Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ TIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 03/2025/HS-ST

Ngày 12/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Phương.
  • Các Hội thẩm nhân dân.
  • Bà Lâm Lệ Oanh.
  • Ông Nguyễn Đình Chiến.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Ni - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Sơn T, sinh năm 1988; Nơi sinh: H, Kiên Giang; Nơi cư trú: Số A, Phạm Văn K, khu phố B, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trước T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị G (đã chết); Bị cáo không có chồng; Con có 08 người lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 16/4/2020 bị Toà án nhân dân thành phố Hà Tiên xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, được hoãn thi hành án do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đến ngày 23/02/2024 chấp hành án tại Trại giam Đ2 - Bộ C1 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Triệu B, sinh năm 1996. Địa chỉ: Khu phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • - Ông Trang Hữu C, sinh năm 1996. Địa chỉ: Khu phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
  • - Ông Cao Hiền Đ, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
  • - Ông Mai Văn G1, sinh năm 2002. Địa chỉ: Tổ C, ấp N, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
  • - Ông Ngô Hồng S, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)

Người làm chứng:

  • - Ông Vũ Thanh H. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • - Bà Nguyễn Lý Thiên D. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 08/02/2024 Nguyễn Thị Sơn T điện thoại cho người đàn ông tên thường gọi là “T2” (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua ma tuý với số tiền 1.500.000 đồng, ông T2 đồng ý và đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, ông T2 điện thoại hẹn Tuyền đến khu vực Ngã Ba C thuộc xã T để giao ma tuý. T điều khiển xe máy đến chỗ hẹn gặp ông T2, T đưa cho ông T2 1.500.000 đồng tiền mua ma tuý và trả tiền còn nợ trước đó 300.000 đồng thì được ông T2 chỉ chỗ cho T lấy ma tuý được để trong bịch nylon quấn băng keo màu đen bên ngoài. Sau khi mua được ma tuý, T mang về nhà tại khu phố B, phường B, thành phố H, kiểm tra thấy có nhiều túi nylon có rãnh gài, bên trong có ma tuý, T để số ma tuý vừa mua được vào ngăn kéo hộp trang điểm để trong phòng ngủ nhằm mục đích để sử dụng.

Đến chiều ngày 09/02/2024, Triệu B điện thoại cho Nguyễn Thị Sơn T nói “tụi nó đi ghe vô, hùn tiền 500.000 đồng rủ lấy ma tuý sử dụng” nhưng B chưa đưa tiền và cũng không nói rõ người sử dụng là ai, T đồng ý và điện thoại cho ông T2 mua ma tuý với số tiền 500.000 đồng. Sau đó B đến nhà của T giữ nhà và trông con giúp T, còn T thì điều khiển xe máy đến khu vực Ngã Ba Cây Bàng thuộc xã T gặp ông T2 để mua ma tuý, T đưa cho ông T2 500.000 đồng và ông T2 giao cho T 01 bịch nylon quấn băng keo đen bên trong có ma tuý. Khi mua được ma tuý, T quay về nhà vào trong phòng ngủ kiếm tra bịch nylon do ông T2 đưa thấy có 02 túi nylon có rãnh gài, bên trong mỗi bịch đều có chứa ma tuý, T để số ma tuý vừa mua được và dụng cụ sử dụng ma tuý trên kệ ti vi và nói cho B biết, rồi đi chợ mua đồ tết. Trong lúc giữ nhà cho T, B đến chỗ để ma tuý nhưng chỉ thấy có 01 bịch ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý, B lấy ra một ít ma túy để sử dụng, số ma tuý còn lại B để vào gói thuốc lá giấu trên người và lấy nỏ thuỷ tinh trong bộ dụng cụ của T, B mang về nhà sử dụng hết.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T đang ở nhà thì có Ngô Hồng S, Cao Hiền Đ, Mai Văn G1, Trang Hữu C và Triệu B đến chơi đón giao thừa. T cùng với C đi chợ mua thức ăn về để tổ chức nhậu. Chí uống hết lon bia thì đi vào phòng ngủ của T chơi game, thấy có dụng cụ sử dụng ma tuý và có sẵn ma tuý trong nỏ nên C lấy ra hút được hai hơi. Tiếp đến B vào phòng và sử dụng ma tuý với C. Lúc này T đang ngồi nhậu ở phòng khách cùng với Ngô Hồng S, Cao Hiền Đ, Mai Văn G1, T biết C và B đang sử dụng ma tuý trong phòng nhưng T không có ý kiến gì. Đến khoảng 01 giờ ngày 10/02/2024 mọi người nghỉ nhậu, Đ và G1 vào phòng thì thấy có dụng cụ sử dụng ma tuý, Đ và G1 ngồi lại sử dụng ma tuý được khoảng 10 phút thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ các vật chứng có liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma tuý, 01 nỏ thuỷ tinh có chứa chất bám dính và thu giữ trong hộp trang điểm của T 22 bịch nylon có rãnh gài, bên trong có chứa chất ma tuý.

Tại Bản kết luận giám định số 134/KL-KTHS ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh K kết luận:

  • - Mẫu 1:
    • + Chất bám dính bên trong 01 (một) nỏ thuỷ tinh dài 16cm, phía đầu nỏ thuỷ tinh có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài khoảng 2,5cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0287 gam.
    • + Chất bám dính bên trong 01 (một) nỏ thuỷ tinh dài 13 cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0527 gam.
  • - Mẫu 2:
    • + Các hạt tinh thể rắn chứa trong 11 túi nylon có rãnh gài, viền đỏ, có kích thước khoảng 1,6 cm x 2,1 cm, trên túi có ghi số “3”, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,6206 gam.
    • + Các hạt tinh thể rắn chứa trong 02 túi nylon có rãnh gài, viền đỏ, có kích thước khoảng 1,6 cm x 2,1 cm, trên túi có ghi số “2”, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2316 gam.
    • + Các hạt tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền đỏ, có kích thước khoảng 4,1 cm x 7,5 cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1199 gam.
    • + Các hạt tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền xanh lá, có kích thước khoảng 02 cm x 2,5 cm, trên túi có ghi số “5”, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3161 gam.
    • + Các hạt tinh thể rắn chứa trong 02 túi nylon có rãnh gài, viền màu xanh, có kích thước khoảng 2,5 cm x 2,5 cm, trên túi có ghi số “5”, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4762 gam.
    • + Các hạt tinh thể rắn chứa trong 02 túi nylon có rãnh gài, viền màu xanh, có kích thước khoảng 02 cm x 2,5 cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,9219 gam.
    • + Các hạt tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có kích thước khoảng 1,5 cm x 02 cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1179 gam.
    • + Các hạt tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, có kích thước khoảng 04 cm x 03 cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0002 gam.
    • + Các hạt tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có kích thước khoảng 1,5 cm x 02 cm, trên túi có ghi số “4”, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1955 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng K1 - Công an tỉnh K.

Vật chứng trong vụ án:

  1. Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 (một) phong bì có ký của giám định viên Lê Đ1, người chứng kiến niêm phong Lê Tấn T3 và hình dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh K, bên trong phong bì bao gồm:

    Mẫu 1: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì vụ số 131/mẫu 01. Bên trong phong bì bao gồm trong 02 nỏ thuỷ tinh đựng mẫu, một đoạn ống nhựa màu tráng và chất bám dính bên trong 02 nỏ thuỷ tinh đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

    Mẫu 2: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì vụ số 131/mẫu 02. Bên trong phong bì bao gồm 22 túi nylon đựng mẫu và:

    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 11 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có cùng kích thước khoảng 1,6 cm x 2,1 cm, trên túi có ghi số “3”, còn lại sau giám định có khối lượng là 1,5862 gam (được đựng trong một túi nylon).
    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 02 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có cùng kích thước khoảng 1,6 cm x 2,1 cm, trên túi có ghi số “2”, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2061 gam (được đựng trong một túi nylon).
    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 11 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có cùng kích thước khoảng 4,1 cm x 7,5 cm, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1077 gam (được đựng trong một túi nylon).
    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền màu xanh lá, có cùng kích thước khoảng 02 cm x 2,5 cm, trên túi có ghi số “5”, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,3035 gam (được đựng trong một túi nylon).
    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 02 túi nylon có rãnh gài, viền màu xanh, có cùng kích thước khoảng 2,5 cm x 2,5 cm, trên túi có ghi số “5”, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,4636 gam (được đựng trong một túi nylon).
    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 02 túi nylon có rãnh gài, viền màu xanh, có cùng kích thước khoảng 02 cm x 2,5 cm, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,9030 gam (được đựng trong một túi nylon).
    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có cùng kích thước khoảng 1,5 cm x 02 cm, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1067 gam (được đựng trong một túi nylon).
    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, có kích thước khoảng 04 cm x 03 cm, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,9799 gam (được đựng trong một túi nylon).
    • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có cùng kích thước khoảng 1,5 cm x 02 cm, trên túi có ghi số “4”, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1874 gam (được đựng trong một túi nylon).
  2. 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai thuỷ tinh trong suốt, cao khoảng 10cm, có nắp đậy trong suốt được gắn 01 ống nhựa màu xanh đài khoảng 16,3cm (đã qua sử dụng).
  3. 01 (một) bật lửa màu đen -xám, có dòng chữ SKLC (đã qua sử dụng).
  4. 01 điện thoại di động Nokia, màu đen, Model: TA-1174, số Code: 23KIG74BH00, số Imei 1: 357683109645137, số Imei 2: 357683109645145 đã qua sử dụng.
  5. 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A02, màu đen, kiểu máy: SM-A022F/DS, số seri: R58K13SLBYW, số Imei 1: 351389222452494; số Imei 2: 352682482452496, đã qua sử dụng.
  6. 01 điện thoại di động OPPO F5Youth, màu đen, kiểu máy: CPH1725, số Seri: DUHISCZSNJCMINVK, số Imei 1: 866468037203199; 866468037203181, đã qua sử dụng.
  7. 01 điện thoại di động OPPO A15, màu xanh, kiểu máy: CPH2185, số Seri: DUYFQBM45PNS8EI, số Imei 1: 869868050456458; số Imei 2: 869868050456441, đã qua sử dụng.
  8. 01 điện thoại di động Realme C21-Y, màu xanh dương, kiểu máy: RMX3263, số Seri: 1B09293410DA0QYX, số Imei 1: 860666053896210; số Imei 2: 860666053896202, đã qua sử dụng.
  9. 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12, màu đen, kiểu máy: SM-A125F/DS số Seri: R58R36YK7GX, số Imei 1: 353552687109473; số Imei 2: 355147557109477, đã qua sử dụng.
  10. 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A11, màu đen, kiểu máy: SM-A115F/DS số Seri: R9JN90DNE5J, số Imei 1: 356938145676247; số Imei 2: 356489842676244, đã qua sử dụng.
  11. 01 điện thoại di động OPPO A5S, màu đen, kiểu máy: CPH1912, số Seri: GQWGU8IJTKNFLNOV, số Imei 1: 868683047296672; số Imei 2: 868683047296664, đã qua sử dụng.

Tất cả vật chứng hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Tại bản Cáo trạng số 43/CTr-VKSHT ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên truy tố bị cáo Nguyến Thị Sơn T4 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S1 Tuyền mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S1 Tuyền mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù, tổng cộng là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt đối với bản án số 06/2020/HSST ngày 16/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên theo quy định. Về xử lý vật chứng, đề nghị trả lại cho bị cáo và những người liên quan tài sản là các điện thoại di động không liên quan đến vụ án, các vật chứng còn lại có liên quan hoặc là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội đề nghị tịch thu tiêu huỷ. Về án phí, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Triệu Bảo vfa người làm chứng Vũ Thanh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trang Hữu C, Cao Hiền Đ, Mai Văn G1, Ngô Hồng S, người là chứng Nguyễn Lý Thiên D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định pháp luật.

[3] Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 01 giờ ngày 10/02/2024, tại căn nhà số A P, khu phố B, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện Nguyễn Thị Sơn T cất giấu 22 bịch nylon bên trong có chứa chất ma tuý là Methamphetamine, có khối lượng 4,9999 gam, nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Ngoài ra tại thời điểm này, Nguyễn Thị Sơn T còn chung cấp địa điểm và dụng cụ để Trang Hữu C, Triệu B, Cao Hiền Đ và Mai Văn G1 sử dụng trái phép chất ma tuý. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Sơn T đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Ma túy là chất gây nghiện mà nhà nước nghiêm cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng dưới mọi hình thức, vì vậy hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Hiện nay trên địa bàn thành phố H tình hình mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra rất phức tạp và là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được rằng ma túy là loại hàng hóa cấm lưu thông, tác hại của ma túy là vô cùng nguy hiểm, việc sử dụng ma túy là ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người, việc bị cáo tàng trữ và tổ chức cho những người khác sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Ngày 16/4/2020 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Hà Tiên xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, được hoãn thi hành án do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đến ngày 23/02/2024 bị cáo chấp hành án tại Trại giam Đ2 - Bộ C1 cho đến nay. Do đó bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo có căn cứ. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đối với từng tội danh là nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và vai trò của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội nhằm răn đe, cải tạo bị cáo, đồng thời giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đồng thời tổng hợp hình phạt đối với bị cáo theo bản án số 06/2020/HSST ngày 16/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Các vật chứng là điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, S2 A02, OPPO F5Youth, OPPO A15, Realme C, S2, S2 A11, OPPO A5S được đánh số thứ tự từ 4 đến 11 không liên quan đến vụ án được trả lại cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Mẫu vật còn lại sau giám định, bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và một số vật chứng khác được đánh số thứ tự từ 1 đến 3 là chất cấm lưu hành, là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Đối với người đàn ông tên thường gọi là “ông T2” bán ma tuý cho Nguyễn Thị Sơn T nhưng qua điều tra chưa xác định họ tên, địa chỉ cụ thể nên tiếp tục điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Trang Hữu C, Triệu Bảo, Cao Hiền Đ đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Mai Văn G1 đã bị Công an phường B xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Sơn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Sơn T 04 (bốn) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 07 năm 06 tháng năm tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Thị Sơn T phải chấp hành hình phạt chung là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù tại Bản án số 06/2020/HS-ST ngày 16/4/2020 của Toà án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, buộc bị cáo Nguyễn Thị Sơn T phải chấp hành hình phạt chung là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2024, khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 10/02/2024 đến ngày 19/02/2024.

  3. Về vật chứng vụ án:
    • - Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 (một) phong bì có ký của giám định viên Lê Đ1, người chứng kiến niêm phong Lê Tấn T3 và hình dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh K, bên trong phong bì bao gồm:

      Mẫu 1: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì vụ số 131/mẫu 01. Bên trong phong bì bao gồm trong 02 nỏ thuỷ tinh đựng mẫu, một đoạn ống nhựa màu tráng và chất bám dính bên trong 02 nỏ thuỷ tinh đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

      Mẫu 2: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì vụ số 131/mẫu 02. Bên trong phong bì bao gồm 22 túi nylon đựng mẫu và:

      • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 11 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có cùng kích thước khoảng 1,6 cm x 2,1 cm, trên túi có ghi số “3”, còn lại sau giám định có khối lượng là 1,5862 gam (được đựng trong một túi nylon).
      • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 02 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có cùng kích thước khoảng 1,6 cm x 2,1 cm, trên túi có ghi số “2”, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2061 gam (được đựng trong một túi nylon).
      • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 11 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có cùng kích thước khoảng 4,1 cm x 7,5 cm, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1077 gam (được đựng trong một túi nylon).
      • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền màu xanh lá, có cùng kích thước khoảng 02 cm x 2,5 cm, trên túi có ghi số “5”, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,3035 gam (được đựng trong một túi nylon).
      • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 02 túi nylon có rãnh gài, viền màu xanh, có cùng kích thước khoảng 2,5 cm x 2,5 cm, trên túi có ghi số “5”, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,4636 gam (được đựng trong một túi nylon).
      • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 02 túi nylon có rãnh gài, viền màu xanh, có cùng kích thước khoảng 02 cm x 2,5 cm, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,9030 gam (được đựng trong một túi nylon).
      • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có cùng kích thước khoảng 1,5 cm x 02 cm, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1067 gam (được đựng trong một túi nylon).
      • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, có kích thước khoảng 04 cm x 03 cm, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,9799 gam (được đựng trong một túi nylon).
      • + Các hạt tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 túi nylon có rãnh gài, viền màu đỏ, có kích thước khoảng 1,5 cm x 02 cm, trên túi có ghi số “4”, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1874 gam (được đựng trong một túi nylon).
    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý gồm: 01 chai thuỷ tinh trong suốt, cao khoảng 10cm, có nắp đậy trong suốt được gắn 01 ống nhựa màu xanh đài khoảng 16,3cm (đã qua sử dụng) và 01 (một) bật lửa màu đen - xám, có dòng chữ SKLC (đã qua sử dụng).
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị S1 Tuyền 01 (một) điện thoại di động OPPO F5Youth, màu đen, kiểu máy: CPH1725, số Seri: DUHISCZSNJCMINVK, số Imei 1: 866468037203199; 866468037203181, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động OPPO A15, màu xanh, kiểu máy: CPH2185, số Seri: DUYFQBM45PNS8EI, số Imei 1: 869868050456458; số Imei 2: 869868050456441, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Realme C21-Y, màu xanh dương, kiểu máy: RMX3263, số Seri: 1B09293410DA0QYX, số Imei 1: 860666053896210; số Imei 2: 860666053896202, đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho ông Trang Hữu C 01 (một) điện thoại di động Nokia, màu đen, Model: TA-1174, số Code: 23KIG74BH00, số Imei 1: 357683109645137, số Imei 2: 357683109645145 đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho ông Ngô Hồng S 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A02, màu đen, kiểu máy: SM-A022F/DS, số seri: R58K13SLBYW, số Imei 1: 351389222452494; số Imei 2: 352682482452496, đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho ông Mai Văn G1 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A12, màu đen, kiểu máy: SM-A125F/DS số Seri: R58R36YK7GX, số Imei 1: 353552687109473; số Imei 2: 355147557109477, đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho ông Cao Hiền Đ 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A11, màu đen, kiểu máy: SM-A115F/DS số Seri: R9JN90DNE5J, số Imei 1: 356938145676247; số Imei 2: 356489842676244, đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho ông Triệu B 01 (một) điện thoại di động OPPO A5S, màu đen, kiểu máy: CPH1912, số Seri: GQWGU8IJTKNFLNOV, số Imei 1: 868683047296672; số Imei 2: 868683047296664, đã qua sử dụng.

    Tất cả vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

  4. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Sơn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Triệu Bảo, Trang Hữu C, Cao Hiền Đ, Mai Văn G1, Ngô Hồng S vắng mặt tahi phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Hà Tiên;
  • - Công an tỉnh Kiên Giang (Phòng HS);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Hà Tiên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN - TỈNH KIÊN GIANG về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ng Thị Sơn Tuyền
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger