Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HSST

Ngày 19 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Khoa Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Triệu Thị Hai- Giáo viên nghỉ hưu

Ông Hà Đình Sở

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện VKSND huyện Thanh Sơn tham gia phiên toà: Ông Lương Ngọc L - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/HS - ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

Họ và T: Nguyễn Thành Đ (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 28/3/2008 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nơi thường trú: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn lớp: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Nguyễn Tiến D - SN 1976. Con bà: Đặng Thị T1 - SN 1980.

Anh chị em: Có 03 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất.

Vợ + Con: Bị cáo chưa có vợ, con:

Hiện nay bố mẹ bị cáo đang ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án + Tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 28/12/2024 áp dụng Quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát (Có mặt).

Họ và T: Đinh Tiến D1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/10/2007 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nơi thường trú: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn lớp: 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Đinh An N (Đã chết). Con bà: Hà Thị Q - SN 1990.

Anh chị em: Có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất.

1

Vợ + Con: Bị cáo chưa có vợ, con:

Hiện nay mẹ bị cáo đang ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án + Tiền sự: Không.

Bị cáo Đinh Tiến D1 bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 28/12/2024 áp dụng Quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát (Có mặt).

Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Thành Đ: Bà Đặng Thị T1, sinh năm 1980 là (mẹ đẻ) bị cáo; Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

Người đại diện cho bị cáo Đinh Tiến D1: Bà Hà Thị Q, sinh năm 1990 là (mẹ đẻ) bị cáo; Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành Đ: Bà Nguyễn Thị Bích T2 - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Tiến D1: Bà Đinh Thị H - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.

Đơn vị công tác: Bà T2 và bà H đều công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (Bà T2 và bà H có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Hữu N1, sinh ngày 01/09/2007 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu Ngọc Đồng, xã Thục Luyện, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Anh Trần Văn D2 - SN 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Bà Đặng Thị T1 - SN 1980 (Có mặt).

Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Người làm chứng:

Cháu Dương Trang H1 - SN 2010 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Cháu Nguyễn Văn C - SN 2010 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Cháu Trần Duy K - SN 2011 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Người giám hộ cho cháu Dương Trang H1: Bà Đặng Tuyết T3 - SN 1985 là (mẹ đẻ) cháu H1; Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)

Người giám hộ cho cháu Nguyễn Văn C: Bà Trần Thị C1 - SN 1981 là (mẹ đẻ) cháu C; Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)

Người giám hộ cho cháu Trần Duy K: Ông Trần Tiến D3 - SN 1983 là (bố đẻ) cháu K; Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 19 giờ 45 phút, ngày 25/12/2024 tổ công tác Đội điều tra tổng hợp Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đang làm nhiệm vụ tại khu V, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện 01 xe đạp điện màu đen, đỏ do một nam thanh niên điều khiển chở phía sau một nam thanh niên, ở giữa vị trí ngồi của hai nam thanh niên để một tải sắc rắn màu trắng có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là pháo nổ nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra người nam thanh niên điều khiển xe đạp điện tự khai là Dương Trang H1, sinh năm 2010, thường trú khu B, xã T, huyện T, người còn lại khai là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 28/3/2008, trú tại: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Tiến hành kiểm tra bên trong bao tải sắc rắn màu trắng bên ngoài có nhiều chữ màu xanh phát hiện bên trong chứa 92 khối hình trụ tròn có kích thước khác nhau, các khối hình trụ tròn đều được cuốn bằng giấy màu trắng in chữ màu đen. Ở mỗi đầu khối hình trụ tròn đều được gắn dây dẫn màu trắng nghi là pháo nổ. Quá trình kiểm tra, Đ khai 92 khối hình trụ tròn trên là pháo nổ của Đ và của một người tên là D3, sinh năm 2007, thường trú khu Đ, xã T, huyện T. Số pháo này Đ và D3 tự chế tạo và mang đi bán, trên đường đi thì bị Công an huyện T kiểm tra. Tổ công tác đã tiến hành mời người chứng kiến và lập biên bản sự việc đồng thời niêm phong 01 bao tải sắc rắn màu trắng bên ngoài có nhiều chữ màu xanh, 92 khối hình trụ tròn có kích thước khác nhau, các khối hình trụ tròn đều được cuốn bằng giấy màu trắng có in chữ màu đen ở mỗi đầu khối hình trụ tròn đều được gắn dây dẫn màu trắng và một thùng bìa cát tông.

