Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ SƠN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST

Ngày 18 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lầu Bá Dìa

Bà Xã Thị Cẩm Tú

Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn Q, tên gọi khác: không;

Sinh ngày 01/02/1998 tại xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: bản N, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn H (sinh năm 1964) và bà Vi Thị L (sinh năm 1964); có vợ là Lô Thị C (sinh năm 2002) và có 01 con (sinh năm 2024);

Tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024 đến nay, hiện đang tạm giam. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công T - Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N; Có mặt;

- Người chứng kiến: Anh Dềnh Bá M, sinh năm 1994; Nơi cư trú: bản H, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo cáo trạng số 05/CT-VKS-KS ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An thì bị cáo Lương Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn Q đã khai nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với các tình tiết đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, cụ thể là: Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 19/12/2024, Lương Văn Q đang đứng tại bản Trung Tâm, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An chờ đón xe lai đi vào xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An để tìm việc làm. Trong lúc chờ xe thì Lương Văn Q gặp một người đàn ông dân tộc T1 không quen biết. Sau một hồi trò chuyện thì người đàn ông đó có hỏi Lương Văn Q “Có sử dụng ma túy không?”, do bản thân là người nghiện ma túy nên Lương Văn Q trả lời “Có” và hỏi lại người đàn ông đó “Anh có ma túy không, bán cho em một ít!”, người đàn ông đó trả lời “Có bán”. Nghe vậy Lương Văn Q lấy trong người ra 300.000 đồng đưa cho người đàn ông đó và được người đàn ông đó đưa lại cho Lương Văn Q 06 viên ma túy (dạng viên nén màu hồng), sau đó người đàn ông lạ mặt đó rời đi. Sau khi mua được ma túy Lương Văn Q gói lại trong một bao potylen màu đen rồi cầm trong tay trái và tiếp tục đứng chờ xe lai để đi vào M.

Sau khi chờ một lúc nhưng không thuê được xe lai nên Lương Văn Q đi bộ theo hướng vào xã M. Đến khoảng 12 giờ 00 phút khi Lương Văn Q đang đi bộ đến khu vực bản H, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Lương Văn Q một bao potylen màu đen bên trong có chứa 06 (sáu) viên nén màu hồng (nghi là ma túy). Bị cáo thừa nhận đó là ma túy đã mua nhằm mục đích để sử dụng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 16 giờ 00 phút, ngày 19/12/2024 của Hội đồng mở niêm phong Công an huyện K lập đã xác định: 06 (sáu) viên nén màu hồng (nghi là ma túy) thu giữ của Lương Văn Q có khối lượng 0,6 gam (Không phẩy sáu gam). Để có cơ sở kết luận Hội đồng đã trích 0,2 (hai) viên nén màu hồng (nghi là ma túy) để đóng gói niêm phong gửi đi giám định.

Tại Kết luận giám định số 25/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 24/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lương Văn Q gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Lương Văn Q có tổng khối lượng là 0,6g (Không phẩy sáu gam).

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lương Văn Q mức án từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù; đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, xử lý vật chứng và quyết định nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn Q đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và thừa nhận bản thân có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và xin được được trình bày thêm: Bản thân bị cáo sau khi tốt nghiệp phổ thông đã tình nguyện nhập ngũ, trong thời gian tham thực hiện nghĩa vụ quân sự đã lập được nhiều thành tích được cấp có thẩm quyền khen thưởng. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở về sinh sống, làm ăn tại địa phương, do không làm chủ được mình nên đã để bản thân vướng vào nghiện ngập ma túy. Nay bị cáo rất hối hận và ăn năn về hành vi mà mình đã phạm phải.

Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhiều thành tích trong quá trình tham gia quân đội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng truy tố. Như vậy đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 19/12/2024, tại bản H, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An, bị cáo Lương Văn Q bị phát hiện và bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ 06 (viên) ma tuý Methamphetamine có khối lượng 0,6 gam (Không phẩy sáu gam) nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo Lương Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
  3. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước nghiêm cấm, vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức lối sống và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó cần xử lý bị cáo Lương Văn Q nghiêm minh trước pháp luật, tuyên phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

    Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng thấy, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bản thân bị cáo trong quá trình tham gia nghĩa vụ quân sự đã có nhiều thành tích trong phòng trào thi đua quyết thắng cấp trung đoàn và được tặng danh hiệu “Chiến sỹ tiên tiến” nên được Hội đồng xét xử xem đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  4. Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  5. Hình phạt bổ sung: Thấy rằng bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có nghề nghiệp ổn định, sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, việc tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng mà không vì mục đích thu lợi bất chính nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  6. Các đối tượng liên quan: Trong vụ án này có người đàn ông đã bán ma túy cho Lương Văn Q, quá trình điều tra, xác minh không xác định được danh tính cụ thể nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ được xử lý.
  7. Vật chứng vụ án: Số ma túy methamphetamine đã thu giữ của bị cáo sau khi trích mẫu để gửi giám định thì số còn lại là 0,4 gam, hiện đang được niêm phong, bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu để tiêu hủy.
  8. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở các xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin được miễn án phí nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  9. Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Lương Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lương Văn Q 12 (Mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 19/12/2024).
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì bưu điện có viền xanh đỏ đang niêm phong, dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và ghi tên của Lương Văn Q có đóng dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K. Bên trong phong bì có chứa 0,4g (Không phẩy bốn gam) ma túy methamphetamine còn lại của Lương Văn Q và vỏ giấy niêm phong ban đầu.

    Vật chứng hiện đang được niêm phong bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng số 9 lập hồi 14 giờ 30 phút, ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn Q.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/02/2025)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Kỳ Sơn;
  • - Công an huyện Kỳ Sơn (Cơ quan điều tra, Cơ quan THA hình sự);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Kỳ Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, hồ sơ THAHS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Hữu Lộc

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 19/12/2024, tại bản H, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An, bị cáo Lương Văn Q bị phát hiện và bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ 06 (viên) ma tuý Methamphetamine có khối lượng 0,6 gam (Không phẩy sáu gam) nhằm mục đích để sử dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger