Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIO LINH

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 03/2025/HS-ST

Ngày 19-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nhan Ngọc Đăng.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Lương Khoa và bà Nguyễn Thị Hường.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 18/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 02/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/HSST-QĐ ngày 31/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày 21/01/2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB-TA ngày 05/02/2025 đối với bị cáo:

Phan Thanh N (tên gọi khác: không có); sinh năm 1995 tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh T và bà Lê Thị L; có vợ là Nguyễn Thị Quỳnh D, chưa có con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Phan Thanh N1, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
  • - Ông Phan Thanh G, sinh năm 1964; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
  • - Anh Võ Vương T1, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
  • - Anh Phan Thanh V, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
  • - Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1959; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

+ Người làm chứng:

  • - Ông Lê Văn L1, sinh năm 1968; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1961; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, anh Nguyễn Đức H (sinh năm 1972, trú tại thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị) sử dụng 01 thanh kim loại, màu trắng bạc (thường gọi là cây ba chĩa) đi đâm cá ở khu vực cống thoát nước đối diện trường Tiểu học V1, thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện G, gần hồ nuôi cá của gia đình anh Võ Vương T1 và ông Phan Thanh G, cùng trú tại thôn V, xã T. Lúc này, anh T1 đang đứng trước nhà bà Nguyễn Thị Đ (mẹ anh T1) nhìn thấy, nghi ngờ anh H trộm cá trong hồ nhà mình và nhà ông G nên hô hoán, gọi người đến bắt trộm. Bà Đ chạy tới xem thì nhìn thấy ông H đang cầm cây ba chĩa trên tay, sợ đánh nhau nên nói: “Đừng làm bậy, đừng làm bậy” rồi đi vào nhà gọi điện thoại cho ông Lê Văn L1 là Trưởng thôn đến giải quyết.

Anh Phan Thanh N1 (con trai ông G) đang ở nhà nghe có người nói anh H trộm cá trong hồ nhà mình nên gọi điện thoại cho anh T1 hỏi thông tin rồi đi đến hiện trường. Cùng lúc này, Phan Thanh N đi chơi về, nghe được cuộc điện thoại của anh N1. Trước đó, do hồ của ông G (ông G và N góp vốn nuôi chung) đã nhiều lần bị mất trộm cá và tài sản khác nên N bức xúc, đi vào nhà mình lấy 01 thanh kim loại, một đầu uốn cong tạo thành hình chữ “L”, dài khoảng 40cm, đường kính khoảng 1,5cm rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 74L1-380.12 của chị Nguyễn Thị Quỳnh D (sinh năm 1995, vợ N) đến hồ cá. Khi đến nơi, nhìn thấy mọi người đang cãi nhau, đồng thời thấy trên tay anh H đang cầm cây ba chĩa có ghim 01 con cá lóc nên N cầm thanh kim loại bằng tay phải, đến đứng sau lưng anh H, chếch về bên trái, cách khoảng 0,5m, đánh 01 cái từ phải sang trái trúng vào vùng lưng anh H. Lúc này, anh T1 đang cầm điện thoại quay lại sự việc nhưng bất ngờ có người xô đẩy từ phía sau nên cất vào túi quần mình đang mặc. Thấy vậy, anh N1 đến giằng co nhằm lấy cây ba chĩa ra khỏi tay anh H. N vòng ra trước mặt, cách khoảng 0,5m, dùng thanh sắt đánh 01 cái từ trên xuống trúng vào đầu anh H. Anh H tiếp tục giằng co với anh N1 làm cây ba chỉa gãy làm hai, cứa vào ngón III tay phải gây chảy máu. Anh N1 giật được cây ba chĩa ném xuống bờ hồ gần đó. Anh H bỏ chạy, N đuổi theo đấm 02 cái vào vùng đầu phía sau rồi điều khiển xe về nhà. Sau đó, anh H được người nhà đưa đi điều trị tại Bệnh viện T4.

Ngày 29/5/2024, anh H làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện G.

Bản Kết luận pháp y về thương tích số 77/KLTTCT-TTPY ngày 20/5/2024 đối với anh Nguyễn Văn H1 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q, kết luận:

“1. Các kết quả chính: Kết quả khám giám định:

  • - Vùng đầu có 01 vết sẹo kích thước trung bình, bờ mép tương đối gọn.
  • - Ngón III tay phải có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, bờ mép tương đối gọn.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức H tại thời điểm giám định là: 03% (ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Trong đó:

  • + Vùng đầu có 01 vết sẹo kích thước trung bình, bờ mép tương đối gọn. Áp dụng Chương 8, Mục I, khoản 2 xếp tỷ lệ=02%.
  • + Ngón III tay phải có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, bờ mép tương đối gọn. Áp dụng Chương 8, Mục I, khoản 1 xếp tỷ lệ=01%.
  • - Các tổn thương trên phù hợp với vật tày tác động gây nên”.

Bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 221/KLTTCT-TTPY ngày 22/10/2024 của TTPY tỉnh Q, kết luận:

“1. Các kết quả chính:

Kết quả khám giám định: Vùng đầu có 01 vết sẹo kích thước trung bình. Ngón III tay phải có 01 vết sẹo kích thước nhỏ. Chấn động não điều trị ổn định.

Kết quả cận lâm sàng: Điện não đồ ngày 15/11/2024, điện não đồ tại thời điểm hiện tại chưa ghi nhận sóng bệnh lý.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức H tại thời điểm giám định là: 04% (bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Trong đó:

  • + Vùng đầu có 01 vết sẹo kích thước trung bình. Áp dụng Chương 8, Mục I, khoản 2 xếp tỷ lệ = 02%.
  • + Ngón III tay phải có 01 vết sẹo kích thước nhỏ. Áp dụng Chương 8, Mục I, khoản 1 xếp tỷ lệ = 01%.
  • + Chấn động não điều trị ổn định. Áp dụng tại C, Mục II, khoản 1 xếp tỷ lệ = 01%”.

Bản Kết luận giám định số 838/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung tập tin video gửi đến giám định”.

Tại biên bản làm việc các ngày 25, 26/7/2024 với bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về nội dung trong đoạn video xác nhận:

  • “+ Bắt đầu đoạn video đến giây thứ 10: Xuất hiện hình ảnh người đàn ông mặc áo phông màu trắng, đầu đội đèn pin đang đứng nói chuyện là anh Nguyễn Đức H.
  • + Từ giây thứ 10 đến giây 18: Ghi lại hình ảnh anh H đang đứng nói chuyện với ông Lê Văn L1 (mặc áo phông màu xanh) và anh Võ Vương T1 (người đang quay video).
  • + Giây 18, 19: Trong lúc anh H đang đứng nói chuyện thì bị một người (xác định là Phan Thanh N) sử dụng 01 thanh kim loại đánh vào vùng lưng anh H.
  • + Từ giây thứ 20 đến giây 26: Có một người đàn ông mặc áo phông màu đen, đầu đội mũ bảo hiểm màu đen (xác định là anh Phan Thanh N1) xuất hiện, sử dụng tay giằng co, giật cây ba chĩa mà anh H đang cầm trên tay”.

Cáo trạng số 37/CT-VKS-GL ngày 22/8/2024 và Cáo trạng bổ sung số 50/CT-VKS-GL ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo Phan Thanh N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng Điều 48 BLHS; các Điều 288, 584, 585, 586, 587 và 590 BLDS: buộc anh Phan Thanh N1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Đức H số tiền là 700.000 đồng; buộc bị cáo Phan Thanh N và anh Phan Thanh N1 phải liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Đức H số tiền là là 26.079.818 đồng, trong đó phần của anh Phan Thanh N1 là 6.519.954 đồng, phần của bị cáo N là 19.559.863 đồng; bác yêu cầu của anh Nguyễn Đức H đối với yêu cầu buộc anh Phan Thanh N1 và ông Phan Thanh G liên đới bồi thường tổng số tiền là 140.400.00 đồng; bác một phần yêu cầu của anh Nguyễn Đức H đối với yêu cầu buộc bị cáo Phan Thanh N phải bồi thường với số tiền là 272.894.562 đồng.

Về vật chứng: không xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí HSST, anh Phan Thanh N1 và bị cáo phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Đức H có ý kiến việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố một mình bị cáo Phan Thanh N là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Trong vụ án này, vì mâu thuẫn trong tranh chấp đất đai trước đó nên khi anh H đi đâm cá, anh Võ Vương T1 đã điện thoại cho nhiều người để đánh anh H; anh T1 và ông Lê Văn L1 là người giữ áo anh H để Phan Thanh N dùng thanh kim loại và ông Phan Thanh G dùng gậy gỗ đánh vào lưng và đầu anh H, thương tích 3% trong kết luận giám định là do ông Phan Thanh G gây ra; sau khi bị thương tích ở đầu, giữa anh H và Phan Thanh N1 giằng co với nhau cây ba chĩa, anh N1 cầm thanh kim loại nên anh H dùng tay phải để giữ nên gây thương tích 1% ở ngón III tay phải, sau đó anh H bị bà Nguyễn Thị Đ và ông L1 túm áo để Võ Vương T1, ông Phạm Văn T2, Phan Thanh N1, Phan Thanh N dùng tay đánh bị hại. Do đó, cần xem xét trách nhiệm hình sự đối với những người trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ hung khí gây thương tích và không thu giữ xe mô tô mà bị cáo điều khiển là vi phạm thủ tục tố tụng. Trong giai đoạn truy tố, VKSND huyện Gio Linh không mời bị hại làm việc là vi phạm tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Xét ý kiến của bị hại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
  2. Vào 21 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, sau khi nhận được báo cáo tiếp nhân tố giác về tội phạm, Công an xã T đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra sự việc và thu giữ 01 thanh kim loại màu bạc bị gãy làm 02 phần và chiếc đèn pin của anh H, ngoài ra không thu giữ gì thêm (BL27). Ngày 29/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã lập Biên bản truy tìm vật chứng là thanh kim Loại hình chữ “L” mà bị cáo sử dụng để đánh anh H nhưng không thu giữ được. Đến ngày 07/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã ra Quyết định số 361/QĐ-TT (BL150) để truy tìm vật chứng nhưng vẫn không thu giữ được. Như vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã áp dụng và thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng từ khi xảy ra sự việc cho đến kết thúc điều tra nhưng không thu giữ được thanh kim loại hình chữ “L” mà bị cáo sử dụng để làm công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội là vì lí do khách quan. Đối với chiếc xe mô tô Biển kiểm soát (BKS) 74L1-380.12 của chị Nguyễn Thị Quỳnh D (sinh năm 1995, vợ N), chiếc xe mô tô này được chị D mua đăng ký ngày 18/20/2023 (BL141); đến ngày 09/01/2024, chị D và bị cáo N kết hôn, như vậy chiếc xe mô tô BKS 74L1-380.12 là tài sản riêng của chị D hình thành trước thời kỳ hôn nhân. Việc bị cáo N sử dụng chiếc xe này để đi đánh anh H chị D không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G không thu giữ là có căn cứ. Đối với ý kiến về vi phạm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, theo quy định từ Điều 243 đến Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự, không quy định Viện kiểm sát phải tiến hành làm việc với bị hại.

    Như vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  3. Về tội danh:
    1. Xét ý kiến của bị hại Hội đồng xét xử thấy rằng:
      1. Đối với việc gọi điện của anh Võ Vương T1, tối 26/3/2024, anh T1 sử dụng số thuê bao 0948299459 để thực hiện các cuộc gọi. Theo Công văn số 1533/KTM-ANM ngày 13/9/2024 của Tổng công ty H2 mạng Ban khai thác mạng (BL347-349), anh T1 chỉ gọi vào 02 số điện thoại, cụ thể là số 0918.347.xxx của chị Lê Thị Hằng N2 là vợ anh T1 và số 0943491812 là số thuê bao của anh Trần Trung C (Công an xã T); kết quả đối chất tại phiên tòa, bị hại anh H thừa nhận anh T1 khi gọi điện chỉ nói “tôi bắt được người ăn trộm”, ngoài ra không có từ nào kêu gọi người khác để đánh anh H. Nên việc bị hại cho rằng anh T1 là người khởi xướng việc đánh anh H là không có căn cứ.
      2. Đối với ý kiến của bị hại cho rằng anh Võ Vương T1 và ông Lê Văn L1 là người giữ áo anh H để Phan Thanh N dùng thanh kim loại và ông Phan Thanh G dùng gậy gỗ đánh vào lưng và đầu anh H, thương tích 3% trong kết luận giám định là do ông Phan Thanh G gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng:
      3. Tại biên bản làm việc các ngày 25, 26/7/2024 với bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về nội dung trong đoạn video xác nhận:

        • “+ Bắt đầu đoạn video đến giây thứ 10: Xuất hiện hình ảnh người đàn ông mặc áo phông màu trắng, đầu đội đèn pin đang đứng nói chuyện là anh Nguyễn Đức H.
        • + Từ giây thứ 10 đến giây 18: Ghi lại hình ảnh anh H đang đứng nói chuyện với ông Lê Văn L1 (mặc áo phông màu xanh) và anh Võ Vương T1 (người đang quay video).
        • + Giây 18, 19: Trong lúc anh H đang đứng nói chuyện thì bị một người (xác định là Phan Thanh N) sử dụng 01 thanh kim loại đánh vào vùng lưng anh H.
        • + Từ giây thứ 20 đến giây 26: Có một người đàn ông mặc áo phông màu đen, đầu đội mũ bảo hiểm màu đen (xác định là anh Phan Thanh N1) xuất hiện, sử dụng tay giằng co, giật cây ba chĩa mà anh H đang cầm trên tay”.

        Như vậy, với kết quả kiểm tra nội dung Video nêu trên thì anh T1 và ông L1 không thực hiện bất kỳ hành vi gì đối với bị hại cho đến thời điểm anh N1 giằng co cây ba chĩa với bị hại.

        Ngoài ra, tại phiên tòa, ông L1 và anh T1 (là người đứng gần anh H và là người chứng kiến việc đánh nhau) thì thời tiết lúc này tối, tầm nhìn hạn chế, chỉ thấy 01 bóng người lao vào đánh anh H, dạng người như bị cáo N; sau khi sự việc xảy ra mới biết và khẳng định đó là bị cáo N. Mặt khác, kết quả thực nghiệm điều tra xác định bị hại không thấy rõ tư thế, khoảng cách đánh do quay lưng nên bị hại không thể nhìn rõ ai là người đánh.

        Bên cạnh đó, lời khai của bị cáo N thể hiện, bị cáo dùng thanh kim loại hình chữ L đánh 01 cái trúng vào vùng đầu, sau khi anh H bỏ chạy bị cáo đuổi theo dùng tay đấm 02 cái vào vùng đầu. Tại Biên bản khám xét dấu vết trên thân thể ngày 01/4/2024 của Công an xã T (BL42), biên bản thể hiện, “trên thân thể người bị hại có 01 vết rách tại đỉnh đầu có kích thước 3,5cmx0,3cm; 04 vết bầm ở vùng đầu (ở vùng tai trái và phần đầu bên trái (bản ảnh), 01 vết rách ở da tại vị trí ngón tay thứ nhất của ngón giữa bàn tay phải”. Như vậy, lời khai của bị cáo phù hợp với các dấu vết ở vùng đầu trên cơ thể bị hại.

        Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ để khẳng định vết thương 3% tại vùng đầu của bị hại là do bị cáo dùng thanh kim loại hình chữ L gây ra chứ không phải do ông Phan Thanh G gây ra. Anh Võ Vương T1, ông Lê Văn L1 không giúp sức cho bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho anh H.

        Đối với hành vi của Anh Phan Thanh N1: Khi thấy đánh nhau, sợ anh H cầm cây ba chĩa có thể gây thương tích cho người khác nên đã giật ném qua bờ hồ gần đó. Quá trình giằng co, cây ba chĩa gãy làm hai cứa vào tay phải anh H gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%. Tại phiên tòa, Bị hại cũng xác định, giữa bị hại và anh N1 giằng co với nhau nên bị thương tích, anh N1 chỉ dùng tay để giữ cây 3 chĩa, không đụng chạm vào cơ thể trong quá trình giằng co. Nên thương tích hình thành trên ngón III tay phải bị hại phù hợp với lời khai của anh N1 và bị hại. Đây là hành vi vô ý gây thương tích, không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

        Đối với việc bị hại cho rằng, sau khi bị thương tích 3%, anh H bỏ chạy thì bị bà Đ và ông L1 túm áo để Võ Vương T1, ông Phạm Văn T2, Phan Thanh N1, Phan Thanh N dùng tay đánh bị hại. Xét thấy, lời khai của ông L1 và anh T1 thấy có 02 người đuổi theo, trong đó có anh N1 (giằng co với anh H) và bị cáo; bà Đ đang đứng ở vị trí ngược với hướng di chuyển của bị hại nên không thể giữ bị hại; qua xác minh, tối ngày 26/3/2024 thì ông Phạm Văn T2 đang ở nhà và không có mặt tại hiện trường (BL336); lời khai của ông Giáp xác Đ1 khi H bỏ chạy, ông có túm áo chụp lại. Như vậy, có căn cứ để xác định, sau khi bị đánh 3%, anh N1 và bị hại giằng có nhau cái ba chĩa, bị cáo là người đánh vào vùng đầu bị hại, sau khi thả cây ba chĩa để bỏ chạy ông G có chụp áo anh H. Trong quá trình này, chỉ có thương tích 1% do anh N1 gây ra với lỗi vô ý nên hành vi của bị cáo, anh N1 và ông G tại giai đoạn này không cấu thành tội phạm; ông Phạm Văn T2 không có mặt tại hiện trường và bà Đ không có hành vi gì đối với bị hại nên Cơ quan cảnh điều tra không xem xét xử lý với bị cáo, anh Phan Thanh N1, anh Võ Vương T1, ông Phạm Văn T2, ông Lê Văn L1 và bà Nguyễn Thị Đ đối với thương tích 1% là có căn cứ.

        Từ những phân tích nếu trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để khẳng định, khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 3 năm 2024, do có mâu thuẫn về tranh chấp đất đai từ trước, bên cạnh đó, khu vực hồ cá và trại chăn nuôi của gia đình cũng thường xuyên bị mất trộm cá và tài sản nên khi nghe thông tin anh Nguyễn Đức H trộm cá trong hồ của mình, Phan Thanh N đã có hành vi dùng thanh kim loại hình chữ “L” là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Nguyễn Đức H với tỷ lệ thương tật là 03%. Đến ngày 29/5/2024, bị hại làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Thanh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án:
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hồi cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Ngoài ra bố bị cáo là ông Phan Thanh T có nhiều thành tích trong công tác, được Bộ trưởng Bộ L4, Thương binh và xã hội tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp lao động, thương binh và xã hội; Chủ tịch UBND huyện G tặng nhiều Giấy khen. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

    Trong quá trình điều tra, bị cáo N tự nguyện bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng (chi phí khám, chữa bệnh và tiền bồi dưỡng). Tuy nhiên, anh H từ chối nhận và có nguyện vọng cung cấp tài liệu liên quan đến vấn đề bồi thường dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Gio Linh. Bị cáo đã tự nguyện nộp 18.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh để đảm bảo việc khắc phục hậu quả khi có yêu cầu của bị hại. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy HĐXX xét thấy cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo trở thành người sống có ích cho gia đình và xã hội như ý kiến của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

  6. Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị hại anh Nguyễn Đức H yêu cầu Tòa án buộc bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 299.674.380 đồng, buộc anh Phan Thanh N1, ông Phan Thanh G phải liên đới bồi thường số tiền là 140.400.000 đồng.
    1. Xét các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị cáo Phan Thanh N, anh Phan Thanh G, anh Phan Thanh N1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
    2. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, bị cáo Phan Thanh N có hành vi dùng thanh kim loại gây thương tích cho anh H 3%, Phan Thanh N1 vô ý gây thương tích cho anh H 1%; ông Phan Thanh G không có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của anh H. Sau khi bị gây thương tích, anh H đã điều trị tại Bệnh viện T4 02 ngày (ngày 26 và ngày 27/3/2024).

      Căn cứ khoản 1 Điều 584, Điều 590 BLDS, bị cáo Phan Thanh N và anh Phan Thanh N1 có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Đức H. Trong đó, các thiệt hại có thể chia tách theo từng vết thương do từng người gây ra thì người gây vết thương có nghĩa vụ bồi thường; đối với các thiệt hại không thể chia tách cụ thể theo vết thương thì bị cáo và anh N1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường, phần thiệt hại được tính theo tỉ lệ gây thương tích trên tổng tỉ lệ thương tích của anh H.

    3. Xét các khoản yêu cầu bồi thường của anh Nguyễn Đức H:
      1. Tại phiên tòa, anh Phan Thanh N1 và bị cáo Phan Thanh N đồng ý thanh toán các khoản thiệt hại theo yêu cầu của bị hại gồm các khoản sau:
        • - Tiền điều trị tại Bệnh viện T4: 2.400.000 đồng.
        • - Tiền thuê xe đi Bệnh viện T4 là 10.000.000 đồng.
        • - Tiền sao lục bệnh án 190.000 đồng.
        • - Tiền vận đơn 210.000 đồng.
        • - Chi phí thuê xe và cắt chỉ ngày 10/4/2024 tại Trung tâm y tế huyện G: 700.000 đồng.
        • - Tiền xăng xe đi làm việc tại cơ quan điều tra 1.000.000 đồng.
        • - Tiền thuốc mua tại quầy thuốc L: 380.980 đồng.

        Tổng số tiền mà bị cáo và anh Phan Thanh N1 chấp nhận bồi thường là 14.880.980 đồng. Xét thấy, việc bị cáo và anh N1 thuận tình bồi thường các khoản thiệt hại nêu trên theo yêu cầu của bị hại là tự nguyện, không trái đạo đức và pháp luật nên cần chấp nhận.

      2. Đối với các khoản yêu cầu bồi thường thiệt hại còn lại theo yêu cầu của bị hại, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh đã yêu cầu bị hại cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh thiệt hại. Xét các khoản bồi thường thiệt hại còn lại của bị hại, Hội đồng xét xử thấy:
        • - Tiền thuốc điều trị ngoại trú 8.593.400 đồng từ tháng 4 đến tháng 12/2024: Theo hồ sơ Bệnh án ngày 26/3/2024 của Bệnh viện T4, sau khi được xuất viện ngày 27/3/2024, thì hướng điều trị và các chế độ tiếp theo: “Bệnh tỉnh, đỡ đau đầu, chưa phát hiện bất thường”, và không chỉ định sử dụng các loại thuốc tiếp theo cũng như chỉ định ngoại trú. Quá trình giải quyết vụ án, bị hại chỉ cung cấp các đơn thuốc (của Bệnh viện P, Phú Yên và Phòng khám K1 (B)) mà không cung cấp các tài liệu khám bệnh, chỉ định điều trị của cơ quan y tế có thẩm quyền cũng như các chứng từ, hóa đơn liên quan. Việc bị hại tự ý sử dụng thuốc từ tháng 4 đến tháng 12/2024 để điều trị chấn động não mà không do cơ sở y tế có thẩm quyền khám và chỉ định sử dụng là không có cơ sở nên không chấp nhận.
        • - Tiền bồi dưỡng ăn uống hồi phục 54.800.000 đồng: Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng” thì chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án. Bị hại điều trị 02 ngày 26 và 27/3/2024 thì xuất viện. L3 tối thiểu tại thành phố H là 4.410.000 đồng/26 ngày = 170.000 đồng/ngày. Do đó, chỉ chấp nhận tiền bồi dưỡng là 340.000 đồng.
        • - Đối với khoản tiền mất thu nhập của bị hại: thời gian điều trị của bị hại theo Bệnh án là 02 ngày, đến ngày 10/4/2024 thì cắt chỉ tại vết thương ở ngón 3 tay phải. Đến ngày 20/5/2024 khi tiến hành giám định thương tật thì các vết thương này đã hoàn toàn bình phục; tại biên bản ghi lời khai của bị hại ngày 09/01/2025 cũng như tại phiên tòa, bị hại thừa nhận trong quá trình điều trị các vết thương bị hại vẫn đi lại và hoạt động bình thường, nên việc bị hại cho rằng bị hại mất thu nhập từ ngày 26/3 đến 31/12/2024 là không có căn cứ. Do đó, chỉ chấp nhận tiền mất thu nhập của bị hại từ ngày 26/3 đến 26/4/2024 với số tiền 3.000.000 đồng là phù hợp với thời gian chữa trị và thời gian hồi phục của bị hại.
        • - Tiền công của người chăm sóc 54.000.000 đồng: theo ý kiến của bị hại, vợ bị hại chăm sóc từ tháng 3/2024 đến tháng 12/2024 nên mất thu nhập. Xác minh tại nơi vợ bị hại làm việc thì từ tháng 3 đến tháng 12/ 2024, chị Võ Thị T3 không xin nghỉ việc không lương và vẫn nhận lương tại cơ quan nên không mất thu nhập thực tế. Tuy nhiên, trong hai ngày bị hại điều trị tại thành phố H cần có người chăm sóc nên chỉ chấp nhận tiền công người chăm sóc 02 ngày; thu nhập hàng tháng của chị T3 là 20.004.894 đồng, nên chấp nhận tiền công chăm sóc của chị T3 là 1.538.838.
        • - Đối với khoản tiền tổn thất tinh thần, thương tích của anh Nguyễn Đức H chỉ là 4%, thương tích này hiện đã được điều trị ổn định. Các vết thương này không ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên chỉ chấp nhận cho bị hại 03 tháng lương cơ bản với số tiền là 7.020.000 đồng.

        Tổng số tiền mà Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Nguyễn Đức H là 26.779.818 đồng. Trong đó, tiền thuê xe đi lại và tiền cắt chỉ vết thương tại ngón III tay phải tại Trung tâm y tế huyện G với số tiền là 700.000 đồng, anh Phan Thanh N1 có nghĩa vụ bồi thường; đối với số tiền còn lại là 26.079.818 đồng, đây là các khoản thiệt hại không thể phân chia được theo vết thương nên bị cáo Phan Thanh N và anh Phan Thanh N1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường, trong đó phần của anh nhật là 25% tương đương với số tiền là 6.519.954 đồng, phần của bị cáo N là 75% tương đương với số tiền là 19.559.863 đồng.

        Bác yêu cầu của anh Nguyễn Đức H đối với yêu cầu buộc anh Phan Thanh N1 và ông Phan Thanh G liên đới bồi thường tổng số tiền là 140.400.000 đồng; bác một phần yêu cầu của anh Nguyễn Đức H đối với yêu cầu buộc bị cáo Phan Thanh N phải bồi thường với số tiền là 272.894.562 đồng.

  7. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ 02 thanh kim loại màu trắng bạc, đường kính 0,013m, trong đó 01 thanh dài 0,63m, một đầu gắn 03 thanh kim loại được vuốt nhọn, dài 0,19m; 01 thanh dài 1,23m; 01 đèn pin đội đầu, màu đen, kích thước 0,075m x0,08m, bên trên có in dòng chữ “SUNMAX”. Quá trình điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ cần chấp nhận. Đối với gậy sắt, N khai vứt lại tại hiện trường, Công an xã T và Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được nên không xem xét. Đối với chị Nguyễn Thị Quỳnh D giao xe cho N sử dụng nhưng không biết bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không thu giữ xe mô tô và không xem xét xử lý chị D là có căn cứ.

    Cần tiếp tục tạm giữ đối với số tiền 18.000.000 đồng bị cáo Phan Thanh N nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh để đảm bảo cho việc thi hành án.

  8. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm, bị cáo và anh Phan Thanh N1 phải chịu án phí dân sự theo quy định theo quy định pháp luật. Anh Nguyễn Đức H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thanh N phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thanh N 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Phan Thanh N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Phan Thanh N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Về khấu trừ thu nhập: miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phan Thanh N.

  3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 BLHS; các Điều 288, 584, 585, 586, 587 và 590 BLDS:
    • - Buộc anh Phan Thanh N1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Đức H số tiền là 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng.
    • - Buộc bị cáo Phan Thanh N và anh Phan Thanh N1 phải liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Đức H số tiền là là 26.079.818 (hai mươi sáu triệu không trăm bảy mươi chín nghìn tám trăm mười tám) đồng, trong đó phần của anh Phan Thanh N1 là 6.519.954 (sáu triệu năm trăm mười chín nghìn chín trăm năm mươi bốn) đồng, phần của bị cáo N là 19.559.863 (mười chín triệu năm trăm năm mươi chín nghìn tám trăm sáu ba) đồng.
    • - Bác yêu cầu của anh Nguyễn Đức H đối với yêu cầu buộc anh Phan Thanh N1 và ông Phan Thanh G liên đới bồi thường tổng số tiền là 140.400.000 (một trăm bốn mươi triệu bốn trăm nghìn) đồng.
    • - Bác một phần yêu cầu của anh Nguyễn Đức H đối với yêu cầu buộc bị cáo Phan Thanh N phải bồi thường với số tiền là 272.894.562 (hai trăm bảy mươi hai triệu tám trăm chín mươi tư nghìn năm trăm sáu hai) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Tiếp tục tạm giữ số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án, số tiền trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/2023 số 0000037 ngày 20/8/2024.
  5. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” buộc:
    • - Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 978.000 (chín trăm bảy mươi tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Anh Phan Thanh N1 phải chịu 361.000 (ba trăm sáu mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Gio Linh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Công an huyện Gio Linh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Gio Linh;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Gio Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Gio Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nhan Ngọc Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 03/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh N "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger