|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 07 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đàm Thị Tư
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Diện
Bà Nguyễn Thị Hồng Chuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lục Văn G, sinh ngày 23 tháng 3 năm 1992 tại xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/9/2021; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn V (đã chết) và bà Nhâm Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 13/9/2024, bị Phòng C1 Công an tỉnh H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC về hành vi “Cố ý gây thương tích” bằng hình thức phạt tiền, số tiền 5.750.000đ. Ngày 01/10/2024, được miễn toàn bộ tiền phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 01/QĐ-MTP của Phòng C1 Công an tỉnh H.
Nhân thân:
+ Ngày 25/01/2008, bị Công an huyện V, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bằng hình thức phạt cảnh cáo theo quyết định số 38/QĐ-XPHC.
+ Ngày 19/9/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 25/2008/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2009 (đã được xoá án tích).
+ Ngày 28/6/2023, bị Công an xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng bằng hình thức phạt tiền số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) theo quyết định số 07/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong ngày 08/8/2023.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh V1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Chu Đức T, sinh năm 1992. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 26/10/2024, tổ công tác Công an huyện B phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện B, tỉnh Hà Giang tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang phát hiện xe ô tô BKS 23C - 067.25 do Chu Đức T, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang điều khiển, trên xe còn có Lục Văn G, sinh năm 1992, trú tại thôn G, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang và Nguyễn Thanh V1, sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang có nhiều biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành ra hiệu lệnh dừng kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại vị trí thùng xe có nhiều cục gỗ dạng gốc, rễ (nghi là gỗ Sa Mộc D1), Lục Văn G thừa nhận toàn bộ số gỗ trên xe là gỗ Sa Mộc D1 của G đang vận chuyển để mang đi tiêu thụ, không có giấy tờ, thủ tục chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành lập biên bản làm việc và tạm giữ toàn bộ số gỗ trên thùng xe ô tô BKS 23C - 067.25 và niêm phong thùng xe ô tô đưa về trụ sở Công an huyện B để xác minh, điều tra, làm rõ.
Quá trình điều tra, Lục Văn G khai nhận: Đầu năm 2024, Lục Văn G đến xã L, huyện V, tỉnh Hà Giang chơi. G thấy trước cửa nhà một số hộ dân có một số cục gỗ và được người dân cho xem hình ảnh gỗ Sa Mộc D1 với hình dạng, vân gỗ đẹp, mùi tinh dầu thơm, biết có giá trị kinh tế cao nên nảy sinh ý định mua gỗ về, khi gom đủ khối lượng sẽ bán kiếm lời. Sau đó G bắt đầu thu mua gỗ Sa Mộc Dầu dạng gốc, rễ, dạng xẻ thanh và dạng gỗ tròn của một số người dân không quen biết, không rõ tên tuổi, tại xã L, huyện V, tỉnh Hà Giang với giá 5.000 đồng/kg, khi mua không có giấy tờ, thủ tục chứng minh nguồn gốc hợp pháp và hẹn những người này khi nào có gỗ sẽ vận chuyển về nhà riêng của G tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang để cân khối lượng rồi trả tiền. G thu mua, cất giấu tại nhà riêng được khoảng hơn 02m³ gỗ Sa Mộc Dầu và đăng tải hình ảnh gỗ Sa Mộc D1 lên mạng xã hội Facebook bằng tài khoản cá nhân mang tên “Giang Luc” để bán. Ngày 18/10/2024, có một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho G để hỏi về số gỗ G đăng bán và xin số điện thoại để tiện trao đổi. Sau khi được G cung cấp số điện thoại 0888.375.xxx, người đàn ông này sử dụng ứng dụng Zalo có tên tài khoản “Đồ Gỗ Mĩ Nghệ” kết bạn với G. Qua trao đổi, G biết người này tên C nhà ở tỉnh Tuyên Quang, lấy vợ nhà ở huyện B, tỉnh Hà Giang muốn mua 01 - 02 tấn gỗ lũa Sa M về cho thợ chế tác tại xưởng ở gần ngã ba huyện B, hai người trao đổi về giá mua và C hẹn sẽ lên nhà G để xem gỗ. Đến ngày 25/10/2024, C một mình điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu xám, không rõ biển kiểm soát đến nhà riêng của G tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang để xem gỗ. Sau khi xem, C đồng ý mua khoảng 02m³ gỗ lũa Sa M với giá 16.000.000 đồng bao gồm cả cước xe rồi đưa cho G 5.000.000 đồng để đặt cọc mua hàng, hứa hẹn nếu vận chuyển hàng thành công sẽ trả cho G số tiền còn lại và trả thêm 3.000.000 đồng nữa, G đồng ý. Theo thỏa thuận, G tiếp tục sử dụng hết số tiền 5.000.000 đồng C đặt cọc để thu mua gỗ rồi cất giấu tại nhà riêng.
Đến khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 26/10/2024, với mục đích vận chuyển gỗ bán cho C, G gọi điện thoại cho Nguyễn Thanh V1, sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang bảo V1 chở thuê cho G một số đồ gia dụng của gia đình đến huyện B (G không nói cho V1 biết việc vận chuyển gỗ), V1 đồng ý và thỏa thuận với giá cước vận chuyển là 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Khoảng 18 giờ 40 phút, V1 điều khiển xe ô tô tải BKS 23C - 067.25 đến nhà riêng của G tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang, khi đến Văn lùi đuôi xe ô tô sát cửa nhà để G bốc đồ lên thùng xe còn V1 đi đến nhà Lục Thìn L, sinh năm 1995 tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang chơi. Lúc này, G thuê 02 người nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ, trả cho mỗi người 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để bốc một phần gỗ dạng gốc, rễ cất giấu trong nhà lên thùng xe ô tô rồi quây bạt kín để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Sau đó, V1 về nhà G rồi hai người điều khiển xe ô tô theo hướng xã L ra đường C - Hà Giang, đi đến K thuộc thôn N, xã T, huyện V thì Văn đón Chu Đức T với mục đích nhờ T điều khiển xe ô tô cùng đến huyện B, tỉnh Hà Giang. Khi đi đến xã T, huyện B, ba người dừng lại ăn cơm sau đó T thay V1 điều khiển xe ô tô tiếp tục đi đến huyện B. Trên đường đi, C nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho G nói “Khi nào xuống thì gọi trước em, em mở trước cửa kho lùi thẳng và cho kín” rồi gửi vị trí định vị của C cho G tại số G, đường N thuộc tổ A, thị trấn V, huyện B. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đi đến tổ A thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang xe ô tô bị Công an huyện B dừng kiểm tra phát hiện trên thùng xe có nhiều gỗ không có giấy tờ, không rõ nguồn gốc. Công an huyện B đã tiến hành lập biên bản và thu giữ toàn bộ số gỗ để điều tra làm rõ.
Quá trình làm việc G khai nhận còn cất giấu, tàng trữ gỗ tại nhà riêng thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Vào hồi 11 giờ ngày 27/10/2014, Công an huyện B đã tiến hành kiểm tra tại nhà riêng của Lục Văn G thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang, Lục Văn G đã tự nguyện giao nộp nhiều khúc gỗ có nhiều kích thước, hình thù khác nhau không rõ hình dạng được để tại vị trí phòng khách, phòng bếp và nhà vệ sinh. Công an huyện B đã lập biên bản làm việc, tạm giữ toàn bộ số gỗ cho lên thùng xe ô tô BKS 23C-082.26, nhãn hiệu KIA, màu trắng và tiến hành niêm phong thùng xe theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Quyết định Trưng cầu giám định số 753/QĐ-CSĐT(KT), trưng cầu Chi cục Kiểm lâm H1 giám định toàn bộ số gỗ dạng gốc, rễ thu giữ trên thùng xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, số loại K3000s, màu sơn xanh, BKS 23C - 067.25 có tổng khối lượng bao nhiêu? Là loại gỗ gì? Thuộc nhóm gỗ nào? Quy định cụ thể tại văn bản quy phạm pháp luật nào?
Ngày 27/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang phối hợp với Chi cục kiểm lâm tỉnh H1 và các cơ quan chức năng tiến hành xác định khối lượng, chủng loại gỗ thu và thu mẫu để tiến hành giám định đối với toàn bộ số gỗ thu giữ trên thùng xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, số loại K3000s, màu sơn xanh, BKS 23C - 067.25, cụ thể:
- - Xác định chủng loại gỗ: Toàn bộ số gỗ trên thùng xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, số loại K3000s, màu sơn xanh, BKS 23C - 067.25 gồm 133 cục gỗ dạng gốc rễ có kích thước dưới quy cách theo quy định tại Thông tư 26/2022/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2022 của Bộ N đồng nhất một chủng loại gỗ;
- - Đo khối lượng gỗ: Xác định khối lượng các cục gỗ dạng gốc rễ bằng cách cân; tổng trọng lượng gỗ trên thùng xe là 1.127kg, quy đổi ra khối lượng là 1,127m³ (có bảng kê kèm theo).
- - Thu thập mẫu gỗ đại diện phục vụ giám định loài và lưu trữ mẫu giám định: Thu mẫu có số 120, 132 (theo bảng kê lâm sản đã lập ngày 27/10/2024) đại diện cho toàn bộ lô gỗ.
Ngày 27/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Quyết định Trưng cầu giám định số 754/QĐ-CSĐT (KT) trưng cầu Chi cục Kiểm lâm tỉnh H1 giám định toàn bộ số gỗ dạng gốc, rễ, dạng xẻ thanh và dạng gỗ tròn thu giữ tại nhà Lục Văn G thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang có tổng khối lượng bao nhiêu? Là loại gỗ gì? Thuộc nhóm gỗ nào? Quy định cụ thể tại văn bản quy phạm pháp luật nào?
Ngày 27/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang phối hợp với Chi cục kiểm lâm tỉnh H1 và các cơ quan chức năng tiến hành xác định khối lượng, chủng loại gỗ thu và thu mẫu để tiến hành giám định đối với toàn bộ số gỗ thu giữ tại nhà riêng của Lục Văn G thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang, cụ thể:
- - Xác định chủng loại gỗ: Toàn bộ số gỗ trên thùng xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, màu sơn trắng, BKS 23C-082.26 gồm 236 cục gỗ/thanh gỗ, trong đó: 193 thanh gỗ xẻ, 43 cục gỗ dạng gốc rễ, có kích thước dưới quy cách theo quy định tại Thông tư 26/2022/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2022 của Bộ N đồng nhất một chủng loại gỗ.
- - Đo khối lượng gỗ: Xác định khối lượng các thanh gỗ xẻ theo kích thước các chiều dài, rộng, dày. Quá trình tiến hành đo đạc kích thước của 193 (một trăm chín mươi ba) thanh gỗ xẻ có khối lượng 0,296m³, qui ra gỗ tròn là 0,474m³. Xác định khối lượng các cục dạng gốc rễ, dạng gỗ tròn có kích thước dưới quy cách gỗ tròn bằng cách cân. Tổng trọng lượng 43 cục gỗ dạng gốc rễ, dạng gỗ tròn là 463kg, quy ra gỗ tròn là 0,463m³.
- Tổng khối lượng gỗ quy tròn là 0,937m³ (có bảng kê kèm theo).
- - Thu thập mẫu gỗ đại diện phục vụ giám định loài và lưu trữ mẫu giám định: Thu mẫu có số 29, 32, 158 (theo bảng kê lâm sản đã lập ngày 27/10/2024) đại diện cho toàn bộ lô gỗ.
Tại Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 11-2024/KL/TCGĐ, ngày 01/11/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh H1, kết luận:
Căn cứ kết quả phân tích cấu tạo thô đại và hiển vi của mẫu giám định đựng trong thùng bìa cattong, được niêm phong có chữ ký của những người liên quan và hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an huyện B, Mẫu giám định A1, A2, A3, A4, A5 được ghi số đăng ký mẫu giám định của Phòng Thanh tra, pháp chế - Chi cục Kiểm lâm là 24015-21 đến 24015-25 (Biên bản nhận đối tượng giám định ngày 26 và 27/10/2024), kiểm tra so sánh với cơ sở dữ liệu các loài gỗ, mẫu tham chiếu, tài liệu, kết luận, các mẫu gỗ gửi giám định là đồng nhất về chủng loại gỗ, tên và nhóm gỗ như sau:
- Tên Việt Nam: Sa Mộc Dầu
- Tên gọi khác: Sa Mu D
- Tên khoa học: C2.
Sa M (C2) là cây gỗ lớn thuộc chi S (C) họ Hoàng đàn (Cupressaceae).
Sa M (C2) được xếp nhóm IA trong “Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số: 06/NĐ-CP ngày 22/01/2019 và Nghị định số: 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ sửa đổi bổ sung Nghị định số 06/NĐ-CP ngày 22/01/2019 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp;
Gỗ Sa Mộc D1 (C2) được xếp nhóm 1 trong “Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước” ban hành kèm theo Quyết định số: 2198-CNR ngày 26 tháng 11 năm 1977 của Bộ L2 - nay là Bộ N.
Sa Mộc D1 (C2) có tên trong “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ.
- Khối lượng gỗ cụ thể từng loại: (Theo các bảng kê Lâm sản trong Biên bản làm việc hồi 01 giờ 20 phút ngày 27/10/2024 và biên bản làm việc hồi 15 giờ 20 phút ngày 27/10/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B).
Ngày 26/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 1280/YC-CSĐT(KT), đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Hà Giang tiến hành định giá các tài sản sau:
- - Lô gỗ 1: Thu giữ trên thùng xe ô tô tải, nhãn hiệu KIA, số loại K3000s, màu sơn xanh, biển kiểm soát 23C- 067.25 vào ngày 26/10/2024 tại tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang gồm: 133 khúc gỗ Sa M (S - Cunninghamia konishii), nhóm IA, dạng gốc rễ có trọng lượng là 1.127kg, quy đổi ra khối lượng là 1,127m³.
- - Lô gỗ 2: Thu giữ ở nhà của Lục Văn G vào ngày 27/10/2024 tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang nhiều khúc gỗ Sa M (S - Cunninghamia konishii), dạng gốc, rễ, dạng xẻ thanh và dạng gỗ tròn gồm: 236 khúc, trong đó 193 thanh gỗ xẻ có khối lượng 0,296 m³, qui ra gỗ tròn là 0,474 m³; 43 khúc gỗ dạng gốc rễ, dạng gỗ tròn là 463kg, quy ra gỗ tròn là 0,463 m³. Tổng khối lượng gỗ quy tròn là 0,937 m³.
Ngày 10/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Hà Giang ban hành Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS, kết luận:
I. Lô gỗ 1: Thu giữ trên thùng xe ô tô tải, nhãn hiệu KIA, số loại K3000s, màu sơn xanh, biển kiểm soát 23C- 067.25 vào ngày 26/10/2024 tại tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang gồm: 133 khúc gỗ Sa M (S - Cunninghamia konishii), nhóm IA, dạng gốc rễ có trọng lượng là 1.127kg, quy đổi ra khối lượng là 1,127m³. Thời điểm định giá tháng 10/2024 có giá trị là 20.286.000 đồng.
II. Lô gỗ 2: Thu giữ ở nhà của Lục Văn G vào ngày 27/10/2024 tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang nhiều khúc gỗ Sa M (S - Cunninghamia konishii), dạng gốc, rễ, dạng xẻ thanh và dạng gỗ tròn gồm: 236 khúc, trong đó:
- - 193 thanh gỗ xẻ, có khối lượng 0,296 m³, quy ra gỗ tròn là 0,474 m³, thời điểm định giá tháng 10/2024 có trị giá là 8.532.000 đồng.
- + 43 khúc gỗ dạng gốc rễ, dạng gỗ tròn là 463kg, quy ra gỗ tròn là 0,463 m³, thời điểm định giá tháng 10/2024 có giá trị là 8.334.000 đồng.
Tổng giá trị là 37.152.000 đồng (Ba mươi bảy triệu một trăm năm mươi hai nghìn).
Với chứng cứ và hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 02/CT-VKSBQ ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố đối với bị cáo Lục Văn G về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng đã nêu.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố;
- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lục Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Về điều luật và hình phạt: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm k khoản 1 Điều 232, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lục Văn G từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 27/10/2024. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 232 của Bộ luật Hình sự;
- Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
- - Đề nghị xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 364 (ba trăm sáu mươi tư) khúc gỗ Sa mộc dầu (Sa mu dầu-C2), nhóm IA, dạng gốc, rễ, tròn, xẻ thanh. Trong đó: Lô gỗ 1: 131 (một trăm ba mươi mốt) khúc gỗ Sa mộc dầu (Sa mu dầu-C2), nhóm IA, dạng gốc rễ; Lô gỗ 2: 233 (hai trăm ba mươi ba) khúc gỗ Sa mộc dầu (Sa mu dầu-C2), nhóm IA. Trong đó có 192 thanh gỗ xẻ và 41 khúc gỗ dạng gốc rễ, dạng gỗ tròn.
- - Đề nghị xử trả lại bị cáo Lục Văn G 01 phong bì niêm phong, màu trắng. Bên trong có 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A56 5G, màu đen, đã qua sử dụng; gắn 02 thẻ sim: sim 1 Vinaphone có số thuê bao 0888375556, sim B có số thuê bao 0988899064 của bị can Lục Văn G (SN 1992; thường trú: Thôn G, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang).
- Về án phí: Bị cáo Lục Văn G là dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn số tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị trong bản luận tội.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác như biên bản làm việc và hình ảnh ngày 26/10/2024; biên bản làm việc, hình ảnh và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 27/10/2024; các biên bản làm việc và các bảng kê lâm sản kèm theo lập ngày 27/10/2024 cùng các hình ảnh chụp khi cân khối lượng các loại gỗ; biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh xác định hiện trường ngày 15/11/2024; Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 11-2024/KL/TCGĐ, ngày 01/11/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh H1; Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Hà Giang; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2024 đến ngày 26/10/2024, Lục Văn G có hành vi tàng trữ 369 cục gỗ, thanh gỗ dạng gốc rễ, dạng gỗ tròn, dạng thanh xẻ gỗ Sa M (S-Cunninghamia konishii), thuộc nhóm IA có tên trong “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” có khối lượng gỗ qui đổi là 2,064m³ với tổng giá trị đã định giá là 37.152.000 đồng (ba mươi bảy triệu một trăm năm mươi hai nghìn đồng). Do đó, bị cáo Lục Văn G phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; nhận thức được việc tàng trữ trái phép gỗ Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii) là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và nhân thân của người phạm tội thấy rằng: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng khi phạm tội bị cáo có 01 tiền sự bị Phòng C1 Công an tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích bằng hình thức phạt tiền, số tiền 5.750.000 đồng, sau đó ngày 01/10/2024, được Phòng C1 Công an tỉnh H ra Quyết định số 01/QĐ-MTP miễn toàn bộ tiền phạt cho Lục Văn G. Ngoài ra, bị cáo là người có nhân thân không tốt, năm 2008, bị Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang kết án về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong và được xóa án tích. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hiểu biết pháp luật hạn chế, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi áp dụng mức hình phạt cũng xem xét để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo đang bị tạm giam: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy, cần tiếp tục tạm giam bị cáo Lục Văn G để bảo đảm việc thi hành án.
[8] Đối với người đàn ông tên C đặt mua gỗ Sa M của Lục Văn G. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, tra cứu xác nhận thông tin về cư trú tại tổ dân phố, Công an thị trấn V và tiến hành gửi công văn đến Công ty cổ phần V2 (Công ty C3), địa chỉ: Z đường số A, khu chế xuất T, phường T, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên không có thông tin về người đàn ông tên C giống với thông tin khai thác qua ứng dụng Z và mô tả đặc điểm của G cung cấp nên không có căn cứ để điều tra, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
[9] Đối với Nguyễn Thanh V1 là lái xe tải chở hàng thuê, quá trình chở hàng thuê V1 không biết bị cáo vận chuyển gỗ trái phép. Đối với Chu Đức T là người được V1 gọi đi cùng lái xe giúp V1, trong quá trình di chuyển từ xã T, V về B, T không biết V1 chở thuê gì cho L1 văn G. Do đó, không có cơ sở để xử lý về hình sự đối với V1 và T, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Đối với những người bán gỗ cho G và những người được G thuê bốc gỗ lên thùng xe ô tô, do Lục Văn G khai nhận không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ. Cơ quan Công an cũng đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ để điều tra, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
[11] Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với những vật chứng thu giữ được chuyển theo hồ sơ vụ án, trên cơ sở nghiên cứu tài liệu chứng cứ và quá trình thẩm vấn tranh tụng tại phiên tòa. Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau: Trả lại vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội cho bị cáo Lục Văn G gồm: 01 (một) phong bì niêm phong, màu trắng. Bên trong có 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A56 5G, màu đen, đã qua sử dụng; gắn 02 thẻ sim: sim 1 Vinaphone có số thuê bao 0888375556, sim B có số thuê bao 0988899064 của bị can Lục Văn G (SN 1992; thường trú: Thôn G, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang). Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước vật chứng gồm: 364 (ba trăm sáu mươi tư) khúc gỗ Sa mộc dầu (Sa mu dầu-C2), nhóm IA, dạng gốc, rễ, tròn, xẻ thanh. Trong đó: 131 (một trăm ba mươi mốt) khúc gỗ Sa mộc dầu (Sa mu dầu-C2), nhóm IA, dạng gốc rễ; 233 (hai trăm ba mươi ba) khúc gỗ Sa mộc dầu (Sa mu dầu-C2), nhóm IA. Trong đó có 192 thanh gỗ xẻ và 41 khúc gỗ dạng gốc rễ, dạng gỗ tròn.
[12] Về án phí: Bị cáo Lục Văn G là dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên cần miễn toàn bộ số tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[13] Từ những phân tích nêu trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án, đề nghị về tội danh, đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo, đề nghị xử lý vật chứng và miễn án phí là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm k khoản 1 Điều 232, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, các Điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 15 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố: Bị cáo Lục Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lục Văn G 01 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ (ngày 27/10/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo Lục Văn G để bảo đảm việc thi hành án, thời hạn tạm giam đối với bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 364 (ba trăm sáu mươi tư) khúc gỗ Sa mộc dầu (Sa mu dầu-C2), nhóm IA, dạng gốc, rễ, tròn, xẻ thanh. Trong đó:
- + 131 (một trăm ba mươi mốt) khúc gỗ Sa mộc dầu (Sa mu dầu-C2), nhóm IA, dạng gốc rễ;
- + 233 (hai trăm ba mươi ba) khúc gỗ Sa mộc dầu (Sa mu dầu-C2), nhóm IA. Trong đó có 192 thanh gỗ xẻ và 41 khúc gỗ dạng gốc rễ, dạng gỗ tròn.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng; ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang, Hạt Kiểm lâm huyện B, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang).
- Trả lại bị cáo Lục Văn G 01 (một) phong bì niêm phong, màu trắng. Bên trong có 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A56 5G, màu đen, đã qua sử dụng; gắn 02 thẻ sim: sim 1 Vinaphone có số thuê bao 0888375556, sim B có số thuê bao 0988899064 của bị can Lục Văn G (SN 1992; thường trú: Thôn G, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng; ngày 05 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang).
- Về án phí: Miễn số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) cho bị cáo Lục Văn G.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án sao hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đàm Thị Tư |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về hình sự về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lục Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
