Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 03/2025/HS-ST

Ngày         : 20/3/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phan Hùng

Hội thẩm nhân dân: bà Chu Tuyết Ngân, ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên toà: bà Bùi Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Vũ Đức Hạnh Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST- HS ngày 04/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025 đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H.
  2. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1988, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: số nhà C, thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 5/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Nguyễn Văn H1, họ và tên mẹ: Ngô Thị N. Anh chị em ruột có 4 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Đinh Thị C. Con có hai con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt quả tang ngày 04/02/2025, được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 10/02/2025 hiện bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh” có mặt tại phiên tòa.

  3. Đặng Thanh C1.
  4. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1983, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: số I, ngõ C, thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 3/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Đặng Văn K, họ và tên mẹ: Ngô Thị L. Anh chị em ruột có 3 người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Trần Thị T, có hai con: lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt quả tang ngày 04/02/2025, được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 10/02/2025 hiện bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh” có mặt tại phiên tòa.

  5. Nguyễn Văn T1.
  6. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1992, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: số B, ngõ C, thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Nguyễn Văn M, họ và tên mẹ: Lê Thị V. Anh chị em ruột có ba người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Hoàng Thị H2, có hai con, con lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt quả tang ngày 04/02/2025, được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 10/02/2025 hiện bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh” có mặt tại phiên tòa.

  7. Chu Văn T2.
  8. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1999, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: số nhà G, ngõ H, thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 12/12, nghề nghiệp: công nhân. Họ và tên bố: Chu Văn K1, họ và tên mẹ: Đinh Thị G. Anh chị em ruột có hai người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Chìu Thị N1, có một con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt quả tang ngày 04/02/2025, được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 10/02/2025 hiện bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh” có mặt tại phiên tòa.

  9. Chu Hồng N2.
  10. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày 21 tháng 11 năm 1995, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: số nhà E, ngõ T, thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Chu Văn K2, họ và tên mẹ: Lê Thị K3. Anh chị em ruột có hai người, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: chưa. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt quả tang ngày 04/02/2025, được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 10/02/2025 hiện bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh” có mặt tại phiên tòa.

  11. Đặng Văn D.
  12. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày 05 tháng 01 năm 1983, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: số nhà A, ngõ C, thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 3/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Đặng Văn N3, họ và tên mẹ: Đinh Thị T3. Anh chị em ruột có bốn người, bị cáo là con thứ ba. Vợ, con: chưa. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt quả tang ngày 04/02/2025, bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh” có mặt tại phiên tòa.

  13. Nguyễn Văn T4.
  14. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1989, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: số nhà C, ngõ C, thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 6/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Nguyễn Văn T5, họ và tên mẹ: Đặng Thị N4. Anh chị em ruột có ba người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Trịnh Thị H3. Con có hai con; lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 05/02/2025, được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 10/02/2025 hiện bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh” có mặt tại phiên tòa.

-Người chứng kiến: chị Nguyễn Thị H4. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 04/02/2025, tại nhà của Nguyễn Văn H ở số nhà C thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H, Đặng Thanh C1, Chu Hồng N2, Đặng Văn D, Chu Văn T2, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức “đánh liêng” được thua bằng tiền. Trong quá trình bắt giữ Nguyễn Văn T4 đã cầm theo số tiền 170.000 đồng trên chiếu bạc bỏ chạy. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 8.135.000 đồng; 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếc chăn kích thước (2,0 x 1,6) m. Ngoài ra, còn thu giữ 07 điện thoại di động; 02 xe mô tô mang BKS 14L1-019.32 và 14M1-070.16 của Chu Hồng N2 và Chu Văn T2. Đến khoảng 02 giờ ngày 05/02/2025, Nguyễn Văn T4 đến Công an huyện Đ đầu thú và giao nộp lại số tiền 170.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Chu Hồng N2, Chu Văn T2, Đặng Văn D, Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 là bạn bè quen biết. Khoảng 20 giờ ngày 04/02/2025 T1, T4, D đến nhà H chơi thì H rủ mọi người đánh “Liêng” được thua bằng tiền, mọi người đồng ý. Sau đó, H đi mua bộ bài tú lơ khơ mang về, cả 04 người cùng nhau trải một chiếc chăn ra khu vực phòng khách cùng ngồi đánh liêng. D gọi điện và rủ C1 đến để cùng chơi. Khi mọi người đang chơi thì T2 gọi điện cho C1 thì được C1 rủ đến để cùng chơi. T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát:14 M1-070.16 đến nhà H để đánh liêng. Tại đây, T2 gọi điện cho N2 và rủ đến nhà H đánh liêng. N2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14L1-019.32 đến nhà H cùng mọi người ngồi thành vòng tròn để đánh liêng, thứ tự ngồi tính theo ngược chiều kim đồng hồ bắt đầu là T2, tiếp đến lần lượt là H, T1, C1, N2, D và T4.

Cách thức đánh bạc như sau: bộ bài 52 quân bài từ A đến K được chia cho mỗi người chơi 03 lá bài, người thắng là người có bộ 03 lá bài lớn nhất. Các bộ bài được tính theo thứ tự từ lớn đến bé; “sáp” là bộ 03 lá bài giống nhau, thứ tự tăng dần từ 2 đến A; “liêng” là bộ 03 lá bài liên tiếp nhau, nhỏ nhất là (A,2,3), cao nhất là (Q,K,A); “điểm” các lá bài (A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9) tương ứng số điểm lần lượt (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9), các lá bài "10, J, Q, K" được tính là 0 điểm, người chơi sẽ cộng tổng giá trị 03 lá bài, lấy giá trị chữ số hàng đơn vị, ai cao điểm hơn sẽ thắng. Nếu người chơi có "liêng", "điểm" bằng nhau thì phân thắng thua bằng lá bài có chất cao nhất, chất từ cao xuống thấp lần lượt là rô, cơ, bích, tép". Đối với tính điểm thì chất A “rô” là to nhất, còn chất A “cơ, bích, tép” không được tính theo thứ tự như các chất khác của lá bài khác, rồi lần lượt đến K, Q...3, 2 “rô, cơ, bích, tép". Sau khi chia mỗi người 03 lá bài thì mỗi người phải đặt 10.000 đồng vào giữa chiếu bạc gọi là “gà”, sau khi người chơi xem bài, tính điểm bài của mình, rồi đặt mức cược tối thiểu là 10.000 đồng, tối đa là 50.000 đồng (gọi là "tố") theo thứ tự lần lượt từ người chia bài đến người ngồi liền kề theo chiều từ trái qua phải, những người tham gia chơi tùy theo mức độ mạnh yếu của ba lá bài được chia để “tố”, “theo” hoặc “bỏ”. “Tố” là đặt thêm tiền cược cao hơn người chơi trước đã đặt, “theo” là đặt thêm tiền cược bằng người chơi trước đã đặt, “bỏ” là không tham gia chơi tiếp và mất số tiền đã cược. Người thắng cuối cùng sẽ được toàn bộ số tiền mà những người tham gia chơi đã đặt tiền gà, tiền cược trước đó và được chia bài, "tố" đặt cược đầu tiên tại ván tiếp theo. Ngoài ra, người nào thắng là bài “sáp” thì ngoài số tiền trong “gà”, những người còn lại thua phải đưa cho người thắng 50.000 đồng; người nào có số bài “liêng” đồng chất thì ngoài số tiền trong “gà”, những người còn lại thua phải đưa thêm cho người thắng 30.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H, Đặng Thanh C1, Chu Hồng N2, Đặng Văn D, Nguyễn Văn T4, Chu Văn T2 và Nguyễn Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Về số tiền bỏ ra đánh bạc: Nguyễn Văn H khai bỏ ra khoảng 730.000 đồng; Nguyễn Văn T1 bỏ ra khoảng 2.000.000 đồng; Chu Hồng N2 bỏ ra khoảng 850.000 đồng; Chu Văn T2 bỏ ra khoảng 800.000 đồng; Nguyễn Văn T4 bỏ ra khoảng 700.000 đồng; Đặng Thanh C1 bỏ ra khoảng 700.000 đồng; Đặng Văn D bỏ ra khoảng 500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: xe mô tô BKS 14L1-019.32 và 14M1-070.16 và giấy tờ xe thu giữ của Chu Hồng N2 và Chu Văn T2 không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên Chu Hồng N2, Chu Văn T2 điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, Công an huyện Đ đã chuyển Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Đ xử lý vi phạm hành chính theo quy định. Đối với số tiền 8.305.000 đồng thu giữ, Cơ quan điều tra đã chuyển gửi Kho bạc Nhà nước huyện Đ; các vật chứng khác thu giữ nêu trên, đã chuyển nhập kho vật chứng Công an huyện Đ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số: 240/CT-VKSĐH ngày 04/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Chu Hồng N2, Chu Văn T2, Đặng Văn D, Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà giữ quan điểm truy tố các bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó: các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

[1] Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn T4, Chu Hồng N2, Chu Văn T2, Đặng Văn D, Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 khai phù hợp với nội dung bản cáo trạng.

Như vậy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai người chứng kiến trong quá trình điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với các chứng cứ khác trong vụ án. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 04/02/2025, tại phòng khách nhà Nguyễn Văn H ở số C thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Chu Hồng N2, Chu Văn T2, Đặng Văn D, Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “liêng”, thì bị Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 8.135.000 đồng; 52 lá bài tú lơ khơ; 01 chiếc chăn; 07 chiếc điện thoại di động các loại; 02 xe mô -tô. Quá trình bắt giữ, Nguyễn Văn T4 bỏ trốn, ngày 05/02/2025 ra Công an đầu thú và nộp số tiền 170.000 đồng.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn T4, Chu Hồng N2, Chu Văn T2, Đặng Văn D, Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Đánh bạc là tệ nạn xã hội không những gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến hạnh phúc trong mỗi gia đình mà còn là nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, Nhà nước quy định tất cả những hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc, gá bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền đều phải xử lý trước pháp luật. Các bị cáo đều nhận thức được việc đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Số tiền các bị cáo đánh bạc bị thu giữ ngày 04/02/2025 tại nhà Nguyễn Văn H là 8.305.000 đồng (trong đó có số tiền 170.000 đồng Nguyễn Văn T4 nộp khi đầu thú). Do đó, các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Chu Hồng N2, Chu Văn T2, Đặng Văn D, Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xử lý trước pháp luật là cần thiết, đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm đánh bạc trong tình hình hiện nay.

