|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 03 /2025/HSST Ngày: 10-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Thế Vinh.
2. Ông Lê Hồng Tâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Thất Nhật Tài, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên, Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Hà Văn H, sinh ngày 24/7/1997 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); căn cước công dân số: [...], cấp ngày 28/8/2022; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn N và bà Phan Thị X; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cưu trú từ ngày 30/9/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Hoàng Nhật T, sinh năm 1999; trú tại: F P, phường Đ, quận P, thành phố H. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 12/2023, tại nhà của Hà Văn H ở thôn T, xã P, huyện P, thành phố H. H đã sử dụng điện thoại Iphone 11 truy cập vào mạng xã hội facebook với tài khoản có tên “Mỹ Tâm”, hình đại diện là nữ giới. Sau đó làm quen với anh Hoàng Nhật T, có tài khoản facebook tên “Hoàng T”. Anh T nghĩ người sử dụng facebook có tên "Mỹ Tâm” là nữ nên anh T đã nhắn tin “chát sex – nghĩa là gửi cho nhau những từ ngữ, video, hình ảnh nhạy cảm” với H. H truy cập vào các trang web (không xác định cụ thể trang web nào) tải về những video, hình ảnh nhạy cảm và sử dụng để gửi cho với anh T; phía anh T cũng sử dụng những từ ngữ nhạy cảm và tự quay video nhạy cảm của bản thân để gửi cho H. Sau đó, T phát hiện người sử dụng facebook “Mỹ Tâm” là nam nên dừng nhắn tin.
Ngày 09/02/2024, H nhắn tin cho T, thì T chặn liên lạc. Ngày 12/02/2024, H nhắn tin cho người dùng facebook có tên "Minh A” (là người yêu của T) với nội dung “Alo chị ơi chị là vợ thẳng tiến đúng ko chị, em là ny của mỹ tâm em có chút chuyện muốn tìm tiến mà tiến khoá fb, chị cho em sát hoặc sử lý ko thôi là em cho nổi nhất huế chị hỉ”, “Chị cứ bảo là có th hải ny của mỹ tâm thuận an", "Ko chị cho em so sdt hắn cũng được á chị”. Đến ngày 13/02/2024, T nhắn tin với H nên H yêu cầu T phải chuyển cho H số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), nếu không H sẽ đưa những hình ảnh, video nhạy cảm mà T đã gửi cho H lên mạng xã hội hoặc sẽ gửi cho người thân, bạn bè của T. Ngày 15/02/2024, thấy T chưa chuyển tiền nên H đã đổi tên facebook “Mỹ Tâm” thành “Hoàng Tiến” và sử dụng hình ảnh của T làm ảnh đại diện của facebook "Hoàng Tiến” này; sau đó sử dụng facebook này để nhắn tin với T, doạ sẽ đưa một số đoạn tin nhắn chát sex của T lên mạng nhằm đe doạ, buộc T phải chuyển tiền cho H. H chụp ảnh màn hình facebook bạn bè, người thân, người yêu của T và doạ sẽ gửi những hình ảnh, video trên cho họ xem nếu T không chuyển tiền cho H.
Đến ngày 14/3/2024, Hà Văn H tiếp sử dụng facebook “Hoàng T” truy cập vào facebook "Quynh An" (facebook của mẹ T, là bà Lê Thị Quỳnh A1, sinh năm 1975, trú tại F P, phường P, thành phố H) và bình luận trong một bài viết của facebook trên (không xác định được bài viết cụ thể nào) với nội dung “Con trai thích bú lozz” kèm hình ảnh tin nhắn chát sex của T. Sau đó, H chụp lại ảnh màn hình ghi lại nội dung bình luận trên và nhanh chóng thu hồi đoạn bình luận (kèm hình ảnh) này. Đồng thời, H gửi hình ảnh vừa chụp trên cho T nhằm đe doạ, yêu cầu T chuyển tiền.
Đến ngày 09/5/2024, T gọi điện thoại (qua facebook) cho H để yêu cầu H không đe doạ nữa, xoá hình ảnh, video liên quan đến T và hứa sẽ chuyển cho H số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). H đồng ý và nhắn tin cung cấp cho T 02 (hai) số tài khoản ngân hàng và yêu cầu T chuyển 1.000.000 đồng vào số tài khoản 9347730705 (T1), tên HOANG VAN LONG; chuyển 1.000.000 đồng vào số tài khoản 5511485466 (B) mang tên HA VAN HAI. T đã chuyển tiền theo đúng yêu cầu của H. Sau khi nhận được tiền, H tiêu xài cá nhân hết và xoá những hình ảnh, video liên quan đến T, không thực hiện hành vi đe doạ nhằm cưỡng đoạt tài sản của T lần nào nữa. Đến tháng 8/2024, anh T biết được đối tượng đe doạ, tống tiền mình là Hà Văn H nên đến trình báo Công an để xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động loại Iphone11, số Imei 353980101578686 (đã qua sử dụng).
Về dân sự: Bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho anh T số tiền 2.000.000 đồng. Anh T có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.
Tại Bản cáo trạng số 02/CT-VKSPV ngày 27/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H đã truy tố bị cáo Hà Văn H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát huyện P vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 170; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động loại Iphone11, số Imei 353980101578686 (đã qua sử dụng).
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà bị cáo Hà Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân và chơi game, ngày 13/02/2024, tại nhà của Hà Văn H, ở thôn T, xã P, huyện P, thành phố H, H có hành vi sử dụng điện thoại Iphone 11, truy cập vào mạng xã hội facebook, nhắn tin yêu cầu anh Hoàng Nhật T phải chuyển tiền cho H nếu không H sẽ phát tán lên mạng xã hội hoặc gửi cho bạn bè, người thân của T những tin nhắn, hình ảnh, video nhạy cảm mà anh T đã tự quay gửi cho H trước đó. Sau nhiều lần bị H uy hiếp, ngày 09/5/2024, anh T đã chuyển cho H tổng số tiền là 2.000.000 đồng theo yêu cầu. Hành vi của Hà Văn H đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang truy tố bị cáo Hà Văn H về hành vi phạm tội như trên là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiến đoạt tài sản là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội nên cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo có nhân thân tốt; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần cách ly bị cáo ra đời sống xã hội mà áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Đối với 01 (một) điện thoại di động loại Iphone11, số Imei 353980101578686 (đã qua sử dụng), bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo đã bồi thường cho anh T số tiền 2.000.000 đồng, anh T không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Văn H 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hà Văn H cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động loại Iphone11, số Imei 353980101578686 (đã qua sử dụng), có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 03/2025/HSST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 03/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
