|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày: 28/2/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Thẩm phán phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh, ông Huỳnh Công Trí và ông Trần Quang Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ân – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Niê Y C, Sinh ngày 15/6/1998; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Buôn L, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Ê Đê; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ksor Y B, sinh năm 1977 và bà Niê Hờ B1, sinh năm 1981; có vợ Ksơr Hờ M, sinh năm 1999 và 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 24/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo Niê Y C: Ông Nguyễn N – Luật sư ký hợp đồng Cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P; có mặt.
- Bị hại: Ksơr Y T, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Ksơr Y Thông: Bà Nguyễn Thị Khánh D và bà Lục Thị Bảo T1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ksor Y B, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Buôn L, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người làm chứng:
- Ksơr Hờ M, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Ksơr Hờ Đ, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Ksơr Hờ N1, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Ksor Y T2, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 13/7/2024, trên đường đi nhậu về Niê Y C điều khiển xe mô tô biển số 73G1- 246.59 gặp chị Ksor Hờ M (vợ Y C), cùng các chị Ksơr Hờ Đ, Ksơr Hờ N1 và anh Ksor H Win trước nhà chị Hờ Đ ở buôn M, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Y C đến nói chuyện và cãi nhau với Hờ M về việc Y C ăn nhậu, anh Y T (anh ruột Hờ M) nghe vợ chồng Y C cãi nhau đến can ngăn, Y C thách thức đòi đánh và xô Y T té ngã rồi chạy vào nhà Hờ Đ lấy một cái rựa dài 67cm, lưỡi bằng kim loại dài 27cm, rộng 3,2cm, cán bằng gỗ dài 40cm, Y T vừa đứng dậy, Y C chạy đến đứng đối diện, tay phải cầm rựa chém một nhát từ trên xuống, trúng vùng đầu, mặt bên trái của Y T, gây vết thương dài 20cm từ thái dương đến môi dưới bên trái, gãy cánh lớn xương bướm trái, gãy thành ngoài ổ mắt trái, nứt cung gò má trái, gãy thành xoang hàm trái; Y T ôm mặt, cúi đầu, Y C chém tiếp một nhát từ trên xuống, trúng vai phải của Y T gây vết thương dài 10cm, Y T khụy người bất tỉnh, các chị Hờ N1, Hờ M kéo anh Y T ra, anh Ksor Y T2 (con trai chị Hờ Đ) giật lấy rựa trên tay Y C, Y C điều khiển xe bỏ đi, Y T được mọi người đưa đến Trung tâm Y tế huyện S rồi chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh P cấp cứu, điều trị.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 311 ngày 03/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Ksơr Y T bị thương tích tỷ lệ 45%. Vật tác động: Vật có cạnh sắc.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSPY-P1 ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Niê Y C về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo Niê Y C vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng.
- Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng đều khai về tình tiết vụ án diễn ra như nội dung Cáo trạng đã nêu.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bị cáo Niê Y C phạm tội “Giết người”.
- + Về Hình phạt: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điều 15; Khoản 3, Điều 57; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Niê Y C từ 12 năm đến 13 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.
- + Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Niê Y C đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại Ksor Y Thông số tiền 54.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại Ksor Y không yêu cầu bị cáo Niê Y C phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác nên không giải quyết.
- + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 01 cái rựa dài 67cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 27cm, rộng 3,2cm, cán bằng gỗ tròn dài 40cm, đường kính 3,1cm được buộc 01 sợi dây cao su; lưỡi và cán được cố định bằng khâu kim loại dài 6,6cm, đường kính 2,9cm.
- Người bào chữa của bị cáo Niê Y C; Luật sư Nguyễn N trình bày: Bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại số tiền 54.000.000 đồng và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Ksor Y Thông; Trợ giúp viên pháp lý, bà Nguyễn Thị Khánh D trình bày: Bị cáo Niê Y C đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Y Thông số tiền 54.000.000đ, bị hại Y T không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Y C.
Bị cáo không tranh luận gì; nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại, gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không bị khiếu nại, việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.
[1.2] Tại phiên toà, vắng mặt Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Nhưng xét thấy, những người này đều có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời có gửi bản bảo vệ và được bị hại đề nghị xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và Kiểm sát viên, Toà án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo Niê Y C tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; các bản kết luận giám định; kết quả thực nghiệm điều tra; vật chứng thu giữ và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 13/7/2024, tại buôn M, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Trong lúc xích mích, cãi vã với vợ là chị Ksor Hờ M, thì được anh K Y Thông đến can ngăn, nhưng Niê Y C lại hung hăng dùng rựa, là hung khí nguy hiểm chém 02 nhát trúng vùng đầu mặt và vai Ksor Y T. Y Thông được cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng nhưng bị thương tích với tỷ lệ 45%. Nên bản Cáo trạng số 13/CT-VKSPY-P1 ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Niê Y C về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo Niê Y C không chỉ đe dọa đến tính mạng, xâm phạm đến sức khoẻ bị hại trái pháp luật, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an – an toàn xã hội tại địa phương, nên cần xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “chưa đạt”; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 54.000.000 đồng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; mặt khác bị cáo đã từng tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; là người đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt, cũng đủ răn đe, giáo dục và ngăn ngừa chung cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Niê Y C đã bồi thường cho bị hại Ksơr Y Thông số tiền 54.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) cái rựa dài 67cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 27cm, rộng 3,2cm, cán bằng gỗ tròn dài 40cm, đường kính 3,1cm được buộc 01 sợi dây cao su; lưỡi và cán được cố định bằng khâu kim loại dài 6,6cm, đường kính 2,9cm; không sử dụng được; là vật trực tiếp liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vật chứng vụ án có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
[6] Về án phí: Bị cáo Niê Y C bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Niê Y C phạm tội “Giết người”;
- Về hình phạt: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;
Phạt: Bị cáo Niê Y C – 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/9/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cái rựa dài 67cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 27cm, rộng 3,2cm, cán bằng gỗ tròn dài 40cm, đường kính 3,1cm được buộc 01 sợi dây cao su; lưỡi và cán được cố định bằng khâu kim loại dài 6,6cm, đường kính 2,9cm.
Vật chứng đều có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Niê Y C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (giết người)
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Niê Y C
