|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày 18-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Quang Trung.
Ông Trần Thanh Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Khúc – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo: Nguyễn Hoài P, sinh ngày: 19/10/1994, tại: Long An; nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Trịnh Thị L; bị cáo chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 20/12/2012, Công an huyện T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi hủy hại công trình công cộng; ngày 10/6/2013, bị Công an huyện T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng; ngày 05/7/2013, bị Công an huyện T, tỉnh Long An xử phạt giáo dục tại xã 06 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng; ngày 04/3/2016, Công an huyện T, tỉnh Long An xử phạt giáo dục tại xã 05 tháng 10 ngày về hành vi gây rối trật tự công cộng; ngày 06/3/2016, Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng hành vi tàng trữ dao tự chế nhằm mục đích gây thương tích; ngày 09/3/2016, Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác; ngày 12/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An quyết định đưa đi Trường G thời hạn 15 tháng.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Bị hại:
+ Bà Lê Thị Thúy A, sinh năm: 1987; Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ ngày 14/10/2024, Nguyễn Hoài P điều khiển xe mô tô biển số 67M6-3520 đến nhà bà Lê Thị Thúy A tại ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An. Sau đó, P đi bộ đến khu vực phía sau nhà của bà A và thấy cửa khóa, P leo lên vách nhà để chui vào trong và đi đến buồng nhìn thấy bà Thúy A ngủ trên giường. P đi đến vén mùng lên nhìn thấy một sọt nhựa màu xanh để trên giường phía trong vách, P leo lên giường đi lại gần nhìn thấy trong sọt nhựa có 01 cọc tiền, P liền lấy cọc tiền bỏ vào túi quần tây phía trước bên phải. Sau khi bỏ cọc tiền vô túi, P thấy trong sọt có 300.000 đồng (01 tờ 100.000 đồng và 01 tờ 200.000 đồng) lấy cầm trên tay, lúc này bà Thúy A thức giấc chạy ra phía trước bật đèn, mở cửa nhà. P đi theo sau khi đến cửa buồng thì đứng lại, bà Thúy A hỏi: “Mày làm gì ở nhà tao?”, P trả lời: “Em lỡ lấy tiền của chị rồi, thôi em trả lại cho chị” và quay lại giường để lại số tiền 300.000 đồng rồi đi ra khỏi nhà, lấy xe chạy đến nhà ông Nguyễn Văn Đ ở cùng ấp. Khi đến P thấy cửa nhà mở, P kêu ông Đ xin thuốc hút, khi xin được thuốc P nằm võng hút tại nhà của ông Đ. Khoảng 03 phút sau, ông Nguyễn Văn T (chồng bà Thúy A) và Nguyễn Trọng H chạy xe đến và hỏi P: “Mày lấy tiền của tao phải không?”, P trả lời: “Không có”. Ông T kiểm tra túi quần bên phải của P phát hiện 01 cọc tiền nên ông T lấy ra và kêu ông Đ gọi điện trình báo Công an. Sau khi lực lượng Công an xã H làm việc, kiểm đếm xác định cọc tiền trên có giá trị là 8.000.000 đồng, qua làm việc P thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản tại nhà bà Lê Thị Thúy A.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ: số tiền 8.000.000 đồng (15 tờ 200.000 đồng, 50 tờ 100.000 đồng) và 300.000 đồng (01 tờ 200.000 đồng, 01 tờ 100.000 đồng); 01 xe mô tô biển kiểm soát 67M6-3520, nhãn hiệu FUSACO, màu: đỏ; số máy: VKVLM152FMHF201257; số khung: RMKWCH 2UM7K201257.
Ngày 23/10/2024, Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T xác nhận số tiền 8.300.000 đồng trong túi niêm phong được kiểm tra là tiền thật và đủ tiêu chuẩn lưu thông.
Ngày 23/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Long An đã trả lại cho bà A số tiền 8.300.000 đồng; ngày 03/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại cho bà Trịnh Thị L 01 xe mô tô biển kiểm soát 67M6-3520, nhãn hiệu FUSACO; số máy: VKVLM152FMHF201257; số khung: RMKWCH2UM7K201257.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-TH ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoài P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Người bị hại bà Lê Thị Thúy A, ông Nguyễn Văn T trình bày được tóm tắt như sau: Bà A, ông T thống nhất theo nội dung cáo trạng số 01/CT-VKS-TH ngày 31/12/2024 đã nhận. Bà A, ông T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường đối với bị cáo.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Hoài P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 32, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo P.
Về vật chứng: Ghi nhận việc trả lại tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T cho người bị hại là ông Nguyễn Văn T, bà Lê Thị Thúy A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trịnh Thị Lệ .
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nào khác nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoài P thừa nhận hành vi phạm tội đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng truy tố, cụ thể vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 14/10/2024, tại ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Long An, Nguyễn Hoài P đã lén lút lấy của ông Nguyễn Văn T, bà Lê Thị Thúy A số tiền 8.300.000 đồng.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo đã được đối chiếu phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, những chứng cứ khác đã được thẩm tra trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa nên có đủ cơ sở pháp lý để xác định hành vi của bị cáo thể hiện ở mặt khách quan của tội phạm là thực hiện hành vi lén lút, bí mật đối với chủ sở hữu tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tài sản bị cáo chiếm đoạt là 8.300.000 đồng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Tính chất phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản. Đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi lo sợ. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị Tòa án đưa đi Trường G. Tuy nhiên, sau khi phạm tội đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là tình tiết cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm i, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173, Điều 32, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1, 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo P từ 09 đến 12 tháng tù là có căn cứ.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì ngoài việc chịu hình phạt chính, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Xét thấy, bị cáo chưa có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
[7] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Ghi nhận việc trả lại tài sản của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[8] Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Hoài P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các Điều 32, 38, 50, điểm i, s khoản 1 và khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Hoài P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhân
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Chí Dũng |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoài P trộm cắp tiền
