|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 05/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lưu Xuân Giới và ông Trần Văn Nam
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đông Triều.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 01/TB-TA ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với:
* Bị cáo: Đoàn Tuấn A; sinh ngày 10/01/2000, tại Đ, Quảng Ninh; nơi thường trú: khu B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn T và bà Phùng Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/10/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Họ và tên: anh Nguyễn Thành D, sinh năm: 1994.
- Nơi thường trú: khu T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt không có lý do.
- - Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh năm 2004.
- Nơi thường trú: thôn H, xã T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người chứng kiến:
- Ông Bùi Tố V, vắng mặt không có lý do;
- Ông Bùi Kim T2, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: do có nhu cầu sử dụng ma túy cần sa nên ngày 02/10/2024, Đoàn Tuấn A lên mạng xã hội zalo tìm và đặt mua của một người thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) 1.000.000đ (Một triệu đồng) ma túy cần sa. Cùng ngày, Tuấn A nhận được túi nilon chứa ma túy do người bán gửi đến thông qua dịch vụ xe ô tô khách và đem về cất giấu ở nhà tại khu B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, để sử dụng dần.
Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 30/10/2024, Nguyễn Thành D (sinh năm 1994, trú tại khu T, phường T, thành phố Đ), gọi điện thoại cho Tuấn A hỏi mua 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) ma túy cần sa để sử dụng. Tuấn A nảy sinh ý định bán túi ma túy cần sa còn lại cho D nên đồng ý bán và thống nhất đến quán nước chè ở đối diện ngã 3 rẽ vào Ủy ban nhân dân phường T, thuộc khu T, phường T, thành phố Đ để giao dịch. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, Tuấn A đến gặp và mượn của anh Nguyễn Văn P (sinh năm 2004, trú tại thôn H, phường V, thành phố Đ) chiếc xe mô tô (nhãn hiệu Honda Airblade, không gắn biển số) nói là đi có việc, rồi điều khiển xe môtô đi đến điểm hẹn gặp D. Tại đây, Tuấn A đưa cho D 01 (một) túi nilon chứa cần sa, D nhận và cất túi cần sa vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đưa cho Tuấn A 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), thì bị Tổ công tác của Công an thành phố Đ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Tuấn A số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, gắn sim số 0867.664.028. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải D đang mặc có 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (07x04)cm chứa thực vật khô.
Tại bản Kết luận giám định số 1697/KL-KTHS ngày 05/11/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Thành D gửi giám định là ma túy; Loại cần sa; Khối lượng là 0,403 gam (không phẩy bốn không ba gam).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Đoàn Tuấn A khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có lời khai tại cơ quan điều tra, cụ thể:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành D khai: khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 30/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy cần sa nên anh đã gọi điện cho Đoàn Tuấn A hỏi mua 01 túi ma túy cần sa với giá 400.000đ thì Tuấn A đồng ý bán cho anh. Đến khoảng 13 giờ 30 phút, tại quán nước đối diện ngã 3 rẽ vào UBND phường T, Đoàn Tuấn A đã bán cho anh 01 túi nilon chứa cần sa với giá 400.000đ. Sau khi nhận túi nilon chứa cần sa, anh cho vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi trả Tuấn A số tiền 400.000đ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0329.516.217, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại anh, nay anh không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn P trình bày: anh và Đoàn Tuấn A là bạn bè xã hội với nhau. Khoảng 13 giờ ngày 30/10/2024, Đoàn Tuấn A đã mượn anh chiếc xe mô tô Honda Airblade màu đen, không gắn biển số. Anh không biết Đoàn Tuấn A sử dụng chiếc xe mô tô này đi bán ma túy. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại anh chiếc xe này, nay anh không có yêu cầu, đề nghị gì.
Quá trình điều tra, Người chứng kiến là các ông Bùi Kim T2 và Bùi Tố V đều trình bày: khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 30/10/2024, các ông được lực lượng Công an mời đến quán nước chè đối diện ngã 3 rẽ vào UBND phường T để chứng kiến việc kiểm tra đối với 02 nam thanh niên. Tại chỗ, 02 nam thanh niên lần lượt khai nhận tên là Đoàn Tuấn A và Nguyễn Thành D. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện tại lòng bàn tay phải của Đoàn Tuấn A đang cầm số tiền 400.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, gắn sim số 0867.664.028. T3 tại túi quần bên phải phía trước D đang mặc có 01 túi nilon kích thước (07x04)cm, chứa thực vật khô (nghi là ma túy). Tại chỗ, Đoàn Tuấn A và Nguyễn Thành D khai nhận Tuấn A vừa bán cho D 01 túi cần sa khô với giá 400.000đ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 420/CT-VKS-ĐT ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đoàn Tuấn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố có quan điểm vẫn giữ nguyên như nội dung Cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Tuấn A từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 30/10/2024.
- Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 sim số 0867.664.028;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max và số tiền 400.000 đ sung ngân sách nhà nước.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Bị cáo khẳng định: những lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung, mớm cung hoặc nhục hình; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 00 phút, ngày 30/10/2024; Kết luận giám định số: 1697 ngày 05/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q; Biên bản làm việc về nội dung kiểm tra điện thoại Đoàn Tuấn A và phù hợp với tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra C (nay là thành phố) Đông Triều lập. Do đó có đủ căn cứ kết luận: khoảng 13 giờ 40 phút ngày 30/10/2024, tại khu T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, Đoàn Tuấn A có hành vi bán trái phép 0,403 gam (không phẩy bốn không ba gam) ma túy cần sa, với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) cho Nguyễn Thành D, thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi thực hiện tội phạm nêu trên của bị cáo Đoàn Tuấn A đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 420 /CT-VKSĐT ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, nó không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, làm mất trật tự trị an trong xã hội, do đó Nhà nước đã độc quyền quản lý các chất ma túy với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Bị cáo trong vụ án này đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời; Hành vi của bị cáo đã thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, với hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; Tình tiết tăng nặng: không có. Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt đối với bị cáo:
Về hình phạt chính: qua xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:
- 01 (một) phong bì niêm phong số 1967/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc trong quá trình phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội của bị cao nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) sim điện thoại số 0867.664.xxx không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) xe mô tô Honda Airblade màu đen, không gắn biển số và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0329.516.217, quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn P và anh Nguyễn Thành D theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thành D có hành vi mua 0,403 gam (không phẩy bốn không ba gam) ma túy cần sa của Đoàn Tuấn A để sử dụng, nhưng chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính.
Liên quan trong vụ án có đối tượng bán ma túy cho Đoàn Tuấn A, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
[8]Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tuấn A phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Tuấn A 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 30/10/2024).
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xám, đã qua sử dụng.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 1967/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 sim điện thoại số 0867.664.xxx.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 35 ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Triều).
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) đang lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước Đông Triều theo Công văn số 5446/CV-CSMT “V/v gửi gói niêm phong” ngày 08/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phiếu nhập kho ngày 11/11/2024 của Kho bạc Nhà nước Đ.
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đoàn Tuấn A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/02/2025).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Hiếu |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 05/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: do có nhu cầu sử dụng ma túy cần sa nên ngày 02/10/2024, Đoàn Tuấn A lên mạng xã hội zalo tìm và đặt mua của một người thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) 1.000.000đ (Một triệu đồng) ma túy cần sa. Cùng ngày, Tuấn A nhận được túi nilon chứa ma túy do người bán gửi đến thông qua dịch vụ xe ô tô khách và đem về cất giấu ở nhà tại khu B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, để sử dụng dần. Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 30/10/2024, Nguyễn Thành D (sinh năm 1994, trú tại khu T, phường T, thành phố Đ), gọi điện thoại cho Tuấn A hỏi mua 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) ma túy cần sa để sử dụng. Tuấn A nảy sinh ý định bán túi ma túy cần sa còn lại cho D nên đồng ý bán và thống nhất đến quán nước chè ở đối diện ngã 3 rẽ vào Ủy ban nhân dân phường T, thuộc khu T, phường T, thành phố Đ để giao dịch. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, Tuấn A đến gặp và mượn của anh Nguyễn Văn P (sinh năm 2004, trú tại thôn H, phường V, thành phố Đ) chiếc xe mô tô (nhãn hiệu Honda Airblade, không gắn biển số) nói là đi có việc, rồi điều khiển xe môtô đi đến điểm hẹn gặp D. Tại đây, Tuấn A đưa cho D 01 (một) túi nilon chứa cần sa, D nhận và cất túi cần sa vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đưa cho Tuấn A 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), thì bị Tổ công tác của Công an thành phố Đ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Tuấn A số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, gắn sim số 0867.664.028. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải D đang mặc có 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (07x04)cm chứa thực vật khô.