[3] Về vai trò các bị cáo trong vụ án: đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc tại phòng khách nhà Nguyễn Văn H. Bị cáo H là người đề xuất, rủ các bị cáo T1, T4, Diện đánh bạc; chuẩn bị công cụ, phương tiện đánh bạc gồm chăn và bộ bài tú lơ khơ nên giữ vai trò đầu trong vụ án. Giữ vai trò sau là bị cáo D rủ bị cáo C1, bị cáo C1 rủ bị cáo T2; bị cáo T2 rủ bị cáo N2 đến đánh bạc tại nhà H. Nên ba bị cáo D, C1, T2 giữ vai trò ngang nhau sau bị cáo H. Giữ vai trò sau cùng trong vụ án là các bị cáo N2, T4, T1 cùng tham gia đánh bạc.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T4 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đặng Văn D là người khuyết tật nặng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt tù để các bị cáo yên tâm cải tạo sau trở thành người có ích cho xã hội. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội mà cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội để thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về vật chứng trong vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ tổng số tiền 8.305.000 đồng. Đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Thu giữ của bị cáo Đặng Thanh C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, màu xanh; của Chu Văn T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng; của Chu Hồng N2 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A 32, màu xanh; của Đặng Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme V30 5 G, màu đen. Điện thoại các bị cáo dùng liên lạc rủ nhau đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Cơ quan điều tra thu giữ của: Nguyễn Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng; của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y3S, màu đen; của Nguyễn Văn T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen. Các điện thoại thu giữ của bị cáo T1, H; T4 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại các bị cáo.

[7] Vấn đề khác: xe mô tô BKS 14L1-019.32 và 14M1-070.16 và giấy tờ xe thu giữ của Chu Hồng N2 và Chu Văn T2 không liên quan đến hành vi phạm tội. Các bị cáo điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe, Công an huyện Đ đã chuyển cho Đội Cảnh sát giao thông huyện Đ xử lý vi phạm hành chính.

[8] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng; bị cáo D là người khuyết tật nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: các bị cáo Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn T4, Chu Hồng N2, Chu Văn T2, Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đặng Văn D là người khuyết tật nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 NQ - 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H; Chu Hồng N2; Chu Văn T2; Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Nguyễn Văn H: 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt Đặng Thanh C1: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt Chu Văn T2: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt Nguyễn Văn T1: 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt Chu Hồng N2: 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s,p khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1,2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn D phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Đặng Văn D1: 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T4 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Nguyễn Văn T4: 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Chu Hồng N2, Chu Văn T2, Đặng Văn D, Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp các bị cáo hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 28/LC- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn H; hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 29/LC- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T1; hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 30/LC- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Đặng Thanh C1; hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 31/LC- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Chu Hồng N2; hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 32/LC- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Chu Văn T2; hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 33/LC- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T4; hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 34/LC- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Đặng Văn D của Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh.

Hủy quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 159/QĐ- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn H; số 160/QĐ- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Chu Văn T2; số 161/QĐ- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T1; số 162/QĐ- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Đặng Thanh C1; số 163/QĐ- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Chu Hồng N2; số 164/QĐ- ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T4; số 165/QĐ - ĐTTH ngày 09/02/2025 đối với bị cáo Đặng Văn D của Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài; 01 chiếc chăn màu xám.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của Đặng Thanh C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, màu xanh; của Chu Văn T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng; của Chu Hồng N2 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A 32, màu xanh; của Đặng Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme V30 5 G, màu đen. (Tất cả các điện thoại đều kèm theo sim)

Trả lại bị cáo: Nguyễn Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng; Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y3S, màu đen; Nguyễn Văn T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen. (Tất cả các điện thoại đều kèm theo sim). Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/3/2025 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 8.305.000 đ (tám triệu, ba trăm linh năm nghìn đồng) theo biên bản bàn giao tiếp nhận tài sản ngày 11/02/2025 giữa Công an huyện Đ và Kho bạc Nhà nước Đ.

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật phí và lệ phí.

Các bị cáo Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn T4; Chu Hồng N2; Chu Văn T2; Đặng Thanh C1; Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Văn D được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Chu Hồng N2, Chu Văn T2, Đặng Văn D, Đặng Thanh C1, Nguyễn Văn T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện KSND huyện Đầm Hà;
  • - Viện KSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng PC 10 - CAT Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Đầm Hà;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng.

T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ TỈNH QUẢNG NINH về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H cùng đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger