Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27/5/2025

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đoàn Hồng Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Bé và bà Hoàng Thị Minh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn tham gia phiên tòa: bà Mạc Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 06/2025/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX-ST ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị L, sinh năm 1989

    Địa chỉ: khu B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

  2. Bị đơn: anh Đỗ Minh T, sinh năm 1992;

    Nơi thường trú: khu B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 3, Trại giam N – địa chỉ: xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày: chị và anh Đỗ Minh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 nhưng đến ngày 30/8/2011 chị và anh T mới đến Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống, chị và anh T chung sống bình thường, không có mâu thuẫn gì. Nhưng càng chung sống, thì anh T ngày càng chơi bời, không quan tâm đến gia đình, vợ con, đã đi vào con đường tệ nạn nghiện ma túy và nhiều lần chửi bới, đe dọa, đánh đập chị. Do không chịu đựng được, nên từ năm 2017 đến năm 2021 chị và anh T sống ly thân. Năm 2021, chị L quay về sống cùng anh T, nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì anh T bị bắt về tội ma túy và đã bị Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn xử phạt 05 năm 03 tháng tù, hiện nay đang chấp hành án phạt tù tại trại giam N. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Minh T, vì chị không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa, không còn tình cảm với anh T.

Về con chung: chị và anh Đỗ Minh T có 02 con chung là Đỗ Xuân B, sinh ngày 14/4/2009 và Đỗ Thu U, sinh ngày 14/9/2013. Do hiện nay anh T đang chấp hành án phạt tù không có điều kiện nuôi con, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cả hai con chung Đỗ Xuân B, Đỗ Thu U cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi). Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho các con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị và anh Đỗ Minh T không có tài sản chung, không có nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đỗ Minh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có văn bản trình bày ý kiến quan điểm như sau: anh (T) và chị L kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc, lừa dối và có đăng ký kết hôn ngày 30/8/2011 tại UBND thị trấn C. Sau khi kết hôn, anh và chị L sống cùng bố mẹ đẻ của anh tại khu B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẩn do anh chơi bời đi vào con đường tệ nạn không quan tâm đến gia đình vợ, con. Từ năm 2017 cho đến năm 2021 anh và chị L sống ly thân. Đến năm 2021 chị L có quay về chung sống cùng anh, nhưng đến tháng 7/2022 thì anh bị bắt và sau đó bị Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn xử phạt 05 năm 3 tháng tù. Hiện nay anh đang chấp hành án phạt tù tại phân trại số 3 trại giam N. Anh xác định anh và chị L không thể tiếp tục chung sống cùng nhau, do anh, chị không còn tình cảm. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị L được ly hôn.

Về con chung: anh và chị L có 02 con chung là Đỗ Xuân B, sinh ngày 14/4/2009 và Đỗ Thu U, sinh ngày 14/9/2013, anh đồng ý để chị L được quyền trực tiếp nuôi cả hai con chung, anh không thắc mắc gì. Hiện nay anh đang chấp hành án phạt tù, nên không thể cấp dưỡng cho các con được.

Về tài sản chung, nợ chung: anh và chị L không tài sản chung, không có công nợ chung. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân của anh T, chị L theo biên bản xác minh ngày 20/3/2025, ông Phạm Ngọc C, khu trưởng khu2, thị trấn C cho biết như sau: chị L và anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện V năm 2011. Sau khi kết hôn, chị L và anh T chúng sống với nhau ở khu B, thị trấn C, huyện V. Quá trình vợ, chồng chung sống tại khu phố có xảy ra mâu thuẫn, thường xảy ra cãi chửi nhau. Năm 2022, anh T bị bắt và bị Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn xử phạt về tội ma túy, hiện anh T vẫn đang chấp hành án phạt tù. Chị L và anh T có 02 con chung là Đỗ Xuân B, Đỗ Thu U, hiện nay các cháu đang ở cùng với chị L và ông, bà nội. Các cháu được chăm sóc, sinh hoạt và học tập đầy đủ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 20/3/2025 Tòa án đã tiến hành hỏi về nguyện vọng, mong muốn của các con chung của chị L và anh T: nguyện vọng của các cháu Đỗ Xuân B, Đỗ Thu U mong muốn là được ở với cả bố và mẹ, nhưng nếu bố, mẹ ly hôn thì các cháu muốn ở cùng với mẹ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa và lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa. Những yêu cầu của nguyên đơn chị L về việc ly hôn, nuôi con chung là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hoàng Thị L yêu cầu xin ly hôn bị đơn anh Đỗ Minh T là người có nơi cư trú tại khu B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Do vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đỗ Minh T có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị L và anh Đỗ Minh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009. Ngày 30/8/2011, chị L và anh T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh (số 51/2011, Quyền số 13). Việc kết hôn giữa anh T và chị L là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối ép buộc. Như vậy hôn nhân giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Quá trình chung sống hai vợ, chồng anh T, chị L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau, nguyên nhân là do anh T chơi bời đi vào con đường tệ nạn không quan tâm đến gia đình vợ, con. Từ năm 2017, chị L và anh T đã ly thân cho đến năm 2021 chị L có quay về và chung sống cùng anh T. Nhưng đến tháng 7/2022 thì anh T bị bắt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và sau đó bị xử phạt 05 năm 03 tháng tù, hiện đang chấp hành án phạt tù tại trại giam N. Từ khi anh T chấp hành hình phạt tù vợ, chồng anh chị không liên lạc, quan tâm đến nhau. Đến nay cả chị L và anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã trầm trọng, kéo dài nhiều năm, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L và anh T đều nhất trí ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị L.

[3] Về con chung: chị Hoàng Thị L và anh Đỗ Minh T có 02 con chung là Đỗ Xuân B, sinh ngày 14/4/2009 và Đỗ Thu U, sinh ngày 14/9/2013. Chị L đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Đỗ Xuân B và Đỗ Thu U và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con. Anh Đỗ Minh T đồng ý quan điểm của chị L. Xét thấy, hiện các cháu Đỗ Xuân B và Đỗ Thu U đang ở cùng với mẹ và ông, bà nội, các cháu B, U đều có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Hiện nay các cháu đang sinh hoạt và học tập ổn định, anh T đang chấp hành án nên không có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc các con. Vì vậy, cần giao các con Đỗ Xuân B và Đỗ Thu U cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi), anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung và vay nợ chung: chị L và anh T đều không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: chị L và anh T có quyền kháng cáo bản án theo qui định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị L.

  • - Về hôn nhân: chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Đỗ Minh T.
  • - Về con chung: giao hai con: Đỗ Xuân B, sinh ngày 14/4/2009 và Đỗ Thu U, sinh ngày 14/9/2013 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đỗ Minh T không phải cấp dưỡng cho các con chung
  • Anh Đỗ Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  • Chị Hoàng Thị L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Đỗ Minh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
  • - Về án phí: chị Hoàng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004193 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Chị Hoàng Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: nguyên đơn chị Hoàng Thị L có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Đỗ Minh T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Vân Đồn;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vân Đồn;
  • - UBND TT Cái Rồng, h. Vân Đồn;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Hồng Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chọ L xin ly hôn anh T vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger