|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày: 05-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Thanh Bình
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Trần Văn Sinh
Ông: Phạm Ngọc Huấn
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thượng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS, ngày 07 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
Nguyễn Đắc D, sinh ngày 26/5/1988; tại: Xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đắc Đ và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, (Có mặt);
Nguyễn Đắc T1, sinh ngày 29/06/1995; tại: Xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đắc Á và bà Lý Thị N; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, (Có mặt);
Lý Văn T2, sinh ngày 26/08/1994; tại: Xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn T3 và bà Lường Thị P; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, (Có mặt);
Nông Văn L, sinh ngày 09/11/1989; tại: Xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn Q và bà Triệu Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, (Có mặt).
* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Đắc D, Lý Văn T2, Nông Văn L: Bà Đỗ Thị X, Trợ giúp viên Pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).
* Nguyên đơn dân sự: UBND huyện N; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc C, chức vụ; Chủ tị ch UBND huyện N (Vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Thu N1, chức vụ: Trưởng phòng NN&PTNT (nay là phòng Nông nghiệp và Môi trường) huyện N (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hoàng Văn T4, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã D, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt);
Ông Phùng Văn L1, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã D, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt);
Ông Nguyễn Đắc Đ, sinh năm 1957, trú tại thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957, trú tại thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt);
Ông Lý Văn H1, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/7/2024 Hạt kiểm lâm huyện N phối hợp với Công an, chính quyền địa phương xã Q tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng theo kế hoạch tại khu rừng Khu Ổ thuộc thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện 01 cây gỗ rừng tự nhiên loài thông thường (gọi theo tiếng địa phương cây gỗ có tên Mạy D1) bị khai thác trái phép. Vị trí cây gỗ bị khai thác trái phép nằm tại tọa độ X448019, Y2442353 thuộc thửa đất số 22, lô 6, khoảnh 2, tiểu khu B thuộc thôn N, xã Q, huyện N. Theo bản đồ quy hoạch 3 loại rừng năm 2018 xã Q là rừng tự nhiên sản xuất do ông Nguyễn Đắc Đ sinh năm 1957, trú tại thôn N, xã Q, huyện N quản lý. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện cây gỗ bị khai thác trái phép đã cắt thành 08 khúc khác nhau, trong đó có 05 khúc đã xẻ thành 22 hộp có khối lượng 6,756m³ (quy ra tròn 10,809m³); còn lại 03 khúc gỗ tròn (khúc số 3 có 2 nhánh) có khối lượng 6,527m³. Sau khi kiểm tra, xác minh, lập biên bản Hạt Kiểm lâm huyện N đã chuyển vật chứng (22 hộp gỗ) cùng tài liệu liên quan đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N để giải quyết theo quy định.
Sau khi tiếp nhận vụ việc, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành xác minh thu thập tài liệu xác định: Người thực hiện hành vi khai thác cây gỗ nêu trên là Nguyễn Đắc D sinh năm 1988, Nông Văn L sinh năm 1989, Lý Văn T2 sinh năm 1994 và Nguyễn Đắc T1 sinh năm 1995 đều trú tại thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Ngày 17/7/2024 Nông Văn L đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc máy cưa xăng và lam xích sử dụng để khai thác trái phép cây gỗ nêu trên.
Ngày 17/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N phối hợp với các cơ quan chức năng cùng có mặt Nguyễn Đắc D tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả: Đối chiếu với bản đồ quy hoạch 03 loại rừng xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn theo Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh B và bản đồ hiện trạng rừng xã Q năm 2023, đồng thời sử dụng máy định vị GPSMap 78 đo xác định hiện trường vị trí gốc cây gỗ bị khai thác trái phép có tọa độ X: 447999, Y: 2442346, đường kính trung bình của gốc cây 1,35m, vết cắt cao cách mặt đất 0,5m và 03 khúc gỗ tròn cây gỗ bị khai thác trái phép thuộc thửa đất số 22, lô 6, khoảnh 2, tiểu khu B, loại rừng sản xuất, trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh. Thửa đất số 22 được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 116553 ngày 08/12/2022 cho hộ ông Nguyễn Đắc Đ và bà Nguyễn Thị T, trú tại thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. 03 khúc gỗ tròn, và 01 gốc cây tại hiện trường có tổng khối lượng 7,976m³ gỗ tròn và khu vực hiện trường phát hiện nhiều mùn cưa. Quá trình khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra đã thu 02 mẫu gỗ tại gốc cây và tại một trong các khúc gỗ tròn, một phần ký hiệu A2, B2 cho vào túi niêm phong mã số PS2 2011663 gửi trưng cầu giám định, phần còn lại ký hiệu A1, B1 cho vào túi niêm phong mã số PS2 2011691 để lưu. Ngày 19/7/2024 Cơ quan điều tra tiến hành thu ngẫu nhiên 03 mẫu gỗ tại 03 hộp gỗ ký hiệu 09, 11, 22 trong tổng số 22 hộp gỗ xẻ đã tạm giữ đưa về trụ sở Công an huyện Na Rì, cho vào túi niêm phong mã số PS1 2011679 gửi trưng cầu giám định, phần còn lại cho vào túi niêm phong mã số PS1 2011680 để lưu (theo Quyết định trưng cầu giám định số 265 ngày 23/7/2024, trưng cầu Viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp nhiệt đới giám định chủng loại gỗ, tên gỗ).
Ngày 30/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã cho Nguyễn Đắc D, Nông Văn L, Lý Văn T2, Nguyễn Đắc T1 tiến hành thực nghiệm điều tra. Quá trình thực nghiệm điều tra D, L, T2, T1 đều đã tự mình chỉ chính xác vị trí cây gỗ do D, L, T2, T1 đã khai thác thuộc thửa đất số 22, lô 6, khoảnh 2, tiểu khu B, loại rừng sản xuất, trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh. Dụng diễn lại được quá trình cắt hạ, cắt thành từng khúc và xẻ thành hộp từ cây gỗ này; L, T2, T1 đều diễn lại được hành vi giúp sức cho D dùng cây kê để làm đà, dùng dây bật mực để D xẻ thành từng hộp gỗ, quá trình thực nghiệm đều phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, các tài liệu được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án.
Ngày 07/8/2024 V nhiệt đới Kết luận số 237-2024/KL/LNNĐ, Kết luận: 05 mẫu gỗ ký hiệu A2, B2, 09, 11, 22 gửi giám định thuộc 01 loài, thuộc nhóm V, tên Việt Nam gỗ S; tên khoa học Antiaris toxicaria L2; 02 mẫu gỗ ký hiệu A2, B2 và 03 mẫu gỗ ký hiệu 09, 11, 22 có cùng chủng loại, tên, nhóm gỗ (Tên loài: Gỗ S, tên khoa học: Antiaris toxicaria L2, thuộc nhóm V theo tiêu chuẩn TCVN 12619-2:2019).
Tại kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐGTS ngày 19/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: 22 hộp gỗ nhóm V khối lượng 6,756m³ quy đổi ra gỗ tròn là 10,809m³ trị giá 26.010.600 đồng; 03 khúc gỗ tròn nhóm V khối lượng 7,261m³ trị giá 12.706.750 đồng; 01 gốc cây gỗ nhóm V khối lượng 0,715m³ trị giá 286.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 39.003.350 đồng.
Kết quả điều tra xác định: Một ngày trong tháng 5/2024 Nguyễn Đắc D gặp và nhờ Nguyễn Đắc T1, Lý Văn T2, Nông Văn L giúp Dụng cắt xẻ một cây gỗ tự nhiên để phục vụ cho gia đình (do mới làm nhà thiếu vật liệu), thì được T1, T2, L đồng ý. D bảo L mang theo máy cưa xăng L đã mượn của anh Lý Văn H1 trước đó để đi khai thác gỗ. Ngay ngày hôm sau, D mang theo xăng, nhớt, L mang theo 01 máy cưa xăng, dây bật mực, sau đó D, L, T2, T1 cùng nhau đi vào khu rừng Khuổi Bao tại thửa đất số 22, lô F, khoảnh 2, tiểu khu B, loại rừng sản xuất thuộc thôn N, xã Q (thửa đất này do Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đắc Đ và bà Nguyễn Thị T là bố mẹ đẻ của D – nhưng ông Đ, bà T đã giao cho D quản lý). Khi đến vị trí cây Mạy D1 (gỗ S) thì D dùng máy cưa cắt gốc, sau khi cây đổ xuống thì D cắt thành từng khúc, quá trình cắt khúc, L, T2, T1 cùng nhau bẩy, vần các khúc cắt được xuống nền đường gần đó. Sau khi cắt khúc xong, D tiếp tục dùng máy cưa xăng xẻ các khúc gỗ đã cắt được thành các hộp (tấm) gỗ có kích thước khác nhau, lúc này L, T2, T1 giúp làm đà, bẩy gỗ, bật mực, lật gỗ cho D để D xẻ. Việc cắt, xẻ cây gỗ thực hiện trong hai ngày liên tục thì xong, cắt tổng số được 08 khúc (gồm cả khúc ngọn), D xẻ 05 khúc được 22 hộp gỗ, còn 03 khúc còn lại không xẻ mà vẫn để nguyên, sau khi cắt xẻ xong Dụng để toàn bộ số gỗ này tại hiện trường. Đến khoảng nửa đầu tháng 7/2024 D thuê máy xúc của anh Phùng Văn L1, do Hoàng Văn T4 được thuê lái đang làm việc ở gần đó để sửa lại mặt đường cũ, bị sát lở đã có từ trước đi vào khu rừng để vận chuyển số gỗ đã khai thác thì bị cơ quan chức năng phát hiện. Tổng khối lượng một cây gỗ Mạy Doọc (gỗ S) Dụng, L, T2, T1 đã khai thác trái phép là: 18,785m³ gỗ tròn. Trong đó: 7,976m³ gỗ tròn (gồm 03 khúc và 01 gốc cây); 22 hộp gỗ xẻ khối lượng 6,756m³ quy ra gỗ tròn là 10,809m³.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Đắc D, Nông Văn L, Lý Văn T2, Nguyễn Đắc T1 khai nhận hành vi phạm tội của bản thân: Cây gỗ do các bị cáo khai thác theo tên gọi địa phương là Mạy D1 nằm trong khu rừng được giao cho gia đình Dụng quản lý và D được cha mẹ là ông Đ, bà T giao cho trực tiếp quản lý trông coi, ông Đ, bà T không biết và không tham gia vào việc khai thác cây. L, T2, T1 không được D trả thù lao hay hưởng lợi ích gì, mà chỉ giúp nhau khi được nhờ theo thói quen sinh hoạt tại địa phương. Mục đích khai thác gỗ để D sử dụng làm vật liệu làm nhà. Việc khai thác cây gỗ không làm giấy tờ, thủ tục xin phép cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Về vật chứng của vụ án bao gồm:
* Đối với số vật chứng đang bảo quản tại Cơ quan Công an huyện Na Rì gồm:
- - 22 hộp gỗ, tên Việt Nam: gỗ Sui, tên địa phương Mạy Doọc, khối lượng gỗ còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định là 6,753m³ (quy ra gỗ tròn là 10,804 m³);
- - 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365 màu vàng, có số máy: s/n 093701244, máy cũ đã qua sử dụng;
- - 01 lam xích máy cưa dài 80cm, có số hiệu 39241-868P, lam cũ đã qua sử dụng;
- - 01 túi niêm phong mã số PS1 2011680 và 01 túi niêm phong mã số PS2 2011691 bên trong có mẫu gỗ lưu;
- - Đối với số gỗ đang ở tại hiện trường đã được giao cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện N và Trạm kiểm lâm Q1 trông coi gồm: 03 khúc gỗ tròn và 01 gốc cây tổng khối lượng 7,976 m³ (sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định).
* Đối với dây mục dùng để phục vụ việc khai thác gỗ, ngày 29/11/2024 Cơ quan điều tra đã truy tìm vật chứng nhưng không tìm thấy để thu giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện N tham gia tố tụng là bà Hoàng Thị Thu N1, chức vụ Trưởng Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện N nêu ý kiến, số gỗ các bị cáo khai thác trái phép đã được thu giữ, đề nghị tịch thu hóa giá, sung ngân sách nhà nước, các bị cáo đều là hộ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn và sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt biệt khó khăn nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại. Đối với số tiền 4.000.000,đ các bị cáo đã tự nguyện nộp để bồi thường cho nguyên đơn dân sự, các bị cáo không yêu cầu được trả lại, đại diện UBND huyện ghi nhận sự tự nguyện bồi thường và đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.
Với hành vi trên, Bản Cáo trạng số: 03/CT-VKS-KR ngày 06/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đắc D, Nguyễn Đắc T1, Nông Văn L, Lý Văn T2 về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 232/BLHS. Điều luật có nội dung:
- Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- ...
- Khai thác trái phép rừng sản xuất là rừng tự nhiên từ 10 mét khối (m³) đến dưới 20 mét khối (m³) gỗ loài thực vật thông thường hoặc ...
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đắc D, Nguyễn Đắc T1, Nông Văn L, Lý Văn T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đắc D, Nguyễn Đắc T1, Nông Văn L, Lý Văn T2 phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm; Bị cáo Lý Văn T2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm; Bị cáo Nguyễn Đắc T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nông Văn L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên, người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn dân sự không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự nên không đề nghị HĐXX xem xét giải quyết. Đối với số tiền 4.000.000,₫ các bị cáo đã tự nguyện nộp mỗi bị cáo 01 triệu đồng để bồi thường cho nguyên đơn dân sự, tại phiên tòa các bị cáo không yêu cầu được trả lại mặc dù đại diện nguyên đơn dân sự không yêu cầu bồi thường, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo, tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS, cụ thể:
- + Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước 22 hộp gỗ, tên Việt Nam: gỗ Sui, tên địa phương Mạy Doọc, khối lượng gỗ còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định là 6,753m³ (quy ra gỗ tròn là 10,804 m³) được bảo quản tại cơ quan Công an huyện N;
- + Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước 03 khúc gỗ tròn nhóm V khối lượng 7,261m³ đang để tại hiện trường. Giao cho Hạt Kiểm lâm huyện N quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 gốc cây gỗ nhóm V khối lượng 0,715m³ đang để tại hiện trường. Giao cho Hạt Kiểm lâm huyện N quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong mã số PS1 2011680 và 01 túi niêm phong mã số PS2 2011691 bên trong có mẫu gỗ lưu;
- + Trả lại cho anh Lý Văn H1 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365 màu vàng, có số máy: s/n 093701244, máy cũ đã qua sử dụng; 01 lam xích máy cưa dài 80cm, có số hiệu 39241-868P, lam cũ đã qua sử dụng.
- Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo D, L, T2 nhất trí với tội danh mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên, người bào chữa cho rằng các bị cáo không có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, sự hiểu biết pháp luật của các bị cáo còn rất hạn chế. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều sinh sống tại đại bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đều là hộ nghèo, bị cáo L, T2 là người dân tộc thiểu số. Đề nghị HĐXX xem xem, đánh giá toàn diện vụ án, cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và xin được hưởng án treo, xin được miễn áp dụng hình phạt bổ sung và án phí cho các bị cáo.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đắc Đ và bà Nguyễn Thị T trình bày ông bà là người đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất rừng có cây gỗ rừng tự nhiên bị khai thác trái phép. Do tuổi cao nên ông bà đã giao lại cho con trai là bị cáo D trực tiếp quản lý, sử dụng thửa rừng trên, việc D và các bị cáo đồng phạm khai thác trái phép cây gỗ rừng tự nhiên ông bà không biết. Ông bà không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn H1 trình bày, ông H1 cho em rể là bị cáo L mượn 01 máy cưa, việc L sử dụng chiếc máy cưa đi khai thác trái phép gỗ rừng tự nhiên anh H1 không biết. Anh H1 đề nghị được trả lại chiếc máy cưa và lam xích.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T4 trình bày, ông T4 được ông L1 thuê lái máy xúc. Việc bị cáo D thỏa thuận thuê máy xúc để sửa đường vào khu rừng của D như thế nào ông T4 không biết. Ông T4 cũng không liên quan gì đến việc khai thác gỗ trái phép của các bị cáo.
Lời nói sau cùng các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội là do nhận thức còn hạn chế, các bị cáo đều rất hối hận, ăn năn về việc làm của mình. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và xin được hưởng án treo. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và xin được miễn án phí cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, Kiểm sát viên, người bào chữa: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đúng trình tự thủ tục Bộ luật tố tụng Hình sự quy định và có giá trị pháp lý làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Nguyễn Đắc Đ, bà Nguyễn Thị T, ông Lý Văn H1 và ông Hoàng Văn T4 vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và trong đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với các bị cáo. Căn cứ Điều 292/BLTTHS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2]. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của những người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi khai thác gỗ rừng tự nhiên là vi phạm pháp luật, các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Đắc D, Nguyễn Đắc T1, Nông Văn L, Lý Văn T2 đã có hành vi khai thác trái phép 01 cây gỗ rừng tự nhiên, loại thông thường, nhóm V, có tên địa phương là Mạy D1, tên khoa học là gỗ Sui, tổng khối lượng là 18,785m³ gỗ tròn. Vị trí cây gỗ các bị cáo khai thác trái phép thuộc thửa đất số 22, lô 6, khoảnh 2, tiểu khu B, loại rừng sản xuất thuộc thôn N, xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 232/BLHS.
Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế là khách thể được P1 bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái. Do đó cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự và có một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự để truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá vụ án, xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án này.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong vụ án này bị cáo Nguyễn Đắc D là người được bố mẹ giao trực tiếp giao quản lý thửa rừng 22, lô 6, khoảnh 2, tiểu khu B, mặc dù biết đây là rừng tự nhiên sản xuất không được phép khai thác gỗ nhưng do làm nhà thiếu vật liệu nên bị cáo D đã nhờ các bị cáo T1, L, T2 giúp bị cáo thực hiện hành vi khai thác gỗ rừng tự nhiên trên thửa rừng này. Bị cáo D là người giữ vai trò chính, khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi và là người được hưởng lợi lâm sản khai thác được. Các bị cáo T1, T2, L là anh em họ, bà con hàng xóm, giúp bị cáo D theo thói quen sinh hoạt hàng ngày, không được hưởng lợi lâm sản, không được D trả tiền công, các bị cáo T1, L, T2 là đồng phạm giúp sức bị cáo D và giữ vai trò thứ yếu trong vụ án. HĐXX sẽ đánh giá, cân nhắc mức hình phạt của từng bị cáo để đảm bảo sự công bằng giữa các bị cáo, đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự.
[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
- Về tiền án, tiền sự: Các bị cáo chưa có tiền án; tiền sự, có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo đã tự nguyện nộp mỗi bị cáo 01 triệu đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Rì để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra cho nguyên đơn dân sự. Do đó, cả 04 bị cáo đều được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nông Văn L có bác ruột là ông Nông Văn T5 là Liệt sĩ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là nằm trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố và phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Các đề nghị khác của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
[6]. Đánh giá quan điểm của người bào chữa: Quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo D, T2, L khi đánh giá về nhân thân; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và được hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh của các bị cáo, nên được HĐXX xem xét chấp nhận.
[7]. Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, căn cứ vào các quy định của pháp luật, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: HĐXX xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; các bị cáo đều sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đều thuộc diện hộ nghèo; trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế; bị cáo L, T2 là người dân tộc thiểu số. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặc dù nguyên đơn dân sự không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại, tuy nhiên các bị cáo đều tự nguyện nộp mỗi bị cáo 1.000.000,đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Na Rì để bồi thường cho nguyên đơn dân sự, điều này thể hiện sự ăn năn hối cải và muốn khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra. Chủng loại gỗ mà các bị cáo khai thác là gỗ thông thường, thuộc nhóm V. Xét thấy, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên HĐXX thấy rằng không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Về hình phạt bổ sung HĐXX xét thấy các bị cáo đều lao động tự do, không có nghề nghiệp, các bị cáo đều sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo T2, L là người dân tộc thiểu số, các bị cáo đều thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự tại phiên tòa không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Mặc dù, đại diện nguyên đơn dân sự không yêu cầu nhưng các bị cáo đã tự nguyện nộp mỗi bị cáo một khoản tiền 1.000.000,đ (Một triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự để bồi thường, khắc phục hậu quả cho hành vi phạm tội của mình gây ra và tại phiên tòa hôm nay đã được HĐXX giải thích nhưng các bị cáo không yêu cầu trả lại số tiền đã nộp, vẫn tự nguyện được bồi thường cho Nhà nước thông qua nguyên đơn dân sự là UBND huyện N với tổng số tiền 4.000.000,₫ (Bốn triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước. HĐXX xét thấy, việc tự nguyện bồi thường thiệt hại của các bị cáo thể hiện sự hối cải, ăn năn của các bị cáo và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được HĐXX chấp nhận.
[9]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với số 03 khúc gỗ tròn tổng khối lượng khối lượng 7,261m³, còn lại để tại hiện trường. Đây vật chứng của vụ án, còn giá trị sử dụng, cần tịch thu hóa giá sung Ngân sách nhà nước.
- Đối với 22 hộp gỗ, tên Việt Nam: gỗ Sui, tên địa phương Mạy Doọc, khối lượng gỗ còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định là 6,753m³ (quy ra gỗ tròn là 10,804 m³) tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.
- 01 gốc cây khối lượng 0,715m³ còn lại để tại hiện trường, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365 màu vàng, có số máy: s/n 093701244, máy cũ đã qua sử dụng và 01 lam xích máy cưa dài 80cm, có số hiệu 39241-868P, lam cũ đã qua sử dụng. Đây là tài sản của anh Lý Văn H1 cho em rể là bị cáo L mượn để cắt củi, anh H1 không biết việc bị cáo L sử dụng máy cưa của đi khai thác gỗ trái phép. Do đó, cần trả lại chiếc máy cưa cùng lam xích cho anh H1.
- Đối với 01 túi niêm phong mã số PS1 2011680 và 01 túi niêm phong mã số PS2 2011691 bên trong có mẫu gỗ lưu trong quá trình thực hiện hoạt động điều tra. Không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với tổng số tiền 4.000.000,đ (bốn triệu đồng) mà các bị cáo nộp (mỗi bị cáo nộp 1.000.000,đ) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Rì, theo các biên lai số 0002331; 0002332; 0002333; 0002334 ngày 03/3/2025, để thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.
[10]. Về các vấn đề khác: Đối với ông Nguyễn Đắc Đ và bà Nguyễn Thị T là bố mẹ của bị cáo D và là người đứng tên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng thửa đất rừng có cây gỗ bị khai thác trái phép. Ông Đ, bà T đã già, giao lại cho con trai là bị cáo D trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất rừng. Việc bị cáo D cùng các bị cáo T2, T1, L khai thác trái phép cây gỗ Sui, ông bà không biết; Đối với Phùng Văn L1 và Hoàng Văn T4 là những người do bị cáo D thuê làm đường để vận chuyển gỗ nhưng những người này không biết mục đich sửa đừng của bị cáo D. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N không xem xét xử lý những người này là đúng quy định.
[11]. Về án phí: Các bị cáo đều sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đều thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đắc D, Nguyễn Đắc T1, Nông Văn L, Lý Văn T2 phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 65/BLHS năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc D 20 (Hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/3/2025).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc T1 14 (Mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 ( Hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/3/2025).
- Xử phạt bị cáo Lý Văn T2 14 (Mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 (Hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/3/2025).
Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 65/BLHS năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Nông Văn L 14 (Mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 ( Hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/3/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo D, T1, T2, L.
Giao các bị cáo D, T1, L, T2 cho UBND xã Q, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự”.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 587, 589 của Bộ luật Dân sự. Đại diện nguyên đơn dân sự không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại nên HĐXX không xem xét. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường cho nguyên đơn dân sự UBND huyện N số tiền 4.000.000,đ (Bốn triệu đồng), trong đó mỗi bị cáo là 1.000.000,đ (Một triệu đồng), để sung ngân sách Nhà nước.
Việc thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu hóa giá nộp Ngân sách nhà nước 22 hộp gỗ, tên Việt Nam: gỗ Sui, tên địa phương Mạy Doọc, khối lượng gỗ còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định là 6,753m³ (quy ra gỗ tròn là 10,804 m³).
- - Trả lại cho anh Lý Văn H1 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365 màu vàng, có số máy: s/n 093701244, máy cũ đã qua sử dụng và 01 lam xích máy cưa dài 80cm, có số hiệu 39241-868P, lam cũ đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong mã số PS1 2011680 và 01 túi niêm phong mã số PS2 2011691 bên trong có mẫu gỗ lưu trong quá trình thực hiện hoạt động điều tra. Không còn giá trị sử dụng.
- (Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/01/2025 giữa Công an huyện với Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Rì).
- - Tịch thu hóa giá nộp Ngân sách nhà nước 03 khúc gỗ tròn tổng khối lượng khối lượng 7,261m³, (được quản lý tại hiện trường). Giao cho Hạt kiểm lâm huyện N quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 gốc cây khối lượng 0,715m³ (được quản lý tại hiện trường). Giao cho Hạt kiểm lâm huyện N quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Tạm giữ tổng số tiền 4.000.000,đ (bốn triệu đồng) mà các bị cáo nộp (mỗi bị cáo nộp 1.000.000,đ) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Rì, theo các biên lai số 0002331; 0002332; 0002333; 0002334 ngày 03/3/2025, để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.
4. Về án phí: Miễn án phí cho các bị cáo D, T1, L, T2.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Văn L1 có quyền kháng cáo bản án phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ, bà T, ông H1, ông T4 có quyền kháng cáo bản án phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Bình |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đắc D và đồng phạm khai thác cây rừng tự nhiên để làm vật liệu làm nhà
