Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC DƯƠNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 03/2025/HS - ST.

Ngày: 18 – 02 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phương Dung.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Huynh; Bà Trần Thị Thuyên.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu– Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Công T, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2006; tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: Số A, tổ B, đường H, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Đang học lớp 12 – Trường Cao đẳng N1, tỉnh Lâm Đồng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Công C và bà Nguyễn Thị Hồng S; vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Nguyễn Đặng Tuyết H, sinh năm 2007 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Ông Nguyễn Quang M, sinh năm 1976, bà Đặng Thị L, sinh năm 1987; cùng cư trú tại: Số B đường T, phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng – là bố mẹ đẻ của người bị hại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1985 và ông Đặng Công C, sinh năm 1978; cùng cư trú tại: Số A, tổ B, đường H, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  • + Anh Trần Lê Duy B, sinh năm 2008; cư trú tại: số DN, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Người giám hộ: Bà Lê Thị Lệ T1 (mẹ ruột anh B); Ông Lơ Mu Ha T2 – Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản HCM thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Lê Tiến T3 sinh năm 2008; cư trú tại: Tổ dân phố H, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Người giám hộ: Bà Lê Thị N (mẹ ruột anh T3); Ông Lơ Mu Ha T2 – Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản HCM thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
  • + Chị Lê Gia H1, sinh năm 2009; cư trú tại: Số G N, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Người giám hộ: Bà Võ Nguyễn Hạnh U – Phó bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ, ngày 14/8/2024, Đặng Công T điều khiển xe mô tô BKS 49B2 – 144.29, chở theo Nguyễn Đặng Tuyết H ngồi sau, đi từ thành phố N, tỉnh Khánh Hòa về hướng thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi đến xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, T bị mệt và lạnh nên đã nhờ T4 Hồng điều khiển xe mô tô BKS 49B2 – 144.29 chở T. Tuyết H đồng ý và đã điều khiển xe mô tô BKS 49B2 – 144.29 chở T ngồi phía sau, lưu thông trên Quốc lộ B, hướng về thành phố Đ. Đi tiếp được khoảng 01 km thì có chốt Cảnh sát giao thông nên Tuyết H đã tăng tốc độ, vượt qua chốt kiểm tra. Khi đi đến vị trí Km 98+800 là đoạn đường cua về bên phải theo hướng N - Đ, Tuyết H không làm chủ tốc độ, phương tiện nên đã để xe mô tô, chở T ngồi sau lao vào đường mương bên trái đường (theo hướng N - Đ) rồi tiếp tục lao lên ta luy đất, va chạm vào gốc cây rồi rơi xuống đường mương.

Hậu quả: Nguyễn Đặng Tuyết H, Đặng Công T bị thương nặng, đến 04 giờ 40 phút, ngày 15/8/2024, Tuyết H chết do chấn thương sọ não; xe mô tô biển kiểm soát 49B2 – 144.29 bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 14/8/2024; kết quả dựng lại hiện trường ngày 17/8/2024 đã xác định hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại vị trí Km 98+800, Quốc lộ B, thuộc địa giới hành chính xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; tại hiện trường có 01 xe mô tô biển kiểm soát 49B2 – 144.29 tại lòng mương thoát nước bên trái đường (hướng N - Đ); nhiều dấu vết cày, vết hằn trên mặt đường, trên thành mương, vết máu, mảnh nhựa vỡ (nghi là của xe mô tô BKS 49B2 – 144. 29).

Kết quả khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 16/8/2024 xác định mô tô biển kiểm soát 49B2 – 144. 29 bị gãy, vỡ, cong vênh, biến dạng nhiều bộ phận.

Kết luận giám định số 1023/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của phòng K1 - Công an tỉnh L kết luận:

  • - Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 49B2-144.29 với phương tiện tham gia giao thông khác.
  • - Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe mô tô biển số 49B2-144.29 vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.
  • - Chiều hướng lưu thông: Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tôt biển số 49B2-144.29 lưu thông trên Quốc lộ B, xã Đ, huyện L theo hướng đi từ N về hướng thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
  • - Không đủ cơ sở kết luận vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 49B2-144.29 với mặt đường, vật cản.
  • - Không đủ cơ sở kết luận vùng va chạm đầu tiên giữa chị Nguyễn Đặng Tuyết H (SN: 2007; Nơi ở: V, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng) với mặt đường, vật cản.

Kết luận giám định tử thi số 157/KLGĐTT-PC09 ngày 16/8/2024 của phòng K1 - Công an tỉnh L kết luận tử thi Nguyễn Đặng Tuyết H: “Vỡ xương trán trái, gãy xương hàm trên, ra máu tai phải, bầm tím sau tai phải; nguyên nhân tử vong: do chấn thương sọ não”.

Giấy khai sinh số 260, quyển số 2/2007, đăng ký ngày 30/10/2007 tại UBND phường C1, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đã xác định Nguyễn Đặng Tuyết H sinh ngày 15/01/2007. Đặng Công T biết rõ Nguyễn Đặng Tuyết H chưa đủ 18 tuổi nên chưa có giấy phép lái xe theo quy định.

Vật chứng của vụ án là 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius BGY3, biển kiểm soát 49B2 – 144.29.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Hồng S và ông Đặng Công C – là bố mẹ đẻ của bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 20.000.000 đồng chi phí mai táng.

Bản cáo trạng số 02/VKS-LD ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, truy tố bị cáo Đặng Công T, về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Đặng Công T khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  • - Đại diện người bị hại: Ông Nguyễn Quang M, bà Đặng Thị L – là bố mẹ đẻ của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng S, ông Đặng Công C – là bố mẹ đẻ của bị cáo không yêu cầu gì đối với bị cáo về số tiền đã bồi thường cho gia đình người bị hại và không có yêu cầu gì đối với chiếc xe bị hư hỏng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên nội dung của bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 36; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 264; Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Công T từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu; đại diện người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét.

Bị cáo, các đương khác không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.

[2]. Về tố tụng: Những người làm chứng đều vắng mặt, xét thấy trong quá trình điều tra, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của người những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án; Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Ngày 14 tháng 8 năm 2024, bị cáo biết người bị hại Nguyễn Đặng Tuyết H chưa đủ tuổi thi sát hạch và chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, nhưng bị cáo vẫn giao xe mô tô có dung tích xi lanh 110 cm³ cho chị Hồng điều K, chở bị cáo ngồi phía sau và tự gây tai nạn; hậu quả là chị H tử vong, còn bị cáo bị thương. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius BGY3, biển kiểm soát 49B2 – 144.29 bị hư hỏng nặng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/8/2024; biên bản dựng lại hiện trường ngày 17/8/2024; biên bản khám nghiệm tử thi ngày 15/8/2024; kết luận giám định tử thi số 157/KLGĐTT-PC09, ngày 16/8/2024 và kết luận giám định về dấu vết va chạm số 1023/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh L: Nguyên nhân chết của Nguyễn Đặng Tuyết H là: Vỡ xương trán trái, gãy xương hàm trên, ra máu tai phải, bấm tím sau tai phải; nguyên nhân tử vong là do chấn thương sọ não. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:

Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo biết chị H không có giấy phép lái xe nhưng vẫn giao xe mô tô cho chị Hồng điều K xe là hành vi coi thường pháp luật; lỗi vi phạm chủ yếu thuộc về bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình gây ra. Bị cáo phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên áp dụng Điều 91 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại; đại diện người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có bà nội (bà Lê Thị M1), là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng nhất nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6]. Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; áp dụng một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo hiện đang theo học lớp 12 – Trường Cao đẳng N1 và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ, cho bị cáo cải tạo ngoài cộng đồng, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, gia đình bị cáo, để bị cáo có thời gian học tập, tu dưỡng để trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[7]. Bị cáo còn đang đi học, bản thân đang phụ thuộc cha mẹ, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius BGY3, biển kiểm soát 49B2 – 144.29, đứng tên Nguyễn Thị Hồng S – mẹ ruột bị cáo, bà S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Việc bị cáo tự ý lấy xe mô tô của mẹ bị cáo, bà S không biết nên không xử lý trách nhiệm đối với bà S.

[11]. Đối với số tiền 20.000.000 đồng mà bà Nguyễn Thị Hồng S và ông Đặng Công C đã bồi thường cho gia đình người bị hại; bà S, ông C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12]. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1· Tuyên bố bị cáo Đặng Công T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 264; Điều 36; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 90, 91 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Công T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Đặng Công T cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Công T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lạc Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Lạc Dương;
  • - Công an huyện Lạc Dương (THAHS, CQCSĐT);
  • - Bị cáo; Đại diện người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phương Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS - ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 03/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dang Cong Th (D 264)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger