Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST

Ngày: 10/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Văn Vui
  2. Ông Bùi Văn Mưa Lớn

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Thạch Thiện – Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1994; Tên gọi khác: không có; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ học vấn: lớp 10/12; Giới tính: nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D (chết) và bà Phan Thị Kim P, sinh năm 1971; bị cáo có vợ là Huỳnh Thị Anh T1, sinh năm 2000; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2021.

- Tiền sự: không.

- Tiền án: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/4/2024 sau đó chuyển sang tạm giam; đến ngày 29/10/2024 thì bị cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lữ Văn T2, sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp P, xã H g A, huyện M, tỉnh Bến Tre – Thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn D: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số E khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Huỳnh Thị Anh T1, sinh năm 2000; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

Ông Phạm Văn S, sinh năm 1957; Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

Bà Huỳnh Thị Anh T1, sinh năm 2000; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

Ông Huỳnh Thanh T3, sinh năm 2002; Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.

Ông Trương Cao T4, sinh năm 1994; (Trạm y tế xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre). Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, Nguyễn Đức T sau khi uống bia điều khiển xe mô tô hiệu VARIO chở chị Huỳnh Thị Anh T1, sinh năm 2000 (vợ T) và cháu Nguyễn Tường A, sinh năm 2021 (con T) về phòng trọ của nhà trọ “Tám Sứ” thuộc ấp H, xã H, huyện M. Khi về đến nơi, ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971 (cha T, người lệ thuộc T về mặt vật chất, tinh thần) nói “Cá ông già vợ mày đem lên đó, coi làm gì ăn thì làm, còn không thì đem đi bỏ cho chó ăn đi”; T nói “đồ ăn, đồ uống không có mà ăn vậy mà có đồ ăn rồi kêu mang cho chó ăn”; ông D nói “Tao nói vậy đó, mày muốn ăn mày ăn, không ăn thì đổ”. T đi đến khom người dùng tay trái túm và tay phải tát vào vùng mặt bên trái của ông D khoảng 04 – 05 cái; tiếp tục dùng tay phải đấm vào vùng trán phải ông D khoảng 05 cái. T đi đến khu vực bếp lấy cái nồi đựng cá tôm chọi vào cửa phòng trọ; rồi đi đến mở cửa đá cái nồi ra ngoài sân và quay vào trong lấy bình chữa cháy xịt vào người ông D làm bụi bay khắp phòng nên chị T1 ôm con chạy ra ngoài, còn ông D nằm im. T dùng hai tay kéo ông D ra trước phòng trọ gần hàng rào lưới B40 rồi bước qua ngồi xỏm gần đầu ông D dùng tay trái nắm tóc, tay phải tát vào mặt ông D khoảng 05 – 07 cái và hỏi “mày đau không, sao bình thường nói hoài không biết nghe, mày thấy con cái khổ rồi mà mày cứ nhậu kiểu đó, mày biết gạo tao đi mượn đi xin từng ký không, đồ ăn cũng vậy, giờ có đồ ăn mày làm vậy, mày biết tao tức không”. T dùng chân phải đá vào vùng hông ông D khoảng 03 cái và đi lại gần cửa đá chiếc xe đồ chơi trúng vào bụng ông D. T kêu ông D “đi vô tắm rửa ngủ”, ông D lếch lại gần cửa phòng nằm không vào. T đang đứng trong nhà vệ sinh xách xô nước ra tạt ông D, dùng chân phải đá vào hông trái ông D 01 cái và nói “ăn nhậu cho cố vô rồi đi không nổi”. T vòng qua bên phải ngồi xỏm dùng tay trái nắm tai trái ông D, tay phải tát thêm khoảng 05 – 07 cái vào mặt trái ông D và đứng dậy dùng chân phải đá vào bụng ngực ông D khoảng 02 cái, vừa đá vừa nói “đứng dậy vô tắm” nhưng ông D không chịu đi. Trọng kè ông D vào nhà vệ sinh tắm rửa thay đồ và đưa ra nệm nằm nghỉ. T lại võng nằm và tiếp tục chửi ông D, lúc này ông D nằm im. Khoảng 20 phút sau, ông D đi vệ sinh, T nghe tiếng té trong nhà vệ sinh nên chạy lại thấy ông D đang đứng lên và tay vịnh vách tường. T kè ra nệm nằm thấy mũi ông D chảy máu nên lấy khăn lau máu và tiếp tục chửi. T lại võng nằm ngủ, khoảng 20 phút sau nghe có tiếng động thấy ông D đi đụng vào phần đuôi xe mô tô VARIO và nằm đè lên yên xe; sau đó ông D vào nhà vệ sinh. Khoảng 15 phút sau, T lại xem thấy ông D vẫn ngồi trên bồn cầu, tay chống cằm nên quay lại võng ngủ. Khoảng 30 phút sau (khoảng 23 giờ cùng ngày), T nghe có tiếng động thấy ông D té ngã nằm ngửa ở cửa nhà vệ sinh. T đi vào nhà vệ sinh xóc hai vai ôm ông D kéo ra nệm nằm thì thấy mắt “đứng tròng, trợn trợn, thở phì phì” và sau đó nghe tiếng ông D ngái nên T lên võng ngủ. Đến khoảng 07 giờ ngày 03/4/2024, chị T1 chở con đi chợ, T dọn dẹp nhà cửa pha trà đường kêu nhưng ông D không dậy, Trọng đút hai muỗng trà đường vào miệng thì ông D bị sặc nên chạy ra nhờ kêu xe đưa ông D đi bệnh viện. T điện thoại cho anh Huỳnh Thanh T3, sinh năm 2002, cư trú: ấp H, xã H, huyện M (làm chung công ty) chở đến Trạm y tế xã H, huyện M nhờ Bác sĩ đến khám và gọi xe cấp cứu đưa ông D đi Bệnh viện C1; sau đó chuyển qua Bệnh viện N. Khoảng 17 giờ cùng ngày, bệnh viện cho ông D về nhà; đến 23 giờ 45 phút cùng ngày thì ông D tử vong.

* Vật chứng

  • - 01 bình chữa cháy, màu đỏ, tay xách và van bóp màu đen, bình cao 46cm, đường kính bình 13cm, trong loa phun còn dính nhiều chất bột màu trắng (thuộc sở hữu của ông Phạm Văn S, đã trả).
  • - 01 chiếc xe đồ chơi trẻ em bằng nhựa màu vàng xanh đen, bị vỡ một phần và mất 01 bánh.
  • - 01 đoạn video trích xuất từ camera của nhà trọ “Tám Sứ” liên quan đến vụ việc T đánh và chửi ông D.

* Kết luận giám định tử thi số 23/KLGĐTT-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  1. Các kết quả chính
    • - Kết quả khám nghiệm:
      • + Phù nề, sây sát da, bầm tụ máu vùng đỉnh – thái dương phải, phù nề, bầm tụ máu vùng trán phải.
      • + Giập, xuất huyết tổ chức dưới da, cơ vùng trán – đỉnh – thái dương phải.
      • + Sung huyết màng cứng.
      • + Tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu đại não.
      • + Xuất huyết lan tỏa dưới màng nhện bán cầu đại não phải.
      • + Sung, xuất huyết diện cắt não.
      • + Vỡ nền sọ.
      • + Nhiều vết phù nề, bầm tụ máu vùng ngực.
      • + Xuất huyết tổ chức dưới da, cơ vùng ngực.
      • + Gãy xương sườn số III, IV, V bên trái.
      • + Khoang ngực phải có khoảng 150ml máu loãng. Khoang ngực trái có khoảng 200ml máu loãng.
      • + Giập, xuất huyết hai phổi.
      • + Khoang bụng có khoảng 1000ml máu loãng và 400g máu đông.
      • + Vỡ lách. Giập, xuất huyết mạc treo, mạc nối.
      • + Sung huyết gan, ruột và dạ dày.
    • - Kết quả xét nghiệm, giám định khác:
      • + Mô bệnh học:
        • . Chảy máu dưới nhện.
        • . Phù kèm viêm phổi cấp.
        • . Giập phổi rải rác.
        • . Vỡ lách.
        • . Tụ máu trong và quanh cơ thái dương phải.
      • + Độc chất: Có sự hiện diện của A1 và C.
  2. Kết luận
    • - Nạn nhân Nguyễn Văn D chết do đa chấn thương.
    • - Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích vùng đầu và ngực do vật tày tác động gây ra.

* Kết luận giám định số 3146/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • - Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video mẫu cần giám định.
  • - Không tiến hành chuyển nội dung hội thoại trong file video mẫu cần giám định thành văn bản (do không giám định tiếng nói hoặc mẫu cần giám định có chất lượng kém).

* Công văn số 23/KTHS(Đ2) ngày 23/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B về việc giải thích kết quả giám định:

  • - Tổn thương vùng đầu và vùng ngực - bụng là nguyên nhân dẫn đến nạn nhân tử vong.
  • - Bị cáo Nguyễn Đức T dùng tay đấm vào vùng đầu và dùng chân đá vào vùng ngực, hông, bụng (như mô tả trong Công văn số 294/ĐTTH ngày 17/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M) gây ra được các tổn thương nêu trong Kết luận giám định số 23/KLGĐTT-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K.
  • - Trường hợp nạn nhân té nằm ngửa, vùng chẩm đập xuống nền gạch không gây được các tổn thương như kết luận giám định của Phòng K.

* Công văn số 99/KTHS(Đ2) ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B về việc giải thích kết quả giám định: Tổn thương vùng đầu như nêu trong Kết luận giám định tử thi số 23/KLGĐTT-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K là nguyên nhân gây nạn nhân tử vong.

* Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 501/2024/KLGĐ ngày 25/11/2024 của Trung tâm P1 kết luận Nguyễn Đức T:

  • - Y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng rượu (F10.71 – ICD10).
  • - Khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Nguyễn Đức T đã bồi thường chi phí điều trị cho ông Nguyễn Văn D số tiền 4.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, lời khai của Nguyễn Đức T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Tại Cáo trạng số 04/CT-VKSMCB, ngày 26/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội Cố ý gây thương tích, theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố và đề nghị :

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm d, k khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 07 năm đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tam giữ, tạm giam là từ ngày 04/4/2024 đến ngày 29/10/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Đức T đã bồi thường chi phí điều trị cho ông Nguyễn Văn D số tiền 4.500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị:

  • - Ghi nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả cho ông Phạm Văn S: 01 bình chữa cháy, màu đỏ, tay xách và van bóp màu đen, bình cao 46cm, đường kính bình 13cm, trong loa phun còn dính nhiều chất bột màu trắng.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc xe đồ chơi trẻ em bằng nhựa màu vàng xanh đen, bị vỡ một phần và mất 01 bánh.
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 01 đoạn video trích xuất từ camera của nhà trọ “Tám Sứ” liên quan đến vụ việc T đánh và chửi ông D.

Tại tòa bị cáo Nguyễn Đức T khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo và những nội dung có liên quan trong vụ án giống như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Bị cáo Nguyễn Đức T thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nên đồng ý với ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo về phần trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù không có mâu thuẫn nhưng vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 02/4/2024 tại ấp H, xã H, huyện M, Nguyễn Đức T đã có hành vi dùng tay đánh và dùng chân đá vào người ông Nguyễn Văn D (là cha của Nguyễn Đức T, là người lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần đối với T) dẫn đến ông D tử vong do đa chấn thương

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T trình bày: Đồng ý với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về hành vi vi phạm của bị cáo Nguyễn Đức T, đã bị Viện kiểm sát truy tố theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội và hành vi sai trái của bị cáo cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bản thân bị cáo đã nhận ra hành vi sai trái của mình. Bị cáo đã rất thành khẩn và ăn năn hối cải nên xin được pháp luật khoan hồng, về trách nhiệm dân sự cũng chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại.Về luận tội Kiểm sát viên đã thể hiện đúng và đầy đủ về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo nên về trách nhiệm hình sự xin Hội đồng xét xử xem xét áp dung điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức thấp nhất cho bị cáo Nguyễn Đức T.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn D trình bày: đồng ý với nội dung Cáo trạng truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại toà và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Đức T nói lời sau cùng: Trong thời gian qua bản thân bị cáo rất hối hận nên rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Bị cáo Nguyễn Đức T thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nên đồng ý với ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo về phần trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù không có mâu thuẫn nhưng vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 02/4/2024 tại ấp H, xã H, huyện M, Nguyễn Đức T đã có hành vi dùng tay đánh và dùng chân đá vào người ông Nguyễn Văn D (là cha của Nguyễn Đức T, là người lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần đối với T) dẫn đến ông D tử vong do đa chấn thương

Vì vậy, Cáo trạng số 04/CT-VKS MCB, ngày 26/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

  1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người”.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã dùng tay chân đánh đá vào người bị hại Nguyễn Văn D gây ra thương tích làm tổn thương cơ thể cho bị hại. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T cũng được xem là rất nguy hiểm, mặc dù do không kiềm chế được bản thân nhưng lẽ ra khi bị hại Nguyễn Văn D không có khả năng phản kháng thì bị cáo có thể dừng lại nhưng bị cáo vẫn tiếp tục đánh, đá nhiều lần và nhiều cái vào người Nguyễn Văn D dẫn đến Nguyễn văn D tử vong do đa chấn thương. Khi thực hiện hành vi bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện điều đó đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội và thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ và phạm tội đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần theo quy định tại điểm d, k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đức T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; đang nuôi con nhỏ sinh năm 2021 và tham gia nghĩa vụ quân sự tại Quân đoàn D1, Quân khu G, Bộ Q, hiện đang là Quân nhân dự bị hạng I nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Nguyễn Đức T. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bị cáo Nguyễn Đức T là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Nhưng khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính quyết liệt đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần thiết áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị:

  • - Ghi nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả cho ông Phạm Văn S : 01 bình chữa cháy, màu đỏ, tay xách và van bóp màu đen, bình cao 46cm, đường kính bình 13cm, trong loa phun còn dính nhiều chất bột màu trắng.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc xe đồ chơi trẻ em bằng nhựa màu vàng xanh đen, bị vỡ một phần và mất 01 bánh.
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 01 đoạn video trích xuất từ camera của nhà trọ “Tám Sứ” liên quan đến vụ việc T đánh và chửi ông D.

[10] Về trách nhiệm dân sự Nguyễn Đức T đã bồi thường chi phí điều trị cho ông Nguyễn Văn D số tiền 4.500.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn D không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét.

[11] Quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại tòa về áp dụng hình phạt, về xử lý vật chứng và phần trách nhiệm dân sự là phù hợp với quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Trọng phạm T5 “ Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm d, k khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tam giữ, tạm giam là từ ngày 04/4/2024 đến ngày 29/10/2024.

[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Ghi nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả cho ông Phạm Văn S : 01 bình chữa cháy, màu đỏ, tay xách và van bóp màu đen, bình cao 46cm, đường kính bình 13cm, trong loa phun còn dính nhiều chất bột màu trắng.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc xe đồ chơi trẻ em bằng nhựa màu vàng xanh đen, bị vỡ một phần và mất 01 bánh.
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 01 đoạn video trích xuất từ camera của nhà trọ “Tám Sứ” liên quan đến vụ việc T đánh và chửi ông D.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận Nguyễn Đức T đã bồi thường chi phí điều trị cho ông Nguyễn Văn D số tiền 4.500.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn D không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét.

[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính từ khi nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Công an huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger