|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 1 - THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày 28 tháng 10 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan – Giáo viên nghỉ hưu
Ông Lê Văn Luận – Cán bộ hưu trí.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND khu vực 1 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao K - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh ngày 04/6/2009 tại Thanh Hóa (khi phạm tội bị cáo 16 tuổi, 01 tháng, 19 ngày); Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Phố Q, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; con ông: Trần Văn B và bà Lê Thị H; vợ: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn Đ: Ông Trần Văn B, sinh năm 1984 (có mặt). Trú tại: Phố Q, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ: Bà Lê Thu H1 – Trợ giúp viên pháp lý; công tác tại: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Địa chỉ: Số C Đại lộ L, phường H, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị hại: Ông Đào Xuân T, sinh năm 1968 (vắng). Trú tại: Phố N, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Lê Trần H2, sinh ngày 09/11/2010(vắng). Trú tại: Phố Q, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện hợp pháp của anh H2: Ông Lê Ngọc M, sinh năm 1982(vắng). Trú tại: Phố Q, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 00 giờ ngày 23/7/2025, Lê Trần H2, sinh ngày 09/4/2010, trú tại phố Q, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa rủ Trần Văn Đ đi trộm cắp tài sản. H2 chuẩn bị và mang theo 01 ba lô vải màu trắng đen; 01 kìm cắt; 01 đèn pin rồi cùng Đ đi bộ dọc theo tuyến đường T, thuộc phố N, phường Đ. Khi đi đến xưởng cơ khí của gia đình anh Đào Xuân T, sinh năm 1968, trú tại phố N, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa quan sát thấy cửa ra vào bên ngoài có khóa, bên trong điện tắt không có người trông coi, Đ và H2 đi đến bờ tường rào xây bằng gạch phía Bắc, phía trên bờ tường có hàng rào lưới thép B40 gắn với mái tôn, phía dưới có nhiều lốp ô tô hư hỏng dựng sát bờ tường rào. Lúc này H2 cầm đèn pin mang theo rọi cho Đ đứng trên hàng lốp ô tô dùng kìm cắt hàng rào thép B40 tạo thành một lỗ có kích thước 0,71 x 0,57 m. Đ và Hoàng chui qua đi vào bên trong xưởng cơ khí, rồi đi qua cửa gỗ (không khóa) thông với phòng ngủ của xưởng lục soát. Tại khu vực phòng ngủ, Đ và H2 lấy trộm 01 (một) máy khoan điện; 01 (một) máy khoan pin; 02 (hai) máy bắn ốc vít bằng hơi; 01 (một) máy bắn vít bằng pin; 03 (ba) máy mài điện; 01( một) máy mài pin; 05 (năm) cục P rời cho vào ba lô vải mang theo; 01 (một) máy cắt sắt rồi chuyển ra khu vực chân hàng rào chỗ Đ và Hoàng chui vào;
Khi đang chuẩn bị đưa toàn bộ tài sản trộm cắp được ra bên ngoài thì phát hiện có người đi xe máy đến. Đ chui qua hàng rào chạy ra ngoài đường thì bị Công an phường Đ và anh T bắt giữ, còn H2 chạy ra khu vực chợ T1 thuộc phường H, tỉnh Thanh Hóa trốn. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, H2 bị Công an phường Đ đưa về trụ sở để làm việc .
Ngày 22/8/2025, Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa có Kết luận định giá tài sản số 270/KL-HĐĐG, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 7.633.333₫ (Bảy triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba ba đồng).
Đồ vật thu giữ gồm:
- 01 (một) ba lô vải màu trắng đen; 01 (một) đèn pin; 01 (một) kìm cắt;
- 01 (một) máy khoan điện màu xanh bạc, không rõ nhãn hiệu;
- 01 (một) máy khoan pin màu xanh đen, nhãn hiệu MAKITA;
- 01 (một) máy bắn ốc vít bằng hơi, màu vàng xám, nhãn hiệu TOP ONE;
- 01 (một) máy bắn ốc vít bằng hơi màu cam bạc, không rõ chủng loại;
- 01 (một) máy bắn ốc vít bằng pin, màu đen bạc, nhãn hiệu HITACHI;
- 03 (ba) máy mài điện gồm: 01 máy nhãn hiệu PANDA màu đỏ đen và 02 máy nhãn hiệu SENCAN màu cam;
- 01 (một) máy mài pin nhãn hiệu MAKITA màu xanh bạc;
- 05 (năm) cục pin rời gồm: 02 cục nhãn hiệu pin đóng nhãn PHAMLOC màu đỏ đen; 01 cục nhãn hiệu MACAN màu đen cam; 01 cục nhãn hiệu MAKITA màu đỏ đen; 01 cục nhãn hiệu BATTER Y màu đỏ đen;
- 01 (một) máy cắt sắt loại lớn, màu đỏ đen, nhãn hiệu ROMANO RM-352.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp cho chủ sở hữu là ông Đào Xuân T. Còn lại 01 (một) ba lô vải màu trắng đen; 01 (một) đèn pin và 01 (một) kìm cắt, xác định là công cụ, phương tiện phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Thanh Hóa ra Quyết định chuyển vật chứng đến Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1 – Thanh Hóa bảo quản xử lý theo quy định.
Về phần dân sự: ông Đào Xuân T đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không yêu cầu gì.
Tại Quyết định số: 01/QĐ -VKSKV1 ngày 14/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 119; Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo từ 06 - 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 - 18 tháng.
Về trách nhiệm dân sự đề nghị công nhận phần dân sự giữa bị hại, bị cáo đã giải quyết xong;
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh, điều luật mà đại diện VKS đề nghị áp dụng. Tuy nhiên khi phạm tội và đến thời điểm tại phiên toà bị cáo chưa đủ 18 tuổi, đang là học sinh, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chưa nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó Trợ giúp viên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 cho bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt mà đại diện VKS đề nghị.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo thống nhất nội dung bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý và không bổ sung gì thêm.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 00 giờ ngày 23/7/2025, tại xưởng cơ khí của gia đình ông Đào Xuân T ở phố N, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa phát hiện cửa ra vào bên ngoài có khóa, bên trong điện tắt không có người trông coi, Lê Trần H2 và Trần Văn Đ dùng kìm cắt hàng rào thép B40 chui vào bên trong xưởng trộm cắp 01 (một) máy khoan điện; 01 (một) máy khoan pin; 02 (hai) máy bắn ốc vít bằng hơi; 01 (một) máy bắn vít bằng pin; 03 (ba) máy mài điện; 01( một) máy mài pin; 05 (năm) cục P rời cho vào ba lô vải mang theo; 01 (một) máy cắt sắt có tổng giá trị 7.633.333 đồng rồi chuyển ra khu vực chân hàng rào thì bị phát hiện bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn Đ có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như quyết định truy tố của VKSND khu vực 1 – Thanh Hoá là đúng.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt một cách nhanh nhất rồi mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, h, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 91 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà mình gây ra.
Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên việc cách ly bị cáo là không cần thiết, mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về người có liên quan: Trong vụ án này, còn có Lê Trần Hoàng C thực hiện hành vi “trộm cắp tài sản” với Trần Văn Đ. Tuy nhiên, H2 là người dưới 16 tuổi, theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì H2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Trần H2.
[6] Về phần dân sự: Theo báo cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã nhận đầy đủ và không yêu cầu gì thêm. Do đó cần công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) ba lô vải màu trắng đen; 01 (một) đèn pin và 01 (một) kìm cắt là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 của Bộ luật Hình sự; Điều 119; Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; khoản 1 điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Trần Văn Đ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn Đ cho UBND phường Đ, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) ba lô vải màu trắng đen; 01 (một) đèn pin; 01 (một) kìm cắt bằng tay.
Hiện toàn bộ số vật chứng trên đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thanh Hoá, theo biên bản giao nhận vật chứng số 09 ngày 17/10/2025 giữa Công an tỉnh T với Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.
Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Hào |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
