TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 23-01-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thế Nam;
Bà Nguyễn Thị Điệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Thúy - Thư ký TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Nhà văn hóa xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đình H1, sinh ngày: 19/4/1986, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị D1 (đã chết), trú tại Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ: Hoàng Thị H2, sinh năm 1990; bị cáo có 01 con, sinh năm 2016; tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 29/12/2020, bị TAND huyện Triệu Phong xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Gây rối trật tự công cộng” (chưa thi hành xong).
Về nhân thân:
Ngày 21/02/2020, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định số 34/QĐ-XPHC số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã thi hành xong).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024 cho đến nay; có mặt.
2. Lê Thế P, sinh ngày: 10/4/1991, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K, sinh năm 1961 và bà Võ Thị D2, sinh năm 1961 cùng trú tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ: Lê Thị Thu T, sinh năm 1994; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 17/6/2022, bị TAND huyện Triệu Phong xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024 cho đến nay; có mặt.
3. Lê Đức H3, sinh ngày: 11/11/1992, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: thợ la phông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê L, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị H4 (đã chết) trú tại thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ: Nguyễn Thị H5, sinh năm 1991; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 16/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bắt bị can để tạm giam”; ngày 13/12/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; ngày 01/01/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay; có mặt.
4. Trần Lý A, sinh ngày: 01/10/1990, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: không nghề; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Lý T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Xuân L1, sinh năm 1965, trú tại: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có; gia đình bị cáo 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Tiền án, tiền sự: không.
Ngày 16/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bắt bị can để tạm giam”; ngày 01/11/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; ngày 17/12/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay ; có mặt.
5. Nguyễn Văn C, sinh ngày: 14/3/1984, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: không nghề; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1951 và bà Phạm Thị L2, sinh năm 1956 cùng trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ: Phan Thị Ngọc Á, sinh năm 1991; bị cáo có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 16/9/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bắt bị can để tạm giam”; ngày 01/11/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; ngày 17/12/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay; có mặt.
- Người bị hại: Anh Võ Minh C1, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã T, huyện T; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Ông Phạm Sỹ T3, sinh năm 1985, trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- + Ông Ngô Thái A1, sinh năm 1999; trú tại: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Ông Võ Thành A2, sinh năm 1991, trú tại: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 13/5/2024, Lê Thế P, Nguyễn Đình H1 và Lê Đức H3 cùng nhau đến nhậu tại quán “Làng tôi”, thuộc thôn B, xã T, huyện T. Do có mâu thuẫn từ trước với Võ Minh C1, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã T, huyện T nên Pháp gọi điện thoại cho C1 để nói chuyện thì xảy ra cãi nhau. Pháp biết C1 đang chơi bida tại quán “BILL” thuộc thôn A, xã T, huyện T nên muốn đến gặp C1 để giải quyết mâu thuẫn. Trước khi đi, P nói với H1 và H3 biết, do giữa H3 và H1 cũng có mâu thuẩn từ trước với C1 nên cả hai đi cùng P lên gặp C1. Quá trình ngồi nhậu, H1 điện thoại cho Phạm Sỹ T3, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã T, huyện T rủ T3 về nhậu, lúc này Trần Lý A đang ngồi chơi với T3 nên T3 và Lý A gọi xe taxi đến quán “Làng tôi”, khi đến ngã ba xã T thì H1 gọi lại cho T3 nói đến thẳng quán “BILL” để gặp nhau. P gọi cho Trần Văn H6, sinh năm 1984, trú tại thôn A, xã T, huyện T là lái xe dịch vụ đến chở Pháp, H3, H1 đến quán “BILL” gặp C1. Khi đến đoạn ngã ba, thuộc xã T, huyện T cả nhóm gặp Nguyễn Văn C là bạn của H3 nên H3 rủ C lên xe ô tô đi cùng đến quán “BILL”. Đến nơi, Pháp, H3, C, H1 xuống xe, thấy phía trước quán có một viên đá bê tông nên H1 cầm theo. Lúc này, xe taxi chở T3 và Lý A cũng vừa đến. Cả nhóm vào cửa quán thì thấy C1 đang ở trong quán chơi Bi a, H3 đến dùng tay túm cổ áo C1, Pháp dùng tay chụp từ phía sau vào vai và cổ của C1, H1, C, T3, Lý A đi theo phía sau. Do trước đây đều có mâu thuẫn với C1, nên khi thấy H3 và P đang giữ C1 thì C đến dùng tay đấm vào mặt của C1, Lý A dùng gậy ba khúc đánh vào người C1, H1 dùng tay trái cầm viên đá bê tông đánh vào vùng đầu của C1, thấy vậy nên anh Võ Thành A2, sinh năm 1991, trú tại thôn B, xã T, huyện T (là người chơi bi da cùng C1) và anh T3 vào căn ngăn thì H1, Pháp, H3, C, Lý A đi ra ngoài. Khi nhóm của H1 đi ra ngoài thì C1 cầm cơ bida đứng ở cửa ra vào của quán để thách thức nên cả nhóm quay lại, H1 tiếp tục lao đến dùng tay đánh vào vùng đầu, người và dùng chân lên gối trúng vào vùng mặt của C1. Thấy vậy nên P, H3, Lý A, C cùng dùng tay đánh, đấm liên tục vào vùng đầu, mặt và người Chính. Sau khi được mọi người trong quán can ngăn thì tất cả bỏ ra xe ô tô và đi về.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 182/KLTTCT-TTPY ngày 29/8/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Q kết luận:
“Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Minh C1 tại thời điểm giám định là 11% (mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Trong đó: Vùng cằm có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, bờ mép tương đối gọn. Áp dụng tại hương 8, mục I, khoản 1 nguyên tắc 2 xếp tỷ lệ = 03%; gãy cũ xương chính mũi di lệch nhẹ, đã can xương hoàn toàn. Áp dụng tại chương 12, mục II, khoản 3.1 xếp tỷ lệ = 08%; tổn thương trên phù hợp với vật tày tác động gây nên.”
Tại Bản Kết luận giám định kỹ thuật số, điện tử số 879/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung của các tập tin video gửi đến giám định. Diễn biến vụ cố ý gây thương tích được thể hiện trong 313 file hình ảnh được chứa trong đĩa DVD kèm theo kết luận giám định nói trên.”
Cáo trạng số: 03/CT-VKSTP ngày 07 tháng 01 năm 2025 của VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, truy tố các bị cáo Nguyễn Đình H1, Lê Thế P, Lê Đức H3, Trần Lý A và Nguyễn Văn C, về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 54 BLHS. Riêng các bị cáo Nguyễn Đình H1, Lê Thế P áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; riêng các bị cáo Lê Đức H3, Trần Lý A và Nguyễn Văn C áp dụng thêm Điều 65 BLHS xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Đình H1 từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024.
- Bị cáo Lê Thế P từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024.
- Bị cáo Trần Lý A từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm)nhưng cho hưởng án treo, và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
- Bị cáo Lê Đức H3 từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
- Bị cáo Nguyễn Văn C từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
- -Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Do có mâu thuẫn từ trước, chiều ngày 13/5/2024, tại quán bida “BILL”, thuộc thôn A, xã T, huyện T. Bị cáo Nguyễn Đình H1 dùng viên bê tông, bị cáo Lý A dùng gậy ba khúc; các bị cáo Lê Đức H3, Nguyễn Văn C, Lê Thế P dùng tay, chân gây thương tích cho anh Võ Minh C1.
Mặc dù, không có việc bàn bạc và thống nhất trước nhưng khi thấy bị cáo H1 dùng viên bê tông và bị cáo Lý A dùng gậy ba khúc để đánh anh C1 thì các bị cáo P, H3 giữ người anh C1; bị cáo C dùng lời nói để đe dọa. Các hành động nêu trên của bị cáo H3, Pháp, C nhằm mục đích để cho bị cáo H1 và Lý A đánh anh C1. Vì vậy, các bị cáo H1, Pháp, H3, Lý A và C đều chịu chung trách nhiệm hình sự đối với tỷ lệ thương tích của anh C1 và chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Hung khí nguy hiểm”.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 182/KLTTCT-TTPY ngày 29/8/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Q kết luận:
“Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Minh C1 tại thời điểm giám định là 11% (mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Trong đó: Vùng cằm có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, bờ mép tương đối gọn. Áp dụng tại hương 8, mục I, khoản 1 nguyên tắc 2 xếp tỷ lệ = 03%; gãy cũ xương chính mũi di lệch nhẹ, đã can xương hoàn toàn. Áp dụng tại chương 12, mục II, khoản 3.1 xếp tỷ lệ = 08%; tổn thương trên phù hợp với vật tày tác động gây nên”.
Vì vậy, VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Nguyễn Đình H1, Lê Thế P, Lê Đức H3, Trần Lý A và Nguyễn Văn C, về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét vị trí, vai trò, trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo:
Trong vụ án này, các bị cáo H1, P, H3, Lý A và C cùng cố ý thực hiện hành vi gây thương tích cho anh Võ Minh C1 nhưng không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều thực hiện với vai trò người thực hành.
Nguyên nhân gây ra vụ án là do mâu thuẫn chủ yếu giữa bị cáo P và anh C1; bị cáo H1 dùng tay trái cầm viên đá bê tông đánh vào vùng đầu của C1; bị cáo Lý A dùng gậy ba khúc đánh vào người của C1; các bị cáo C, P, H3 dùng tay chân đánh vào người của C1. Do đó, thương tích gây ra cho anh C1 chủ yếu do bị cáo H1, bị cáo Lý A thực hiện. Vì vậy, các bị cáo P, H1, Lý A có vị trí và vai trò cao hơn các bị cáo khác; các bị cáo C, H3 có vị trí như nhau và thấp hơn các bị cáo khác.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Lê Thế P và Nguyễn Đình H1 đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường chi phí chữa bệnh, tổn thất tinh thần cho anh Võ Minh C1 với tổng số tiền 88.000.000 đồng; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại” tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ ở mức khởi điểm của khung hình phat (tỷ lệ 11%); các bị cáo đều được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1,2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo Lê Thế P và Nguyễn Đình H1 đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Các bị cáo C, Lý A, H3 có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường chi phí chữa bệnh, tổn thất tinh thần cho anh Võ Minh C1 với tổng số tiền 88.000.000 đồng. Nay, anh C1 không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[6]. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[7] Về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn: Thời gian tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 01,02/2025/HSST-QĐTG ngày 09/01/2025 đối với bị cáo Nguyễn Đình H1 và Lê Thế P tính đến ngày 23/01/2025 còn lại 45 ngày nên HĐXX không ban hành Quyết định tạm giam đối với các bị cáo.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình H1, Lê Thế P, Lê Đức H3, Trần Lý A và Nguyễn Văn C, phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 54 BLHS. Riêng các bị cáo Nguyễn Đình H1, Lê Thế P áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; riêng các bị cáo Lê Đức H3, Trần Lý A và Nguyễn Văn C áp dụng thêm Điều 65 BLHS xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đình H1 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024.
Bị cáo Lê Thế P 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024.
Bị cáo Trần Lý A 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/01/2025).
Bị cáo Lê Đức H3 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/01/2025).
Bị cáo Nguyễn Văn C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/01/2025).
Giao bị cáo Trần Lý A cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục bị cáo; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng UBND xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Lê Đức H3 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục bị cáo; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng UBND xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục bị cáo; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng UBND xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2 Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: mỗi bị cáo Nguyễn Đình H1, Lê Thế P, Lê Đức H3, Trần Lý A và Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hùng |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Hải cùng đồng phạm phạm tội "Cố ý gây thương tích"
