|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày: 14-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI -TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Đình Xiềng.
- Bà Nguyễn Thị Mý.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS, ngày 18/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS, ngày 31/12/2024 đối với các bị cáo:
1. Puih Thin, tên gọi khác: Không, sinh năm 2003 tại tỉnh Gia Lai;
Căn cước công dân: [...]
Nơi cư trú: Làng K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp. Trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rơ Châm L (đã chết) và bà Puih H, sinh năm 1959; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền sự: Không;
Tiền án: 01 tiền án. Ngày 20/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 11/2023/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của Bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Rơ Châm V, tên gọi khác: Không, sinh năm 2003 tại huyện C - tỉnh Gia Lai;
Căn cước công dân: [...]
Nơi cư trú: Làng K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp. Trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rơ Châm V1, sinh năm 1983 và bà Rơ Châm T, sinh năm 1980; gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 18/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 04/2022/HS-ST. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ tuổi vị thành niên nên được coi là chưa có tiền án.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
+ Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1971; địa chỉ: Làng M, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
+ Bà Trần Thị Ngọc A, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
+ Bà Phan Thị H1, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn E, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
+ Ông Bùi Duy L1, sinh năm 1973; địa chỉ: Làng J, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị X, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người làm chứng: Cháu Rơ Mah R, sinh ngày 11/9/2009; địa chỉ: Làng K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai
- Người đại diện hợp pháp của người làm chứng anh Rơ Mah R: Ông Rơ Mah P, sinh năm 1992, địa chỉ: Làng K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai (là cha của anh Rơ Mah R). Vắng mặt
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Puih D; nơi công tác: Công an huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 12/6/2024 đến ngày 22/7/2024, Puih T1 cùng với Rơ Châm V đã có hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện I, tỉnh Gia Lai cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/6/2024 Puih T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, BKS: 81B1-585.77 của T1 đi đến khu vực làng M, xã I, huyện I tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà anh Nguyễn Thành Đ thấy không có người trông coi nên T1 cất xe mô tô ở gần đấy rồi đi bộ vào. Thin lấy khúc cây cà phê ở gần đấy cạy nhẹ cửa ra rồi T1 vào trong nhà để trộm cắp tài sản. Khi này T1 phát hiện và lấy trộm được 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K, Ram3/32GB, màu xanh để ở chiếu ngồi tại phòng khách, tiếp đó T1 đi vào phòng ngủ và lục lọi trong tủ đựng quần áo lấy được số tiền 2.500.000 đồng và bỏ đi. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì T1 đi về quán Internet tại thôn C, xã I, huyện I thì gặp V đang chơi ở đấy. Tại đây T1 nhờ V bán giùm điện thoại của T1 nên V đồng ý. Sau đó V bán điện thoại cho Rơ Mah T2 được số tiền 650.000 đồng rồi T1 cho lại V số tiền 50.000 đồng.
Vụ thứ 2: Vào khoảng 03 giờ 00 ngày 20/6/2024 Puih T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, BKS: 81B1-585.77 chở Rơ Châm V đến khu vực thôn C, xã I, huyện I tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi tới nhà chị Trần Thị Ngọc A thì cất xe mô tô gần đấy. Sau đó cả hai đi bộ đến phía sau nhà chị Ngọc A rồi đột nhập vào bên trong nhà lục lọi tìm tài sản. Tại đây T1 đứng ở phòng bếp, còn V đi vào phòng ngủ ở trong nhà để tìm tài sản. Khi đó V lục tại phòng ngủ không có cửa phòng trong tủ quần áo và lấy được số tiền 38.000.000 đồng trong ba lô. Sau đó cả hai bỏ đi về, V chia cho T1 số tiền 300.000 đồng. Đến ngày hôm sau V nói với T1 là trộm cắp được số tiền là 38.000.000 đồng, V tiếp tục chia cho T1 số tiền là 4.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 11/7/2024 Puih T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, BKS: 81B1-585.77 chở Rơ Châm V đến tại khu vực thôn E, xã I, huyện I tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến quán tạp hóa cô B của chị Phan Thị H1 thì để xe mô tô gần đấy và cả hai đi bộ vào phía sau quán tạp hóa. Tại đây T1 đứng ở ngoài cửa và bỏ đi ra phía gần trước quán tạp hóa để cảnh giới, còn V lấy được một con dao dài khoảng 40cm ở gần đấy và cạy cửa sau (cửa không khóa) đi vào trong nhà. Ving lấy được số tiền 15.000.000 đồng để ở trong ví trên bàn tại phòng bếp tại nhà ở và vứt chiếc ví tại đây. Sau đó V tiếp tục trèo qua quán tạp hóa bên cạnh lục tìm tại hộc bàn ở gần cửa chính lấy được số tiền 38.000 đồng. Một lúc sau V đi ra ngoài rồi cùng T1 bỏ đi. Ving chia cho T1 số tiền 100.000 đồng. V nói với T1 trộm được số tiền 15.000.000 đồng. Đến ngày hôm sau V tiếp tục chia cho T1 số tiền 7.000.000 đồng.
Vụ thứ tư: Vào đêm ngày 17/7/2024 T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, BKS: 81B1-585.77 đến khu vực làng J, thuộc xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến quán tạp hóa của anh Bùi Duy L1 thì để xe mô tô ở gần đấy. Sau đó T1 đi từ phía sau nhà đột nhập qua cửa sổ (không khóa) của quán để tìm tài sản. Tại đây T1 lục tìm ở hộc bàn ở gần cửa chính lấy được số tiền 6.000.000 đồng và bỏ đi.
Vụ thứ năm: Vào khoảng 0 giờ 05 phút ngày 22/7/2024 V cùng T1 và Rơ Mah R điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, BKS: 81B1-585.77 đến thôn B, xã I, huyện I tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến nhà bà Võ Thị X thì R đứng ở ngoài để cảnh giới, còn T1 và V trèo tường vào bên trong nhà. Lúc này T1, V vào phòng ngủ thì T1 lấy trộm được số tiền 4.000.000 đồng bên trong túi quần treo trong phòng ngủ. Sau đó cả hai bỏ đi ra ngoài tới chỗ R rồi cùng nhau đi về. Số tiền trộm cắp được T1 đưa hết cho V thì V chia cho T1 số tiền 1.500.000 đồng, số tiền còn lại Ving giữ.
Ngày 25/7/2024 Puih T1 ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp các vật chứng có liên quan gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, biển kiểm soát 81B1- 585.77, số máy: 55P1485668, số khung: RLCE55P10EY485657, không có yếm xe hai bên; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme UI; 01 (một) túi có dây đeo, ngang 15cm, cao 32cm, sâu 05cm, màu đen, bằng vải, có dây đeo bằng vải, màu đen, trên dây đeo có nhiều chữ màu trắng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐG ngày 06/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện I kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K, Ram3/32GB, màu xanh, đã qua sử dụng có giá trị bị thiệt hại vào ngày 12/6/2024 là 1.666.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện I kết luận:
- + 01 (một) nhẫn tròn, trơn, vàng loại 9999 loại 0,5 chỉ đã qua sử dụng có giá trị bị thiệt hại vào ngày 11/7/2024 là 3.873.000 đồng;
- + 01 (một) vòng cổ, dạng dẹt, vàng loại 610 loại 0,5 chỉ đã qua sử dụng có giá trị bị thiệt hại vào ngày 11/7/2024 là 2.568.000 đồng;
- + 01 (một) đôi bông tai, vàng trắng, dạng hình vuông, loại 10k loại 0,4 chỉ đã qua sử dụng có giá trị bị thiệt hại vào ngày 11/7/2024 là 2.292.000 đồng;
- + 01 (một) nhẫn tròn, trơn, vàng loại 610 loại 0,5 chỉ đã qua sử dụng có giá trị bị thiệt hại vào ngày 11/7/2024 là 2.568.000 đồng;
- + 01 (một) nhẫn tròn, trơn, vàng loại 610 loại 1 chỉ 3 phân 5 đã qua sử dụng có giá trị bị thiệt hại vào ngày 11/7/2024 là 6.684.000 đồng;
- + 01 (một) đôi bông tai, dạng túi tiền, vàng loại 610 loại 0,5 chỉ đã qua sử dụng có giá trị bị thiệt hại vào ngày 11/7/2024 là 2.568.000 đồng;
Tổng giá trị 20.553.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKS, ngày 18 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Puih T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và Rơ Châm V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Puih T1 từ 04 năm đến đến 04 năm 06 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Rơ Châm V từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về dân sự:
Buộc Puih Thin phải bồi thường cho bị hại anh Bùi Duy L1 số tiền 6.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phải liên đới bồi thường cho bị hại bà Trần Thị Ngọc A số tiền 38.000.000 đồng. Trong đó, bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 33.700.000 đồng; bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 4.300.000 đồng.
Buộc bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phải liên đới bồi thường cho bị hại Phan Thị H1 số tiền 15.038.000 đồng. Trong đó, bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 7.938.000 đồng; bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 7.100.000 đồng.
Buộc bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Minh C số tiền 4.000.000 đồng. Trong đó, bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 2.500.000 đồng; bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 1.500.000 đồng.
Buộc bị cáo Puih T1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính do trộm cắp mà có là 2.500.000 đồng và 1.666.000 đồng là số tiền theo kết luận định giá do bị cáo T1 trộm điện thoại di động của bị hại Nguyễn Thành Đ.
Buộc bị cáo Rơ Châm V phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 50.000 đồng.
Như vậy: Bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 18.900.000 đồng và 4.166.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 44.100.000 đồng và 50.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước. Hiện Puih T1 và Rơ Châm V chưa bồi thường.
Đối với yêu cầu của bà Võ Thị Xuân B1 các bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng và yêu cầu của bà Phan Thị H1 buộc các bị cáo bồi thường thiệt hại số vàng theo kết quả định giá là không có căn cứ chứng minh các bị cáo T1 và V lấy trộm nên không chấp nhận.
Đối với bị hại Nguyễn Thành Đ không yêu cầu Puih Thin bồi thường thiệt hại nhưng cũng cần buộc các bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, sung quỹ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, biển kiểm soát 81B1- 585.77, số máy: 55P1485668, số khung: RLCE55P10EY485657, không có yếm xe hai bên.
Trả lại: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme UI, Model RMX3710, dung lượng 6GB, số IMEI 1 866865066442137/28, số EMEI 2 866865066442129/28, đã qua sử dụng cho bị cáo Puih T1.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) túi có dây đeo, ngang 15cm, cao 32cm, sâu 05cm, màu đen, bằng vải, có dây đeo bằng vải, màu đen, trên dây đeo có nhiều chữ màu trắng.
Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo Puih T1 thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo Rơ Châm V cho rằng bị cáo Puih T1 không thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo cho rằng bị cáo không cùng trộm cắp cùng T1, lời khai tại Cơ quan điều tra do bị đánh nên bị cáo mới nhận tội, tại phiên tòa bị cáo không nhận tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện I, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét tại phiên tòa, mặc dù bị cáo Rơ Châm V quanh co chối tội nhưng với lời khai của bị cáo Puih T1, bị hại tại phiên tòa. Lời khai người làm chứng; Biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản nhận dạng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 12/6/2024 đến ngày 22/7/2024, Puih T1 và Rơ Châm V đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện I, tỉnh Gia Lai. Theo đó Rơ Châm V và Puih T1 cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản tại xã I, xã I và chiếm đoạt số tiền 57.038.000 đồng. Puih Thin một mình thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại xã I, I và chiếm đoạt số tiền 10.166.000 đồng. Như vậy, bị cáo Puih T1 đã tham gia thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện I, mỗi lần đều cấu thành tội phạm và chiếm đoạt tổng số tiền là 67.204.000 đồng, đồng thời Puih Thin không có nghề nghiệp và lấy việc đi trộm cắp tài sản làm nguồn thu nhập chính nên hành vi của Puih T1 đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Rơ Châm V đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản được qui định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Đồng thời làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức được hành vi của mình.
[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau để thực hiện tội phạm. Trong vụ án này, Puih T1 có vai trò chính, là trực tiếp thực hiện 05 vụ trộm cắp trong đó có 03 vụ cùng bị cáo Rơ Châm V; bị cáo Rơ Châm V tham gia với vai trò đồng phạm trong 03 vụ và là người trực tiếp vào trộm cắp nên các bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân:
Các bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V đều có nhân thân xấu:
Bị cáo Puih T1, Ngày 20/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 11/2023/HS-ST.
Bị cáo Rơ Châm V, Ngày 18/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 04/2022/HS-ST. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ tuổi vị thành niên nên được coi là chưa có tiền án.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Puih T1 có 01 tiền án chưa được xóa án tích về phạm tội Trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều phạm tội nhiều lần nên phải áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Puih T1 đã tự nguyện ra đầu thú; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Rơ Châm V không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt: Các bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp, đảm bảo đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Đối với Rơ Mah R: Quá trình điều tra xác định vào ngày 22/7/2024 Rơ Châm V rủ Puih T1 và Rơ Mah R đi trộm cắp tài sản thì cả hai đồng ý. Sau đó cả ba đi đến khu vực nhà bà Võ Thị X thì R đứng ở ngoài để cảnh giới, còn T1 và V trèo tường vào bên trong nhà để trộm cắp tài sản là số tiền 4.000.000 đồng. Hành vi của Rơ Mah R có dấu hiệu phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên tại thời điểm phạm tội thì Rơ Mah R chưa đủ 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển xử phạt hành chính là có căn cứ.
[8] Đối với Rơ Mah T2 là người đã mua lại điện thoại di động mà Puih T1 đã trộm của anh Nguyễn Thành Đ, tuy nhiên khi Puih T1 nhờ Rơ Châm V đi bán điện thoại dùm thì T1 không nói là do trộm mà có, T2 không biết điện thoại mình mua lại là tài sản trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Rơ Mah T2 là có căn cứ.
[9] Quá trình điều tra người bị hại Võ Thị X trình báo tài sản bị trộm cắp là số tiền 15.000.000 đồng gồm số tiền 4.000.000 đồng để trong túi quần treo ở móc tường của chồng bà là ông Nguyễn Minh C và số tiền 11.000.000 đồng của bà X để ở đầu giường ngủ. Bên cạnh lời khai của bị hại thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I đã tiến hành các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ nhằm xác định chính xác số tiền mà bị hại đã bị mất trộm nhưng không có tài liệu chứng cứ nào khác và chỉ xác định được số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại trong vụ án là 4.000.000 đồng là có căn cứ.
[10] Quá trình điều tra người bị hại Phan Thị H1 trình báo tài sản bị trộm cắp gồm: 01 (một) nhẫn tròn vàng y loại 0,5 chỉ; 01 (một) vòng cổ vàng tây; 01 (một) đôi bông tai vàng trắng; 02 (hai) nhẫn tròn vàng tây; 01 (một) bông tai vàng tây với giá trị định giá tổng cộng là 20.553.000 đồng và số tiền 15.000.000 đồng. Bên cạnh lời khai của bị hại thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I đã tiến hành các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ nhằm xác định chính xác số tiền mà bị hại đã bị mất trộm nhưng không có tài liệu chứng cứ nào khác và chỉ xác định được tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại trong vụ án là 15.038.000 đồng là có căn cứ.
[11] Về dân sự: Ông Nguyễn Minh C yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 4.000.000 đồng, bà Võ Thị X yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng, bà Phan Thị H1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 15.038.000 đồng và thiệt hại số vàng theo kết quả định giá, bà Trần Thị Ngọc A yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 38.000.000 đồng, anh Bùi Duy L1 yêu cầu bị cáo Puih T1 bồi thường số tiền 6.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận với yêu cầu của bà Võ Thị Xuân B1 các bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng và yêu cầu của bà Phan Thị H1 buộc các bị cáo bồi thường thiệt hại số vàng theo kết quả định giá, Hội đồng xét xử chấp nhận như sau:
Buộc Puih Thin phải bồi thường cho bị hại anh Bùi Duy L1 số tiền 6.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phải liên đới bồi thường cho bị hại bà Trần Thị Ngọc A số tiền 38.000.000 đồng. Trong đó, bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 33.700.000 đồng; bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 4.300.000 đồng.
Buộc bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phải liên đới bồi thường cho bị hại Phan Thị H1 số tiền 15.038.000 đồng. Trong đó, bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 7.938.000 đồng; bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 7.100.000 đồng.
Buộc bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Minh C số tiền 4.000.000 đồng. Trong đó, bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 2.500.000 đồng; bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 1.500.000 đồng.
Buộc bị cáo Puih T1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính do trộm cắp mà có là 2.500.000 đồng và 1.666.000 đồng là số tiền theo kết luận định giá do bị cáo T1 trộm điện thoại di động của bị hại Nguyễn Thành Đ.
Buộc bị cáo Rơ Châm V phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 50.000 đồng.
Tổng cộng:
Bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 18.900.000 đồng và nộp lai số tiền 4.166.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 44.100.000 đồng và 50.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
[12] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, biển kiểm soát 81B1- 585.77, số máy: 55P1485668, số khung: RLCE55P10EY485657, không có yếm xe hai bên là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, sung quỹ;
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên,
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Puih T1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Rơ Châm V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/9/2024.
3. Về phần dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật Dân sự:
- Buộc Puih Thin phải bồi thường cho bị hại anh Bùi Duy L1 số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
- Buộc bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phải liên đới bồi thường cho bị hại bà Trần Thị Ngọc A số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng). Trong đó, bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 33.700.000 đồng; bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 4.300.000 đồng.
- Buộc bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phải liên đới bồi thường cho bị hại bà Phan Thị H1 số tiền 15.038.000 đồng (Mười lăm triệu, không trăm ba mươi tám nghìn đồng). Trong đó, bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 7.938.000 đồng; bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 7.100.000 đồng.
- Buộc bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Minh C số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Trong đó, bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 2.500.000 đồng; bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 1.500.000 đồng.
- Buộc bị cáo Puih T1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính do trộm cắp mà có là 2.500.000 đồng và 1.666.000 đồng. Tổng cộng 4.166.000 đồng (Bốn triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
- Buộc bị cáo Rơ Châm V phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).
Tổng cộng:
Bị cáo Puih T1 phải bồi thường số tiền 18.900.000 đồng (Mười tám triệu, chín trăm nghìn đồng) và 4.166.000 đồng (Bốn triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo Rơ Châm V phải bồi thường số tiền 44.138.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu, một trăm ba mươi tám nghìn đồng) và 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tịch thu, sung quỹ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, biển kiểm soát 81B1- 585.77, số máy: 55P1485668, số khung: RLCE55P10EY485657, xe đã qua sử dụng, không có yếm xe hai bên;
- Trả lại cho bị cáo Puih T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme UI, Model RMX3710, dung lượng 6GB, số IMEI 1 866865066442137/28, số EMEI 2 866865066442129/28, đã qua sử dụng.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) túi có dây đeo, ngang 15cm, cao 32cm, sâu 05cm, màu đen, bằng vải, có dây đeo bằng vải, màu đen, trên dây đeo có nhiều chữ màu trắng.
(Vật chứng nói trên có đặc điểm như nội dung biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I, tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai);
5. Về án phí:
Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án,
- Buộc các bị cáo Puih T1 và Rơ Châm V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Puih T1 phải chịu số tiền 945.000 đồng (Chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm
- Buộc bị cáo Rơ Châm V phải chịu số tiền 2.206.900 đồng (Hai triệu, hai trăm lẻ sáu nghìn, chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm
6. Thời hạn kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/02/2025) bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Quang Hà |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Hà |
Bản án số 03/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI - TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm: trộm cắp tài sản
- Số bản án: 03/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TP. Hà
