thức thanh toán là sau khi đánh tẩy xong hầm tàu, hai bên cùng nhau đối chiếu sản lượng, khi đã thống nhất thì bên A (công ty D2) xác nhận vào bảng tổng kết sản lượng dịch vụ thực hiện, khi đó bên B (công ty T5) cung cấp hóa đơn giá trị gia tăng cho bên A. Bên A thanh toán toàn bộ chi phí dịch vụ cho bên B trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận hóa đơn và chứng từ thanh toán của bên B.
Từ ngày 01/09/2022 đến ngày 10/11/2022 Công ty T5 đã thực hiện hai đợt hàng, sau khi xác nhận và tổng kết số lượng dịch vụ thực hiện (Biên bản do Công ty D2 giữ), Công ty T5 xuất hóa đơn cho Công ty D2, nhưng Công ty D2 không thanh toán cho Công ty T5. Cụ thể:
Đợt 1: Ngày 11/11/2022, Công ty T5 xuất hóa đơn số 38 với tổng số tiền 150.683.054 đồng (Một trăm năm mươi triệu, sáu trăm tám mươi ba nghìn, không trăm năm mươi bốn đồng).
Đợt 2: Ngày 16/12/2022 Công ty T5 xuất hóa đơn số 43 với tổng số tiền 31.008.096 đồng (Ba mươi mốt triệu, không trăm lẻ tám nghìn, không trăm chín mươi sáu đồng).
Đến nay, Công ty D2 vẫn không thanh toán các hóa đơn trên cho Công ty T5.
Vì vậy, Công ty T5 yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
-
Buộc Công ty D2 (Nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6) (sau đây gọi tắt là công ty T6) thanh toán cho Công ty T5 số tiền dịch vụ còn nợ là 181.691.150 đồng (một trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn, một trăm năm mươi đồng).
-
Buộc Công ty D2 (Nay là Công ty T6) thanh toán cho Công ty T5 số tiền lãi chậm thanh toán là 37.922.543 đồng (Ba mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi hai nghìn, năm trăm bốn mươi ba đồng) được tính từ 11/12/2022 đến ngày 12/9/2024 theo mức lãi suất trung bình tạm tính là 12%/năm (Căn cứ Điều 306 Luật Thương Mại 2005; Điều 11 Nghị quyết 01/2019Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao).
Tổng cộng, công ty T5 yêu cầu Tòa án buộc Công ty D2 (Nay là Công ty T6) thanh toán cho Công ty T5 tổng số tiền là 219.613.693 đồng (Hai trăm mười chín triệu, sáu trăm mười ba nghìn, sáu trăm chín mươi ba đồng). Đồng thời buộc Công ty D2 (Nay là Công ty T6) tiếp tục phải chịu lãi chậm thanh toán cho Công ty T5 cho đến khi thanh toán hết nợ.
[2] Bị đơn Công ty D2 (Nay là Công ty T6) trình bày:
Khoảng năm 2023, ông Trần Hoàng D1 có nhận chuyển nhượng lại toàn bộ Công ty D2. Cụ thể ngày 17/12/2023, Công ty D2 đã họp và ký chuyển nhượng toàn bộ Công ty D2 cho ông D1. Đến ngày 20/12/2023 thì ông D1 chính thức chuyển đổi giấy phép kinh doanh đổi tên Công ty T6 và hoạt động từ đó đến nay. Ông D1 xác nhận khi nhận chuyển nhượng Công ty thì nhận chuyển giao toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ.
Đối với hợp đồng nguyên tắc về việc cung cấp xe cuốc, xe xúc làm hàng nông sản hạt, xá (Hợp đồng số 010922-01/HDNT/SP-QTP ngày 01/9/2022) mà Công ty T5 đã ký kết với Công ty D2 là ký kết với Công ty cũ, Công ty mới hoàn toàn không ký kết hợp đồng này.
Đối với Hóa đơn số 38 ngày 11/11/2022, số tiền 150.683.054 đồng, nội dung là: Dịch vụ đánh tẩy hàng tàu ASL URANUS tại cảng SP PSA từ ngày 30/10/2022 đến ngày 04/11/2022 và Hóa đơn số 43 ngày 16/12/2022, số tiền 31.008.096 đồng, nội dung là: Dịch vụ đánh tẩy hàng gỗ viên nén tàu REIWA CENTURY tại cảng SP PSA từ ngày 03/12/2022 đến ngày 06/12/2022 thì Công ty mới của ông D1 hoàn toàn không nhận được hai hóa đơn này.
Trong quá trình hoạt động được một thời gian thì Công ty mới của ông D1 mới nhận được hai Hóa đơn của Công ty T5 cụ thể:
-
Hóa đơn số 38 ngày 11/11/2022, số tiền là 150.683.054 đồng, nội dung là: Dịch vụ đánh tẩy hàng tàu ASL URANUS tại cảng SP PSA từ ngày 30/10/2022 đến ngày 04/11/2022 và Hóa đơn số 43 ngày 16/12/2022, số tiền 31.008.096 đồng, nội dung là: Dịch vụ đánh tẩy hàng gỗ viên nén tàu REIWA CENTURY tại cảng SP PSA từ ngày 03/12/2022 đến ngày 06/12/2022.
Sau khi nhận hai hóa đơn này, với cơ sở kế thừa của Công ty D2 cũ, Công ty mới đã chỉ định các bộ phận khai thác xếp dỡ kiểm tra lại xem có đúng hay không thì nhận thấy không đúng với thực tế phát sinh, do Công ty có ký hợp đồng với nhiều nhà thầu phụ khác nhau. Cụ thể các dịch vụ trên đã được thực hiện bởi Công ty trách nhiệm hữu hạn T7 (sau đây gọi tắt là công ty T7), theo Hợp đồng nguyên tắc số 171122-01/HDNT/SP-TQT ngày 17/11/2022 mà Công ty D2 đã ký với Công ty T7.
-
Hóa đơn số 07 ngày 30/12/2022, số tiền 150.683.054 đồng, nội dung là: Dịch vụ đánh tẩy hàng tàu ASL URANUS từ ngày 30/10/2022 đến ngày 04/11/2022.
-
Hóa đơn số 08 ngày 30/12/2022, số tiền 31.008.096 đồng, nội dung là: Dịch vụ đánh tẩy tàu REIWA CENTURY từ ngày 03/12/2022 đến ngày 06/12/2022.
Công ty D2 (Nay là Công ty T6) đã thanh toán hết số tiền dịch vụ trên cho Công ty T7 vào ngày 04/01/2023 và ngày 17/01/2023. Như vậy hai hóa đơn số 38 và 43 của Công ty T5 đã được Công ty D2 thanh toán cho Công ty T7 vì Công ty D2 ký hợp đồng đồng thời với hai công ty, khi phát sinh việc, hai Công ty xuất hóa đơn cho cùng một công việc, rà soát lại thì bên thi công báo đây là do Công ty T7 thực hiện. Do đó Công ty D2 (Nay là Công ty T6) đã không ký tên và đóng dấu xác nhận thực hiện dịch vụ trên.
Căn cứ tại Khoản 2, Điều II “Phương thức thanh toán” của hợp đồng nguyên tắc số 010922-01/HDNT/SP-QTP ký ngày 01/09/2022 thì Công ty D2 (Nay là Công ty T6) không phải thanh toán số tiền phát sinh như trên. Công ty D2 (Nay là Công ty T6) cũng không kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng mua vào, không hạch toán chi phí khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2022, của hai hóa đơn trên (Hoá đơn số 38 & số 43).
Như vậy, việc Công ty T5 khởi kiện yêu cầu công ty D2 (Nay là Công ty T6) thanh toán số tiền dịch vụ là 181.691.150 đồng và tiền lãi phát sinh của số tiền này là không có cơ sở theo quy định pháp luật.
[3] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :
3.1. Công ty T7 trình bày:
Thực tế Công ty T5 là do ông Bồ Thanh Q thành lập từ tháng 7 năm 2022 nhưng để cho ông Trịnh Quốc T đứng tên giấy phép đăng ký hoạt động kinh doanh. Tất cả mọi hoạt động của công ty đều do ông Q điều hành, mọi hợp đồng và mọi hoạt động làm ăn đều do ông Q đứng ra làm, ông T chỉ đứng tên trên mặt giấy tờ.
Công ty hoạt động được khoảng 05 tháng, do ông T bê bối trong các vụ làm ăn, không trả lương cho nhân công, tự ý điều xe làm việc riêng, tiền thu về không rõ ràng, không chia lợi nhuận sòng phẳng nên ông Q đã bỏ Công ty T5 để cho ông T tự hoạt động điều hành. Ông Q đã ra làm việc với Công ty T7.
Ông Q xác định khi thấy ông T quá bê bối trong các vụ làm ăn nên ông Q đã báo với ông T là cắt hết mọi hợp đồng, ông Q sẽ tách riêng để làm riêng. Những hợp đồng đã ký kết và hoàn thiện xong thì ông T không được xuất hoá đơn nữa.
Sau đó, ông Q đã qua làm cho Công ty T7 và giữa Công ty T7 với Công ty D2 đã ký lại Hợp đồng nguyên tắc số 171122-01/HĐNT/SP-TQT ngày 17/11/2022. Công ty T7 đã xuất hai hoá đơn số 07 và số 08 ngày 30/12/2022. Công ty D2 đã thanh toán đầy đủ cho Công ty T7. Ông Q xác nhận sau khi nhận được tiền này, ông Q đã thanh toán chi phí nhân công, tiền dầu nhớt, thuế ... xử lý tất cả các bê bối do ông Trịnh Quốc T gây ra. Ngoài ra, ông Q còn phải bỏ thêm tiền cá nhân của mình ra để xử lý.
Hóa đơn số 43 ngày 16/12/2022 và hóa đơn số 38 ngày 11/11/2022 do Công ty T5 xuất cho Công ty D2 là do ông T cố tình, ông Q đã yêu cầu ông T hủy hai Hoá đơn này nhưng ông T không hủy mà dùng để đi khởi kiện Công ty D2.
Nay nếu Công ty T5 khởi kiện thì ông Q đồng ý hỗ trợ cho ông T 10% hoá đơn giá trị gia tăng. Ông Q đề nghị Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ để giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
3.2. Ông Nguyễn Quốc T4 trình bày :
Ông Nguyễn Quốc T4 là người đại diện theo pháp luật của công ty Trách nhiệm hữu hạn D2 cũ. Giữa ông và ông Bồ Thanh Q có hợp đồng cung cấp dịch vụ xe cơ giới cho bên công ty ông. Ông Q là người thực hiện một phần công việc cho công ty ông T4. Sau khi thực hiện xong công việc, ông Q là người xuất hoá đơn thì phía Công ty ông T4 mới kiểm tra đối chiếu các bên và thanh toán theo hoá đơn mà ông Q đã xuất.
Về hợp đồng nguyên tắc ngày 01/9/2022 là do ông Q gửi tới và ông T4 đã ký vào Hợp đồng này theo các công việc mà bên ông T4 yêu cầu ông Q làm. Sau này ông Q có báo với ông T4 là ông Q sẽ xuất hoá đơn với tên Công ty T7, nên sẽ huỷ bỏ hợp đồng nguyên tắc cũ.
Ông T4 xác định ông T4 không hề biết ông Trịnh Quốc T, giám đốc Công ty T5 là ai.
Về hợp đồng nguyên tắc thì cùng một công việc đó có thể ký với nhiều nhà thầu khác nhau, và nó chỉ là hợp đồng ghi nhớ. Nhà thầu nào làm thì nhà thầu đó sẽ xuất hoá đơn và sẽ thanh toán cho nhà thầu đó. Có thể khi nhà thầu này đang thực hiện công việc mà thực hiện không tốt thì sẽ tự huỷ bỏ, nhà thầu khác sẽ tiếp tục vào làm theo ý kiến của C và chủ hàng đề nghị.
Ông T xác nhận đối với hai hoá đơn số 07 và 08, ông Bồ Thanh Q là người trực tiếp làm và ông Q là người đề nghị xuất hoá đơn nên công ty D2 đã thanh toán đầy đủ theo yêu cầu của ông Q.
Ông T xác nhận ông không nhận hai hoá đơn số 38 và 43 của Công ty T5 vì ông T không biết công ty Quang Tuấn P là ai. Ông T chỉ biết ông Bồ Thanh Q là người thực hiện công việc nên Công ty ông chỉ thanh toán theo hoá đơn thực tế mà ông Q đã xuất.
Vì thế theo quan điểm của ông T, Công ty T5 khởi kiện công ty D2 là không có cơ sở. Ông T đề nghị Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ để giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/KDTM-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” với Công ty Trách nhiệm hữu hạn D2 (nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6) về yêu cầu thanh toán số tiền dịch vụ còn nợ là 181.691.150 đồng (một trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn, một trăm năm mươi đồng), tiền lãi chậm thanh toán 37.922.543 đồng (Ba mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi hai nghìn, năm trăm bốn mươi ba đồng); lãi chậm thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04-10-2024, nguyên đơn Công ty T5 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại cấp phúc thẩm:
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc đòi tiền lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất trung bình và tiền lãi chậm thanh toán tiếp theo cho đến khi trả xong nợ, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
-Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 299 và Điều 311; Khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn:
Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi bị đơn trả tiền lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất trung bình và tiền lãi chậm thanh toán tiếp theo cho đến khi trả xong nợ.
Ghi nhận sự tự nguyện của công ty T7 về việc hỗ trợ cho công ty T5 8% thuế suất giá trị gia tăng trên hóa đơn giá trị gia tăng số 38 ngày 11-11-2022 là số tiền 11.161.708 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc đòi tiền lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất trung bình và tiền lãi chậm thanh toán tiếp theo cho đến khi trả xong nợ. Việc rút phần yêu cầu này của nguyên đơn được bị đơn đồng ý. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 299 và Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Nguyên đơn yêu cầu thanh toán số tiền dịch vụ mà bị đơn còn nợ là 181.691.150 đồng theo hai hóa đơn số 38 ngày 11-11-2022 (số tiền 150.683.054 đồng) và số 43 ngày 16-12-2022 (số tiền 31.008.096 đồng).
Quá trình tố tụng các đương sự đều thừa nhận giữa Công ty T5 và Công ty D2 có ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 010922-01/HDNT/SP-QTP 01-9-2022, theo đó công ty D2 thuê công ty T5 thực hiện dịch vụ đánh tẩy dọn hầm tàu và vận chuyển hàng từ cầu cảng vào cầu kho. Sau khi thực hiện xong công việc thì hai bên cùng nhau đối chiếu sản lượng, khi đã thống nhất thì công ty D2 xác nhận vào bảng tổng kết sản lượng dịch vụ thực hiện, công ty T5 cung cấp hóa đơn giá trị gia tăng cho công ty D2, công ty D2 phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ chi phí dịch vụ cho công ty T5 trong vòng 30 ngày kể từ ngày công ty D2 nhận hóa đơn và chứng từ thanh toán cho công ty T5.
Theo công ty T5 thì đã thực hiện công việc, lập bảng kê chi tiết khối lượng dịch vụ và xuất hóa đơn số 38 (thời gian thực hiện công việc từ ngày 30-10-2022 đến ngày 04-11-2022) và hóa đơn số 43 (thời gian thực hiện công việc từ ngày 03-12-2022 đến ngày 06-12-2022) cho công ty D2 nhưng công ty D2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Trong khi đó công ty T7 và công ty D2 (nay là công ty T6) cung cấp hợp đồng nguyên tắc số 171122-01/HĐNT/SP-TQT ngày 17-11-2022 được ký kết giữa công ty D2 và công ty T7, theo đó thỏa thuận giữa hai bên về công việc cũng như phương thức thanh toán tương tự như hợp đồng mà công ty D2 đã ký kết trước đây với công ty T5.
Công ty T7 và công ty D2 (nay là công ty T6) cùng xác định công ty T7 đã thực hiện xong công việc và xuất hóa đơn số 07 ngày 30-12-2022 với số tiền 150.683.054 đồng (thời gian thực hiện công việc từ ngày 30-10-2022 đến ngày 04-11-2022) và hóa đơn số 08 ngày 30-12-2022 với số tiền 31.008.096 đồng (thời gian thực hiện công việc từ ngày 03-12-2022 đến ngày 06-12-2022), công ty D2 đã thanh toán đủ cho công ty T7.
[2.2] Thấy rằng theo chứng cứ các bên cung cấp thì đối với hóa đơn số 38 ngày 11-11-2022 do Công ty T5 xuất và hóa đơn số 07 ngày 30-12-2022 do công ty T7 xuất là cùng số tiền thanh toán 150.683.054 đồng, thời gian thực hiện công việc từ ngày 30-10-2022 đến ngày 04-11-2022.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa phúc thẩm công ty T5 xác định trước đây ông Q là nhân viên thời vụ của công ty T5, quá trình làm việc chung giữa hai bên có mâu thuẫn nội bộ, tuy nhiên ông Q chưa rời bỏ công ty T5; còn về phía ông Q thì cho rằng công ty T5 do ông thành lập, nhờ ông T đứng tên đại diện. Từ giữa tháng 12-2022 ông rời bỏ công ty T5 sang thành lập công ty T7. Trước khi đi ông yêu cầu công ty T5 hủy các hợp đồng đã thực hiện và không được xuất hóa đơn. Khi ông sang công ty T7 thì ông đã ký kết lại hợp đồng với công ty D2.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm ông Q xác định ông là người trực tiếp giao dịch ký kết hợp đồng với công ty D2 và trực tiếp thực hiện công việc dịch vụ, ông tự bỏ tiền ra ứng trước trả tiền thuê nhân công, tiền dầu và trang thiết bị thực hiện công việc, công ty T5 không bỏ ra bất cứ khoản tiền nào. Lời trình bày này của ông Q được công ty T5 và công ty D2 (nay là công ty T6) thừa nhận.
Như vậy mặc dù công việc cho hóa đơn này được thực hiện trong thời gian ông Q làm việc tại công ty T5, tuy nhiên theo sự thừa nhận bên trên giữa các bên thì có căn cứ xác định công ty T5 chỉ ký hợp đồng trên danh nghĩa giấy tờ, bản chất thực hiện công việc là do ông Q đảm nhận.
Mặt khác phía nguyên đơn có nộp Bảng kê chi tiết khối lượng dịch vụ đánh tẩy tháng 11-2022 có chữ ký xác nhận của kế toán công ty T5 và công ty D2. Ông T (giám đốc Công ty D2 cũ) cho rằng không nhận được Bảng kê chi tiết khối lượng dịch vụ đánh tẩy tháng 11-2022 từ công ty T5 và cũng không biết gì về việc kế toán ký xác nhận vào Bảng kê này. Ông cho rằng việc kế toán của hai công ty ký vào Bảng kê chi tiết khối lượng dịch vụ là không đúng thẩm quyền. Trong khi đó quy trình cho phương thức thanh toán giữa công ty T7 và công ty D2 theo hóa đơn số 07 ngày 30-12-2022 là đảm bảo.
[2.3] Đối với Hóa đơn số 43 ngày 16-12-2022 và hóa đơn số 08 ngày 30-12-2022 cùng số tiền 31.008.096 đồng, thời gian thực hiện công việc từ ngày 03-12-2022 đến ngày 06-12-2022:
Như trên đã nêu về sự thừa nhận của các bên về người trực tiếp thực hiện và ứng tiền trả trước nhân công để thực hiện công việc. Phía nguyên đơn không nộp được Bảng kê chi tiết khối lượng dịch vụ có chữ ký xác nhận và đóng dấu của cả hai Công ty mà cho rằng Bảng kê chi tiết khối lượng dịch vụ của Hóa đơn số 43 đã giao cho ông Bồ Thanh Q để ông Q đi giao cho công ty D2, nhưng ông Q đã cố tình không giao lại cho Công ty T5, tuy nhiên lời trình bày này của công ty T5 không được ông Q thừa nhận và công ty T5 cũng không có chứng cứ chứng minh. Trong khi đó quy trình cho việc thanh toán giữa công ty T7 và công ty D2 là bảo đảm. công ty T7 đã xuất hóa đơn số 08 ngày 30-12-2022.
[2.4] Qua tra cứu tờ khai giá trị gia tăng quý 4-2022 trên trang thuế điện tử và bảng kê mua vào, bán ra do đơn vị cung cấp đến cơ quan thuế ngày 29-7-2024 thì công ty T7 đã nộp hóa đơn khấu trừ thuế đầu vào cho hóa đơn số 07 ngày 30-12-2022, giá trị trước thuế là 139.521.346 đồng, thuế giá trị gia tăng là 11.161.708 đồng và hóa đơn số 08 ngày 30-12-2022, giá trị trước thuế là 28.711.200 đồng, thuế giá trị gia tăng là 2.296.896 đồng. Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 đã xuất hóa đơn điện tử theo đúng quy định tại Thông tư số 78/2021/TT-BTC.
Từ các phân tích, nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
[2.5] Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty T7 tự nguyện hỗ trợ cho công ty T5 8% thuế suất giá trị gia tăng trên hóa đơn giá trị gia tăng số 38 ngày 11-11-2022 là số tiền 11.161.708 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của công ty T7 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty T5 phải nộp án phí có giá ngạch trên số tiền không được Tòa án chấp nhận.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của công ty T5 không được chấp nhận nên công ty T5 phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 299 và Điều 311; Khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự:
1.Hủy một phần bản án sơ thẩm số 11/2024/KDTM- ST ngày 19-9-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P) và đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 về việc đòi bị đơn công ty Trách nhiệm hữu hạn D2 (nay là công ty Trách nhiệm hữu hạn T6) trả tiền lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất trung bình và tiền lãi chậm thanh toán tiếp theo cho đến khi trả xong nợ.
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5, sửa một phần bản án sơ thẩm số 11/2024/KDTM- ST ngày 19-9-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P) như sau:
Căn cứ vào Điều 30, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 74, 78 Luật Thương mại; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
[2.1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” với Công ty Trách nhiệm hữu hạn D2 (nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T6) đối với yêu cầu thanh toán số tiền dịch vụ còn nợ là 181.691.150 (một trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn, một trăm năm mươi đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T7 về việc hỗ trợ cho công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 số tiền 11.161.708 (mười một triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm lẻ tám) đồng.
[2.2] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 phải chịu 10.980.685 (mười triệu chín trăm tám mươi nghìn sáu trăm tám mươi lăm) đồng; khấu trừ vào số tiền 5.338.000 (năm triệu ba trăm ba mươi tám nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003168 ngày 23-4-2024 tại chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Như vậy, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 còn phải nộp tiếp 5.642.685(năm triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn sáu trăm tám mươi lăm) đồng.
[2.3] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 phải chịu 2.000.000 (hai triệu) đồng; khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 003951 ngày 15-10-2024 tại chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nên Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 đã nộp xong.
3. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18-3-2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thương |
Bản án số 03/2025/KDTM-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 03/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: SỬa một phần bản án sơ thẩm
