|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HSST Ngày: 20/8/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Toàn; Ông Nguyễn Xuân Tào
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh, Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TL- HSST ngày 16 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST - HS, ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Đ; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 07 tháng 9 năm 2003, tại xã K, tỉnh Hà Tĩnh; CCCD: [...], cấp ngày 16/6/2021, nơi cấp: Cục C về TTXH; nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, tỉnh Hà Tĩnh (thôn Đ, xã K, huyện K cũ); Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Trần H và bà: Phạm Thị P; anh em ruột có 6 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 23 tháng 5 năm 2025 cho đến nay; có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Anh Nguyễn Xuân B, sinh năm: 2004; Nơi cư trú: xã K, tỉnh Hà Tĩnh (xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cũ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn T; Sinh năm: 1995; Nơi cư trú: xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Thôn H, xã K, huyện T cũ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Chị Phan Thị Hoài T1; Sinh năm: 2006; Nơi cư trú: xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Thôn Đ, xã K, huyện T cũ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vắng mặt
- Anh Hồ Tiến N; Sinh năm 2003; Nơi cư trú: xã K, tỉnh Hà Tĩnh ( thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cũ), Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vắng mặt
- Anh Tô Văn S; Sinh năm 2001; Nơi cư trú: xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cũ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vắng mặt
- Anh Trần Văn N1; Sinh năm 2000; Nơi cư trú: xã K, tỉnh Hà Tĩnh ( Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cũ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 21/03/2025, Trần Văn Đ đến nhà anh Trần Văn N1 (Bạn với Đ), sinh năm 2000, ở tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn Đ, xã K, tỉnh Hà Tĩnh) tham dự liên hoan anh N1 đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi mọi người đã về gần hết chỉ còn Đ, anh N1, anh Nguyễn Xuân B, sinh năm 2004, trú tại thôn P, anh Tô Văn S, sinh năm 2001, trú tại thôn Đ, xã K, tỉnh Hà Tĩnh và anh Hồ Tiến N, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã K, tỉnh Hà Tĩnh ngồi lại tiếp tục uống rượu với nhau. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày Đ, anh S và anh B đi ra ngoài sân đứng nói chuyện với nhau, một lúc sau Đ quay vào thì thấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu trắng của anh Nguyễn Xuân B để trên chiếu nơi Đ và mọi người ngồi uống rượu với nhau, nên Đ đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. Đ lấy bỏ vào túi quần bên phải phía trước, lấy xong chiếc điện thoại thì anh S đi vào rồi rủ Đ qua nhà anh S chơi, nên anh S điều khiển xe mô tô của mình chở Đ về nhà chơi. Sau khi Đ và anh S về thì anh B đi vào phát hiện không thấy điện thoại của mình để trên chiếu, nên tìm kiếm một lúc nhưng không thấy rồi cùng với Hồ Tiến N đến nhà anh S gặp Đ và anh S hỏi có cầm nhầm điện thoại của anh Bằng K, nhưng Đ và S trả lời không cầm. Sau đó anh B và anh N tiếp tục đi tìm điện thoại, còn Đ được S chở về nhà ở xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi về nhà, Đ lấy điện thoại cất giấu ở cuối giường trong phòng ngủ của mình.
Đến sáng ngày 02/04/2025, do lo sợ bị mọi người biết mình lấy trộm điện thoại của anh B, nên Đ đến nhà anh Trần Văn T, sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Bạn với Đ) nói với anh T mấy ngày trước đi uống rượu có cầm nhầm chiếc điện thoại của một người bạn, giờ muốn trả lại nhưng nếu đến đưa trực tiếp thì ngại nên muốn nhờ anh T đăng trên Facebook nói nhặt được điện thoại và tìm người trả lại, anh T đồng ý giúp. Sau đó, Đ đi về nhà soạn thông tin nhặt được điện thoại rồi kèm hình ảnh chiếc điện thoại gửi cho anh T để nhờ anh T đăng trên Facebook cá nhân của anh T. Tối cùng ngày, khi thấy anh T đăng bài trên Facebook cá nhân thì Đ đi sang nhà và đưa điện thoại cho anh T. Sau khi anh T đăng bài thì Đ có nhắn tin cho chị Phan Nguyễn Hoài T2, sinh năm 2006, trú tại thôn Đ, xã K, tỉnh Hà Tĩnh là người yêu của anh B về việc nhìn thấy bài đăng của anh T nhặt được chiếc điện thoại và nói chị T2 liên hệ xem có phải điện thoại của anh Bằng không để xin nhận lại. Ngày 03/04/2025 anh B cùng chị T2 liên hệ và gặp T xin nhận lại chiếc điện thoại. Sau khi về nhà, anh B nghi ngờ chiếc điện thoại của mình là bị lấy trộm chứ không phải bị đánh rơi. Ngày 08/4/2025, anh Nguyễn Xuân B đã đến Công an thị trấn K, huyện K (Nay là Công an xã K, tỉnh Hà Tĩnh) làm đơn trình báo sự việc. Ngày 09/4/2025, Công an thị trấn K, huyện K (Nay là công an xã K, tỉnh Hà Tĩnh) triệu tập Trần Văn Đ lên làm việc và Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/HĐĐG ngày 25/04/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện K, xác định: Giá trị của 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 promax, dung lượng 128GB, màu trắng, số IMEI 35 777175 001524 5, số IMEI2 35 777175 040008 2, máy đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra vụ việc là 11.000.000 đồng.
Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 promax, dung lượng 128GB, màu trắng, số IMEI 35 777175 001524 5, số IMEI2 35 777175 040008 2, máy đã qua sử dụng từ anh Nguyễn Xuân B, hiện nay đã trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Xuân B.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh Nguyễn Xuân B không yêu cầu bị cáo Trần Văn Đ bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản cáo trạng số 01/CT- VKS - KV2 ngày 15 tháng 07 năm 2025, của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn Đ mức án từ 07 đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu thêm gì về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
- Về vật chứng vụ án: Các vật chứng vụ án đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn Đ theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Bị cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của Trần Văn Đ lợi dụng sơ sở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, đã lét lút với chủ sở hữu chiếm đoạt tài sản là một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 promax, trị giá 11.000.000 đồng. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của Trần Văn Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không có gì oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Hành vi của Trần Văn Đ đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 11.000.000 đồng, sau khi thực hiện hành vi, bị cáo đã chủ động tìm cách để trả lại chiếc điện thoại cho anh Nguyễn Xuân B trước khi hành vi bị phát hiện. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ rằng, có nhân thân tốt, nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm minh.
[6] Trong vụ án có anh Trần Văn T là người được Trần Văn Đ nhờ đăng thông tin nhặt được điện thoại và là người trực tiếp trả lại chiếc điện thoại trên cho anh Nguyễn Xuân B, căn cứ các tài liệu điều tra thu thập được có đủ căn cứ để khẳng định Trần Văn T không biết việc Đ thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại đó. Thời điểm nhận chiếc điện thoại trên, anh T cũng không biết chiếc điện thoại là do Đ phạm tội mà có. Vì vậy, hành vi của Trần Văn T không đồng phạm với Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”, cũng như không cấu thành tội phạm khác.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu thêm gì về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.
[8] Về vật chứng vụ án: Các vật chứng vụ án đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
-
Về hình phạt chính: Xử phạt Trần Văn Đ 08 (T3) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn Đ cho Công an tỉnh H; Công xã Kỳ Khang và Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Công an và chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Xử buộc bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng: Bị cáo, bị hại được quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng bị cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tư ngày niêm yết bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà |
|
|
Nguyễn Mạnh Cường |
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - VKSND khu vực 2 – Hà Tĩnh;
- - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- - Công an Hà Tĩnh (PV 06)
- - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
- - Phòng Giám đốc, KT,TT và THA Toà án tỉnh;
- - Công an xã Kỳ Khang (2 bản);
- - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
- - Người có QLNVLQ
- - Lưu hồ sơ vụ án;
- - Lưu án văn, HS vụ án
Bản án số 03/2025/HSST ngày 20/08/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 03/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 16 tháng
