|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số:03/2025/HS-ST Ngày: 14/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Mới
- Ông Lê Hoàng Long
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hoàng P, sinh năm: 1998; Giới tính: nam; Tên gọi khác: không; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không; Họ và tên cha: Lê Văn L (sống); Họ và tên mẹ: Võ Thị Thúy H (sống); Vợ: La Hồng M (sống); Con: có 01 người con sinh năm 2024
Tiền án: chưa
Tiền sự: không
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh từ ngày 23/9/2024.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Phạm Văn M1, sinh năm 1966.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Bị hại có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Trần Quan Q, sinh năm 1997.
- Lê Văn L, sinh năm 1978
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Ông Q có mặt tại phiên tòa
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Ông L vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu đi lại nên vào ngày 27/3/2024, Lê Hoàng P có đến thuê xe mô tô biển kiểm soát 65H1-240.44 của ông Phạm Văn M1 với giá thỏa thuận là 100.000 đồng/ngày. Sau khi thuê xe được khoảng 02 tuần thì do P cần tiền để điều trị bệnh cho vợ nên P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của ông M1. P đã tự ý mang xe mô tô của ông M1 đến cầm cố cho ông Trần Quan Q với số tiền 9.000.000 đồng. Sau đó, sử dụng hết số tiền này để chi trả tiền viện phí và chi phí sinh hoạt. Khoảng 02 ngày sau thì P có thông tin lại cho ông M1 là P đã mang xe của ông M1 đi cầm cố cho người khác. Sau đó khoảng 05 ngày thì P lại đến tìm gặp ông M1 để hỏi vay số tiền 25.000.000 đồng thì ông M1 đồng ý và tự mình mang xe mô tô biển kiểm soát 64Z1-0953 đi cầm cố để lấy tiền về cho P vay. Tuy nhiên, đến thời hạn trả tiền lãi như thỏa thuận thì P không trả và có biểu hiện lẫn tránh nên ông M1 có đến tìm cha đẻ của P là ông Lê Văn L, ông L đồng ý trả tiền vay thay cho P được 02 lần với tổng số tiền là 4.000.000 (trong đó tiền gốc 3.000.000 đồng và tiền lãi là 1.000.000 đồng) sau đó thì mất khả năng chi trả nên ông M1 đã tố giác hành vi chiếm đoạt tài sản của Lê Hoàng P. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65H1-240.44 và xe mô tô biển kiểm soát 64Z1-0953 ông M1 đã tự bỏ tiền ra để chuộc lại tài sản.
Tại Kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐG ngày 26/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, dung tích 109, màu trắng - đen, biển số 65H1-240.44 có giá là 9.000.000 đồng (bút lục số 27,28).
Lê Hoàng P khai do cần tiền tiêu xài và khám chữa bệnh cho vợ nên đã tự ý mang xe mô tô biển kiểm soát 65H1-240.44 của ông Phạm Văn M1 đi cầm cố để chiếm đoạt số tiền 9.000.000 đồng. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với ông Trần Quan Q có nhận cầm xe mô tô biển kiểm soát 65H1-240.44 từ Lê Hoàng P nhưng do P đưa ra thông tin sai sự thật về chủ sở hữu tài sản, vì vậy ông Q không biết được nên xem là không có lỗi và không xử lý.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 65H1-240.44 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Qua xác minh thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Phạm Văn M1 nên vào ngày 24/10/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cùng giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông M1 (bút lục số 34).
Về dân sự, gia đình bị can đã trả lại cho ông Phạm Văn M1 số tiền 10.000.000 đồng (bút lục số 108).
Đối với số tiền 25.000.000 đồng mà bị cáo đã mượn của ông Phạm Văn M1 chỉ là giao dịch dân sự, ông M1 có yêu cầu buộc bị cáo phải trả lại số tiền này.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS - TL ngày 24/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Lê Hoàng P về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung cáo trạng đã truy tố, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Phía gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại. Ngoài việc thuê xe, bị cáo còn mượn của bị hại 25.000.000 đồng, bị cáo đề nghị được trả dần số tiền này.
Bị hại trình bày: bị hại có cho bị cáo thuê xe mô tô biển kiểm soát 65H1-240.44. Sau đó, bị cáo mang xe đi cầm cho người khác. Khi mang xe đi cầm, bị cáo không thông báo cho bị hại biết việc này. Hiện gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại đã nhận lại xe. Ngoài ra bị hại có cho bị cáo mượn số tiền 25.000.000 đồng. Nay bị hại yêu cầu bị cáo trả số tiền này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Quan Q trình bày: ông Q không biết xe mô tô biển kiểm soát 65H1-240.44 là do bị cáo thuê của bị hại. Ông Q nghĩ là xe của bị cáo nên nhận cầm cố. Nay ông Q không ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.
Quan điểm của đại diện viện kiểm sát: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần xử lý nghiêm đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Tuyên bố: bị cáo Lê Hoàng P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lê Hoàng P mức án từ 03 tháng đến 06 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện, vào ngày 27/3/2024, Lê Hoàng P có đến thuê xe mô tô biển kiểm soát 65H1-240.44 của ông Phạm Văn M1 với giá thỏa thuận là 100.000 đồng/ngày. Sau khi thuê xe được khoảng 02 tuần thì do P cần tiền để điều trị bệnh cho vợ nên P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của ông M1. P đã tự ý mang xe mô tô của ông M1 đến cầm cố cho ông Trần Quan Q với số tiền 9.000.000 đồng sau đó sử dụng hết số tiền này để chi trả tiền viện phí và chi phí sinh hoạt. Khoảng 02 ngày sau thì P có thông tin lại cho ông M1 là P đã mang xe của ông M1 đi cầm cố cho người khác.
Tại Kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐG ngày 26/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, dung tích 109, màu trắng - đen, biển số 65H1-240.44 có giá là 9.000.000 đồng (bút lục số 27,28). Vì vậy, hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cho nên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Hoàng P về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
[3] Về lượng hình: Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác mà các bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội nên cần có mức hình phạt phù hợp để đảm bảo tính răn đe đối với các bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Đối với số tiền 25.000.000 đồng bị cáo vay của bị hại phát sinh từ một giao dịch dân sự khác, không liên quan trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: thống nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: bị cáo Lê Hoàng P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 175, Điều 38, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không xem xét giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo đã bồi thường xong và bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
Điều 326, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Quốc |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng P phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