Xét thấy có dấu hiệu của tội phạm, ngày 25/12/2024, Công an huyện T đã chuyển hồ sơ có dấu hiệu của tội phạm cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T thụ lý giải quyết. Đồng thời, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thành Đ tại Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét tạm giữ: 01 chày bằng gỗ hình trụ tròn màu nâu đã cũ, dài 50cm, đường kính 06cm; 01cối bằng đá hình tròn màu nâu đã cũ, có chiều cao 09cm, đường kính 21cm (lớn nhất), đường kính 15cm (nhỏ nhất); 01 chiếc kéo bằng sắt dài 21cm có một đầu tay cầm bằng nhựa màu đỏ, đen.Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Tiến D1 tại Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét tạm giữ: không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Quá trình điều tra xác định Đinh Tiến D1, sinh ngày 23/10/2007 trú tại Khu Đ, xã T là người cùng Nguyễn Thành Đ chế tạo 92 quả pháo nổ trên. Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiền hành triệu tập làm việc với Đinh Tiến D1. D1 thừa nhận hành vi cùng Nguyễn Thành Đ chế tạo 92 quả pháo nổ Cơ quan Công an thu giữ được của Đ, đồng thời giao nộp 01 ống tre đã khô và 01 thước kẻ màu trắng D1 dùng để chế tạo Pháo. Tiến hành khai thác điện thoại của Nguyễn Thành Đ: Đ tự mở khóa điện thoại, tại ứng dụng Messenger có cuộc nói chuyện giữa ních Facebook Nguyễn Thành Đ và ních Facebook tôi đặt tên là Đinh D1 với nội dung: 00 giờ 26 phút ngày 24/12/2024 D1 nhắn tin “lo ah, N1 củ bảo thứ tư được không”, đến 13 giờ 52 phút D1 nhắn tin “bảo nó thích tối nay cũng được”, Đ nhắn tin “N1 bảo tối nay không được”, D1 nhắn tin “thế mai, Đang cần tiền”, Đ nhắn tin “Nghe nghĩa lại lấy cái j í”, D1 nhắn tin “em làm đủ chưa”, Đ nhắn tin gửi đoạn Video 02 giây quay lại các khối trụ (D1 khai đây là pháo do D1 tự chế), D1 nhắn tin “Đừng cho Đ1 làm nhá, nó ko biết làm đâu”, Đ nhắn tin “ok”, D1 nhắn tin đoạn Video dài 05 giây quay lại cảnh D1 đổ nhiều các khối trụ từ bao tải ra nền gạch hoa ở nhà (Đ khai đây là pháo do D1 làm), D1 nhắn tin “nhiều phết”, D1 nhắn tin “gần nửa tải rồi, thêm của em nữa là nửa tải đấy”, Đ nhắn tin “em sắp đủ rồi”, D1 nhắn tin “ko chưa quấn, làm to như em chắc chỉ làm 50q thôi”, Đ nhắn tin “em làm 50q thôi á”, D1 nhắn tin “ờ, T4 như thế làm nhiều lỗ”, Đ nhắn tin “oke ah”. Đến 18 giờ 38 phút D1 nhắn tin “Lo”, Đ nhắn tin “J anh”, D1 nhắn tin “Nó lại bảo 35k 1 quả rồi”, Đ nhắn tin “Vãi”, D1 nhắn tin“Thôi kệ đi vẫn đượ 2m nữa”, Đ nhắn tin “chịu N1 rồi”, D1 nhắn tin “thế vẫn lãi một ít”, Đ chụp ảnh màn hình máy tính có số “3.850, tổng có thế nỳ thôi”, D1 nhắn tin “Vẫn được 2tr nữa mà ở”, Đ nhắn tin “oke”, D1 chụp ảnh màn hình máy tính có số “4.200, tính kiểu gì thế mày”, Đ nhắn tin “em nhân vs 35, lo ah, ah đang đâu đấy”, D1 nhắn tin“ anh đang ở nhà”, Đ nhắn tin “oke”, đến 12 giờ 30 phút Đ nhắn tin “lo ah, tôi nhá”, đến 16 giờ 01 phút Đ nhắn tin “lo ah”, D1 nhắn tin “Oi”, Đ nhắn tin “em song rồi, tỏi dao ở đâu”, đến 19 giờ 40 phút Đ nhắn tin “Lo ah, A đang đâu đaya”, D1 nhắn tin “Anh ở C”. Ngoài nội dung tin nhắn trên trong điện thoại của Đ và D1 ở ứng dụng Messenger thì trong điện thoại của Đ không còn nội dung gì khác liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

Quá trình điều tra Nguyễn Thành Đ và Đinh Tiến D1 khai nhận: Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 28/03/2008, trú tại Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Đinh Tiến D1, sinh ngày 23/10/2007, trú tại Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ có thể chế tạo được pháo nổ. Ngày 18/12/2024, Đ và D1 khai báo có nhận chế tạo 100 (một trăm) quả pháo nổ loại pháo cuốn để bán cho Nguyễn Hữu N1, sinh năm: 2007, trú tại Khu N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. N1 đưa cho D1 và Đ số tiền 1.500.000đ, D1 và Đ chia nhau mỗi người 750.000đ. Sau đó, Đ rủ D1 góp tiền để đặt mua Kel (kali chloride) và lưu huỳnh về chế tạo pháo nổ bán cho N1. D1 góp với Đ số tiền 125.000đ để mua Kel và lưu huỳnh. Đ sử dụng 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, bên trong lắp sim số 0353.941.230 vào ứng dụng Tiktok shop mua 500 gam thuốc Kel và 100 gam lưu huỳnh với tổng số tiền là 250.000đ. Đến ngày 20/12/2024, Đ nhận được thuốc K1 và lưu huỳnh nên Đ gọi D1 ra cổng trường Trung học cơ sở T6 chia đôi thuốc Kel và lưu huỳnh rồi về nhà tự chế tạo pháo nổ. Khi về nhà, Đ mua một quận màng bọc thực phẩm, một lọ keo 502 rồi lấy sách vở cũ, chày, cối, kéo cắt giấy, than củi cùng với K1 và lưu huỳnh để chế tạo pháo nổ. D1 mua một quận màng bọc thực phẩm, một lọ keo 502 rồi lấy sách vở cũ, thước kẻ, than củi để chế tạo pháo nổ. Đến ngày 25/12/2024, Đ chế tạo được 50 quả pháo nổ còn D1 chế tạo được 42 quả pháo nổ. Đ và D1 hẹn nhau buổi tối cùng ngày mang pháo đến cổng Trường Trung học cơ sở T7 pháo sau đó mang đi bán cho N1. Khoảng 20 giờ ngày 25/12/2024, Đ và D1 mang số pháo mà mình làm được đến cổng Trường Trung học cơ sở T6. Đ đúc 92 quả pháo vào 01 bao tải sắc rắn màu trắng bên ngoài có nhiều chữ màu xanh Đ lấy từ nhà mang theo. Sau đó, Đ và D1 gặp Dương Trang H1, sinh năm: 2010 và Nguyễn Văn C, sinh năm: 2010, đều trú tại Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đang ngồi chơi ở Cổng Trường Trung học cơ sở T8. Đ, D1 rủ H1 và C đi cùng nhưng không nói với H1 và C đi bán pháo mà chỉ nói đi cùng có việc, H1 và C đồng ý. Đ mượn xe đạp điện của Trần Duy K, sinh năm: 2011, trú tại Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đang đứng ở gần cổng trường Trung học cơ sở Thục Luyện rồi bảo H1 điều khiển xe chở Đ ngồi phía sau ôm bao tải bên trong chứa 92 quả pháo. C điều khiển xe đạp điện của C chở D1. Khi Đ, D1, C, H1 đi đến đoạn đường thuộc khu N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì Công an huyện T kiểm tra phát hiện Đ đang ôm bao tải màu trắng bên trong có 92 khối hình trụ tròn kích thước khác nhau, các khối hình trụ tròn đều được quấn bằng giấy màu trắng có in chữ màu đen, ở mỗi đầu khối hình trụ tròn đều được gắn dây dẫn. Đ khai nhận đây là số pháo mà Đ và D1 chế tạo để bán. Quá trình kiểm tra, D1 bỏ chạy thoát. Công an huyện T đã lập biên bản niêm phong vật chứng và đưa Đ, H1 về Cơ quan Công an làm việc. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Tiến D1 và Nguyễn Thành Đ. Quá trình khám xét nhà ở của Đ Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 cối bằng đá, 01 chày bằng gỗ, 01 kéo bằng kim loại Đ dùng để chế tạo P. Ngày 25/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh P giám định 92 khối hình trụ tròn kích thước khác nhau, các khối hình trụ tròn đều được quấn bằng giấy màu trắng có in chữ màu đen, ở mỗi đầu khối hình trụ tròn đều được gắn dây dẫn thu giữ của Nguyễn Thành Đ.

Tại kết luận giám định số 1760/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P, kết luận: 92 (Chín mươi hai) vật hình trụ tròn cuốn bằng giấy, hai đầu nhồi kín, trong đó có 01 đầu có gắn với 01 đoạn dây dẫn, gửi đến giám định đều là pháo nổ ( có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng nổ) có tổng khối lượng là 9,7kg (Chín phảy bảy kilogam).

Pháo nổ được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 3 Chương I của Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý và sử dụng pháo: “Pháo nổ là sản phẩm được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, khi có tác động của xung thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ hoặc gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian”;

Sau giám định Phòng K2 Công an tỉnh P đã hoàn trả: 9,3 kg vật ở dạng hình trụ tròn là pháo nổ và 01 tải xác rắn, được niêm phong dán kín trong hộp cattong đựng mẫu vật gửi giám định. Bên ngoài hộp catton có dán 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của những người có liên quan. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã nhập kho vũ khí, trang bị kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh P để bảo quản, quản lý theo quy định.

Ngày 28/12/2024 Cơ quan CSĐT- Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với: Nguyễn Thành Đ và Đinh Tiến D1 về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 190 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định trên để điều tra theo quy định pháp luật. Đồng thời ra Quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện giám sát đối với Nguyễn Thành Đ và Đinh Tiến D1.

Quá trình điều tra Nguyễn Thành Đ và Đinh Tiến D1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân phù hợp với tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập.

Về nguồn gốc pháo nổ: Nguyễn Thành Đ sử dụng điện thoại vào ứng dụng Tiktok shop đặt nguyên liệu chế tạo thuốc pháo gồm 500 gam thuốc Kel và 100 gam lưu huỳnh để tìm kiếm và bột lưu huỳnh, bột Kalo3, bột than củi và dây cháy chậm từ một người không quen biết qua ứng dụng Tiktok shop.

Đối với việc Nguyễn Thành Đ và Đinh Tiến D1 khai báo chế tạo pháo để bán cho Nguyễn Hữu N1: Cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần đối với N1 để làm việc tuy nhiên N1 vắng mặt tại địa phương nơi cư trú. Gia đình N1 cung cấp N1 không có mặt tại địa phương từ khoảng tháng 11/2024. Do đó, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với N1. Bản thân D1 và Đ khai nhận việc D1, Đ thỏa thuận chế tạo pháo bán cho N1 chỉ thỏa thuận bằng miệng ngoài ra D1 và Đ không cung cấp được tài liệu khác liên quan đến việc mua bán pháo với N1. Cơ quan điều tra tiếp tục củng cố tài liệu chứng cứ theo quy định của pháp luật làm rõ xử lý sau.

Đối với Dương Trang H1, Nguyễn Văn C và Trần Duy K: K cho Đ mượn xe đạp điện sau đó H1 và C đi cùng với Đ và D1. Tuy nhiện K, C, H1 không biết Đ, D1 đi bán pháo nổ. Do đó K, C, H1 không vi phạm pháp luật.

Về đồ vật, tài sản tạm giữ: 9,3kg là vật chứng còn lại sau giám định ở dạng hình trụ tròn là pháo nổ và 01 tải xác rắn, được niêm phong dán kín trong hộp cattong đựng mẫu vật gửi giám định. Bên ngoài hộp catton có dán 04 giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của những người có liên quan. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã nhập kho vũ khí, trang bị kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh P để bảo quản, quản lý theo quy định.

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, màu vàng, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim của số điện thoại 0353.941.xxx. Đây là điện thoại của Đ, Đ sử dụng để vào mạng tìm mua nguyên liệu sản xuất, chế tạo pháo nổ. Đối với 01 chày bằng gỗ hình trụ tròn màu nâu đã cũ dài 50cm, đường kính 06cm; 01 cối đá hình tròn màu nâu đã cũ chiều cao 09cm, đường kính lớn nhất 21cm, đường kính nhỏ nhất 15cm; 01 kéo bằng kim loại dài 21cm, một đầu có tay cầm bằng nhựa màu đỏ đen. Đây là các dụng cụ, vật liệu được Cơ quan CSĐT Công an huyện T khám xét, thu giữ tại nhà ở của Nguyễn Thành Đ, Đ khai nhận đây là dụng cụ, vật liệu được Đ sử dụng để sản xuất, chế tạo pháo nổ.

Đối với 01 thước kẻ màu trắng dài 30 cm, có 4 cạnh hình vuông, đã cũ, qua sử dụng; 01 ống tre dài 40cm có hai đầu, đường kính hai đầu 3,6cm, ống tre đã khô qua sử dụng thu giữ của Đinh Tiến D1.

Tiền VNĐ: 1.500.000₫ (Quá trình điều tra, Nguyễn Thành Đ và Đinh Tiến D1 mỗi người tự nguyện giao nộp số tiền 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền các bị can khai đã nhận của Nguyễn Hữu N1 sau đó dùng số tiền này mua nguyên liệu chế tạo pháo nổ và tiêu sài cá nhân.

Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn để chờ xử lý.

Đối với 01 xe đạp điện màu đỏ đen Dương Trang H1 mượn của Trần Duy K sau đó sử dụng để chở Nguyễn Thành Đ chở theo pháo. Quá trình Đ nhờ H1 chở đi, H1 không biết là Đ chở pháo nổ. Quá trình điều tra xác định đây là xe của anh Trần Văn D2, sinh năm 1983, trú tại Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là bố đẻ của Trần Duy K. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về nhân thân: Bị can chưa có tiền án tiền sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Thành Đ mới được 16 tuổi 08 tháng 27 ngày. Đinh Tiến D1 mới được 17 tuổi 02 tháng 02 ngày.

Tình trạng, kinh tế tài sản của các bị can:

Bị can Đinh Tiến D1: Hiện sống cùng mẹ, bị can là học sinh chưa có việc làm, chưa có thu nhập và không có tài sản gì giá trị. Bị can Nguyễn Thành Đ: Hiện sống cùng bố, mẹ trong ngôi nhà xây cấp 4 có diện tích 50m². GCNQSD đất đứng tên bố, mẹ bị can là Nguyễn Văn D4 và Đặng Thị T1. Bị can không có tài sản riêng giá trị. Bị can lao động tự do, thu nhập bình quân 150.000đ/ ngày.

Bản cáo trạng số: 04/CT-VKSThS ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đạt và bị cáo Đinh Tiến D1 về tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 190 - Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị các cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 phạm tội "Sản xuất hàng cấm”.

Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s, Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 12, Điều 90, Điều 91 - Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 115, Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên được công bố ngày 20/12/2024.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thành Đ từ 09 tháng đến 10 tháng 08 ngày tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 20 tháng 16 ngày, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thành Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Xử phạt bị cáo: Đinh Tiến D1 từ 07 tháng 02 ngày đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng 04 ngày đến 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đinh Tiến D1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 4 Điều 190 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1.

Xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu 9,3 kg vật dạng hình trụ tròn là pháo nổ được hoàn trả lại sau giám định; 01 tải xác rắn được niêm phong dán kín trong hộp cát tông mẫu vật gửi giám định bên ngoài có dán 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của những người có liên quan.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, màu vàng, đã qua sử dụng để sung quỹ Nhà nước.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành Đ 01 sim điện thoại 0353.941.xxx; 01 chiếc chày bằng gỗ hình trụ tròn màu nâu đã cũ dài 50cm, đường kính 06cm; 01 cối đá màu nâu đã cũ, chiều cao 09cm, đường kính lớn nhất 21cm, đường kính nhỏ nhất 15cm; 01 chiếc kéo bằng kim loại dài 21cm tay cầm bằng nhựa màu đen để tiêu hủy.

Tịch thu của bị cáo Đinh Tiến D1 01 thước kẻ màu trắng dài 30cm, có 4 cạnh hình vuông đã cũ; 01 ống tre khô có 2 đầu dài 40cm đường kính là 3,6cm để tiêu hủy.

Toàn bộ số vật chứng trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành Đ số tiền 750.000đ; Tịch thu của bị cáo Đinh Tiến D1 số tiền 750.000₫ (Bị cáo đã giao nộp) là vật chứng của vụ án, Công an huyện T đã chuyển vào tài khoản số: 3949.0.1054594.00000 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ ngày 21/01/2025 để sung quỹ Nhà nước.

Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Trần Tiến D3 01 chiếc xe đạp điện, màu đỏ, đen đã qua sử dụng. Theo biên bản trao trả tài sản ngày 27/12/2024. Sau khi nhận lại tài sản anh D3 không có ý kiến gì. Do đó HĐXX không xem xét giải quyết.

Bà Nguyễn Thị Bích T2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành Đ đồng ý với Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố bị cáo Đ về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Đ. Bà T2 đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo tốt, để sớm được về với gia đình và trở thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Bà Đinh Thị H bào chữa cho bị cáo Đinh Tiến D1 đồng ý với Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố bị cáo D1 về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo D1. Bà H đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D1 và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, để bị cáo có cơ hội sửa chữa, cải tạo tốt để sớm được về đoàn tụ với gia đình và trở thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố thủ tục tụng: Người đại diện cho bị cáo Đ là bà T1; đại diện cho bị cáo D1 là bà Q (Có mặt); Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Hữu N1; ông Trần Văn D2 đều ở xã T, huyện T. Người làm chứng gồm: Cháu Dương Trang H1; cháu Nguyễn Văn C; Cháu Trần Duy K. Người giám hộ cho cháu Dương Trang H1 là bà Đặng Tuyết T3; người giám hộ cho cháu Nguyễn Văn C là bà Trần Thị C1; người giám hộ cho cháu Trần Duy K là ông Trần Tiến D3 đều ở xã T, huyện T đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng họ đều vắng mặt không lý do. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Đ, bị cáo D3 và Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không hoãn phiên toà mà đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng họ vắng mặt tại phiên toà, nhưng đã có biên bản ghi lời khai, bản tự khai tại Cơ quan điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ tại phiên tòa hôm nay không làm thay đổi đến bản chất, nội dung vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, là đúng không oan sai. Lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai tại phiên toà hôm nay đều thống nhất với nhau, phù hợp với bản kết luận giám định số 1760/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh P cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Trong Khoảng thời gian từ ngày 18/12/2024 đến ngày 25/12/2024, bị cáo Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 28/3/2008 và bị cáo Đinh Tiến D1, sinh ngày 23/10/2007 đều ở xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi tự chế tạo được 92 quả pháo nổ có đường kính, kích thước khác nhau, có tổng khối lượng là 9,7kg pháo nổ mục đích để bán kiếm lời. Ngày 25/12/2024 bị cáo Đ và bị cáo D1 đem 92 quả pháo nổ đi bán thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra phát hiện thu giữ số tang vật trên. Pháo nổ là mặt hàng bị cấm kinh doanh, sản xuất, tàng trữ, lưu hành và sử dụng tại Việt Nam. Hành vi tự chế tạo pháo nổ của các bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 đã phạm tội “Sản xuất hàng cấm” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Luật này thì bị phạt tiền từ 100.000.000đ đến 1.000.000.000₫ hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam; ...”.

Pháo nổ được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 3 Chương I của Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý và sử dụng pháo:

“Pháo nổ là sản phẩm được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, khi có tác động của xung thích cơ, nhiệt hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ hoặc gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian”

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Việc tự chế tạo pháo nổ của bị cáo có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ của con người hoặc gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình bị cáo và cho xã hội, hành vi sản xuất pháo nổ của bị cáo Đ, bị cáo D1 còn gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, nhất là vào dịp tết nguyên đán, tệ nạn buôn bán, sản xuất, tàng trữ hàng cấm diễn ra rất phức tạp, nhất là đối với pháo nổ và pháo hoa nổ, đã gây ra nhiều vụ tai nạn về pháo thương tâm. Do vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo Đ, bị cáo D1 mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Xét về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo Đ và bị cáo D1 là người trên 16 tuổi dưới 18 tuổi, nên được giao cho người đại diện là chị T1 mẹ đẻ bị cáo Đ, chị Q mẹ đẻ bị cáo D1 quản lý, giám sát. Bị cáo Đ và bị cáo D1 thực hiện hành vi do cố ý trực tiếp, nên phải chịu trách nhiệm do lỗi của mình gây ra theo quy định của pháp luật. Vì vậy, cần đưa bị cáo Đ và bị cáo D1 ra xét xử và có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về vai trò phạm tội của từng cáo như sau: Bị cáo Đ và bị cáo D1 đã có hành vi chế tạo 92 (Chín hai) quả pháo nổ loại pháo cuốn để bán cho Nguyễn Hữu N1. N1 đưa cho bị cáo Đ và bị cáo D1 số tiền 1.500.000đ, bị cáo Đ và bị cáo D1 chia nhau mỗi người 750.000đ. Sau đó, bị cáo Đ rủ bị cáo D1 góp tiền để đặt mua Kel (kali chloride) và lưu huỳnh về chế tạo pháo nổ bán cho N1, bị cáo D1 đồng ý mỗi bị cáo đã góp số tiền 125.000đ để mua Kel và lưu huỳnh, bị cáo Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, bên trong lắp sim số 0353.941.230 vào ứng dụng Tiktok shop mua 500 gam thuốc Kel và 100 gam lưu huỳnh với tổng số tiền là 250.000đ. Sau khi mua được nguyên liệu bị cáo Đ và bị cáo D1 chia nhau mỗi người một nửa số nguyên liệu trên rồi đem về nhà tự chế tạo pháo nổ, trong đó bị cáo Đ chế tạo được 50 quả pháo nổ, bị cáo D1 chế tạo được 42 quả pháo nổ. Đến ngày 25/12/2024 các bị cáo đem đi bán cho Nguyễn Hữu N1. Do vậy xác định bị cáo Đ là người chủ động rủ rê, bị cáo D1 là đồng phạm tham gia tích cực và là người trực tiếp chế tạo pháo nổ để bán cho N1. Nên bị cáo Đ phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo D1 trong cùng vụ án.

Xét về nhân thân của từng bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 là người chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, tại thời điểm phạm tội năm 2024 bị cáo D1 đang là học sinh đến năm 2025 bị cáo bỏ học làm công việc lao động tự do, các bị cáo có tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu rèn luyện bản thân, do lười lao động, nhưng lại muốn có tiền chi tiêu để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, nên các bị cáo đã thực hiện hành vi sản xuất hàng cấm (Pháo nổ) dẫn đến vi phạm pháp luật.

Trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo Đ, bị cáo D1 đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo Nguyễn Thành Đ có ông ngoại Đặng Văn N2 tham gia chống Mỹ đã có thành tích được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ Giải phóng và Huân chương kháng chiến hạng Nhất, bị cáo Đinh Tiến D1 có ông nội là Đinh Văn N3 đã tham gia chống Mỹ có thành tích đã được Nhà Nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do đó bị cáo Đ và bị cáo D1 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51- BLHS. Trong vụ án này các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Khoản 1 Điều 52 – BLHS. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Đ và bị cáo D1 là người trên 16 tuổi dưới 18 tuổi. Tính đến ngày phạm tội bị cáo Nguyễn Thành Đ 16 tuổi 08 tháng 27 ngày, bị cáo Đinh Tiến D1 17 tuổi 02 tháng 02 ngày. Do vậy bị cáo Đ và bị cáo D1 được áp dụng Điều 119, Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Tuy nhiên Khoản 2, 5, 6 Điều 179 Quy định chuyển tiếp có hiệu lực ngay kể từ ngày Luật này được công bố ngày 20/12/2024 có lợi cho người phạm tội, nên bị cáo Đ và bị cáo D1 được áp dụng hình phạt không quá 3/5 (Ba phần năm) mức phạt tù mà điều luật quy định. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và các quy định khác của pháp luật. HĐXX thấy rằng không cần thiết xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 hình phạt tù giam mà cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, để bị cáo tiếp tục lao động cải tạo thành người công dân tốt cho gia đình, xã hội và thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 4 Điều 190 – BLHS đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1.

Về nguồn gốc pháo nổ: Bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 đều khai nhận: Bị cáo Đ đã sử dụng điện thoại của mình vào ứng dụng Tiktok shop đặt mua 500 gam thuốc Kel và 100 gam lưu huỳnh từ một người không quen biết với tổng số tiền là 250.000₫ sau đó bị cáo Đ và bị cáo D1 đã chia chia nhau đem về nhà chế tạo pháo nổ để bán cho Nguyễn Hữu N1.

Đối với Nguyễn Hữu N1 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an triệu tập nhiều lần đến làm việc, nhưng N1 không có mặt tại địa phương. Bị cáo Đ và bị cáo D1 khai nhận việc chế tạo pháo nổ để bán cho N1, do hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng với nhau, không có văn bản giấy tờ gì. Ngoài lời khai ra thì bị cáo Đ và bị cáo D1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến việc N1 đặt mua pháo. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra N1 theo quy định của pháp luật, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Duy K đã cho bị cáo Đ mượn xe đạp điện sau đó Dương Trang H1, Nguyễn Văn C và Trần Duy K đi cùng với bị cáo Đ và bị cáo D1. Tuy nhiên H1, C và K không biết bị cáo Đ và bị cáo D1 đi bán pháo nổ, do vậy các cháu H1, C và K không vi phạm pháp luật.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, màu vàng, bên trong có lắp sim điện thoại số 0353.941.xxx bị cáo Nguyễn Thành Đ khai nhận đã sử dụng để liên hệ đặt mua nguyên liệu sản xuất, chế tạo pháo nổ, đã bị Cơ quan điều tra thu giữ là công cụ phương tiện phạm tội, nay tịch thu chiếc điện thoại trên để sung quỹ Nhà nước và sim điện thoại để tiêu hủy.

Đối với 01 chày bằng gỗ dài 50cm, đường kính 06cm; 01 chiếc cối đá hình tròn đã cũ, chiều cao 09cm, đường kính lớn nhất 21cm, đường kính nhỏ nhất 15cm; 01 kéo bằng kim loại dài 21cm có tay cầm bằng nhựa màu đen bị cáo Nguyễn Thành Đ sử dụng để sản xuất, chế tạo pháo nổ là tài sản của gia đình bà Đặng Thị T1 (Mẹ đẻ bị cáo). Trước khi chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bà T1 có đơn đề nghị tịch thu toàn bộ số tài sản trên để tiêu hủy là hoàn toàn tự nguyện cần được chấp nhận.

Đối với số tiền 1.500.000đ bị cáo Đ và bị cáo D1 khai nhận là của Nguyễn Hữu N1 đưa trước để mua pháo nổ, các bị cáo đã chia nhau mỗi người 750.000đ. Quá trình điều tra các bị cáo đã tự nguyện nộp lại, nay cần tịch thu số tiền trên để sung quỹ Nhà nước.

[2] Về xử lý vật chứng: Tịch thu 9,3 kg vật dạng hình trụ tròn là pháo nổ là mẫu vật được hoàn lại sau giám định; 01 tải xác rắn được niêm phong dán kín trong hộp cát tông mẫu vật gửi giám định bên ngoài có dán 04 giấy niêm phong, trên giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của những người có liên quan để tiêu hủy.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, màu vàng, đã qua sử dụng để sung quỹ Nhà nước.

Tịch thu của bị cáo Đ 01 sim điện thoại số 0353.941.xxx; 01 chiếc chày bằng gỗ hình trụ tròn màu nâu đã cũ dài 50cm, đường kính 06cm; 01 cối đá hình tròn màu nâu đã cũ, chiều cao 09cm, đường kính lớn nhất 21cm, đường kính nhỏ nhất 15cm; 01 chiếc kéo bằng kim loại dài 21cm có tay cầm bằng nhựa màu đen để tiêu hủy.

Tịch thu của bị cáo Đinh Tiến D1 01 thước kẻ màu trắng dài 30cm, có 4 cạnh hình vuông đã cũ; 01 ống tre khô có 2 đầu dài 40cm, đường kính 3,6cm để tiêu hủy.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành Đ số tiền 750.000đ; bị cáo Đinh Tiến D1 số tiền 750.000₫ (Bị cáo đã nộp) là vật chứng của vụ án, Công an huyện T đã chuyển vào tài khoản số: 3949.0.1054594.00000 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ ngày 21/01/2025 để sung quỹ Nhà nước.

Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Trần Tiến D3 01 chiếc xe đạp điện, màu đỏ, đen đã qua sử dụng. Theo biên bản trao trả tài sản ngày 27/12/2024. Sau khi nhận lại tài sản anh D3 không có ý kiến gì. Do đó HĐXX không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí hình sự: Bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo Đinh Tiến D1 thuộc hộ cận nghèo được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm quy định của pháp luật.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người giám hộ cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 190 - Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào: Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1 phạm tội “Sản xuất hàng cấm”.

Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s, Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 12, Điều 90, Điều 91- Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 115, Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên được công bố ngày 20/12/2024.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thành Đ 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thành Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Xử phạt bị cáo: Đinh Tiến D1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đinh Tiến D1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 4 Điều 190 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ và bị cáo Đinh Tiến D1.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 68, Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020.

“ Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu 9,3 kg vật dạng hình trụ tròn là pháo nổ được hoàn trả lại sau giám định; 01 tải xác rắn được niêm phong dán kín trong hộp cát tông mẫu vật gửi giám định bên ngoài có dán 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh P và chữ ký của những người có liên quan để tiêu hủy.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, màu vàng, đã qua sử dụng để sung quỹ Nhà nước.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành Đ 01 sim điện thoại số 0353.941.xxx; 01 chiếc chày bằng gỗ hình trụ tròn màu nâu đã cũ dài 50cm, đường kính 06cm; 01 cối đá hình tròn màu nâu đã cũ, chiều cao 09cm, đường kính lớn nhất 21cm, đường kính nhỏ nhất 15cm; 01 chiếc kéo bằng kim loại dài 21cm có tay cầm bằng nhựa màu đen để tiêu hủy.

Tịch thu của bị cáo Đinh Tiến D1 01 thước kẻ màu trắng dài 30cm, có 4 cạnh hình vuông đã cũ; 01 ống tre khô có 2 đầu dài 40cm đường kính hai đầu 3,6cm để tiêu hủy.

Toàn bộ số vật chứng trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành Đ số tiền 750.000đ; bị cáo Đinh Tiến D1 số tiền 750.000₫ (Bị cáo đã giao nộp) là vật chứng của vụ án, Công an huyện T đã chuyển vào tài khoản số: 3949.0.1054594.00000 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ ngày 21/01/2025 để sung quỹ Nhà nước.

Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Trần Tiến D3 01 chiếc xe đạp điện, màu đỏ, đen đã qua sử dụng. Theo biên bản trao trả tài sản ngày 27/12/2024. Sau khi nhận lại tài sản anh D3 không có ý kiến gì. Do đó HĐXX không xem xét giải quyết.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, điểm a Khoản 1 Điều 23; Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức T5, M, G, T5, N4, Quản lý và sử dụng Án phí, Lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Tiến D1.

Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; người giám hộ cho bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo Bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ tại trụ sở UBND nơi họ cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện; VKSND tỉnh
  • - CQ THAHS
  • - Sở Tư pháp
  • - Chi cục THADS huyện
  • - UBND xã Thục Luyện
  • - Bị cáo; Người giám hộ; người bào chữa
  • - Người có QLNVLQ
  • - Lưu HS; VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Khoa Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về sản xuất hàng cấm

  • Số bản án: 03/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Sản xuất hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sản xuất hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger