Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11-03-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Dương
  2. Bà Nguyễn Thị Hoan

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Huế – Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị T, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: Thôn Y, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: Xóm B Q, xã Y, huyện Y tỉnh Ninh Bình (có mặt);
  2. Bị đơn: Anh Phạm Trọng T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Y, xã Y, thành phố T tỉnh Ninh Bình (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Mai Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Phạm Trọng T1 được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng kết hôn tại UBND xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình vào ngày 25/10/2016. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm, ngoài ra anh T1 hay uống rượu, không chịu khó lao động, có đi làm nhưng không đưa tiền cho chị T chi tiêu trong gia đình, tự ý mua sắm các đồ đạc trong gia đình nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung nên chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xóm B Q, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình sinh sống. Tháng 11/2022 chị T đã nộp đơn xin ly hôn anh T1 nhưng sau đó lại rút đơn về để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ. Tuy nhiên, từ khi chị T rút đơn về đến nay, tình trạng vợ chồng cũng không có gì thay đổi mà còn trầm trọng hơn, chị T không còn muốn gặp và nói chuyện với anh T1 nữa. Chị T, anh T1 sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay, trong thời gian ly thân mỗi người tự lo cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau. Chị T xác định tình cảm với anh T1 không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn đối với anh Phạm Trọng T1.

Về con chung: Chị T và anh Phạm Trọng T1 có 02 con chung là cháu Phạm Mai Hà M, sinh ngày: 19/8/2017 và cháu Phạm Quốc T2, sinh ngày: 15/11/2018. Từ tháng 8/2022 đến nay, cháu M ở cùng với chị T và ông bà ngoại, cháu T2 ở với anh T1. Chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu M còn anh T1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T2.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 đều là công nhân có thu nhập ổn định khoảng 6.000.000đ/tháng nên anh chị đều có đủ điều kiện để nuôi con do đó chị T và anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị T xin chịu trách nhiệm nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Theo bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Trọng T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 nhất trí như lời trình bày của chị Mai Thị T về thời gian tìm hiểu, việc đăng ký kết hôn của hai vợ chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh T1 thường xuyên uống rượu, chỉ đưa cho chị T một số tiền nhỏ nhưng số tiền anh T1 đưa không đủ để chi tiêu cho sinh hoạt gia đình, khi mua sắm đồ đạc trong gia đình anh T1 không bàn bạc với chị T nên vợ chồng xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng lên đến đỉnh điểm vào tháng 8/2022, chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình sinh sống, vợ chồng chính thức sống ly thân từ đó cho đến nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Tháng 11/2022 chị T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, đến tháng 12/2022 chị T rút đơn khởi kiện về. Sau khi chị T rút đơn về thì anh chị cũng không về chung sống với nhau, anh T1 sống ở xã Y, thành phố T còn chị T sống ở xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình cùng bố mẹ chị T. Nay chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1, anh T1 xác định vẫn còn thương yêu chị T nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh T1 nhất trí với lời trình bày của chị Mai Thị T, anh T1 và chị T có 02 con chung là cháu Phạm Mai Hà M, sinh ngày: 19/8/2017 và cháu Phạm Quốc T2, sinh ngày: 15/11/2018. Từ tháng 8/2022 đến nay, cháu M ở cùng với chị T và ông bà ngoại còn cháu T2 ở với anh T1.

Về việc nuôi con: Anh T1 không nhất trí ly hôn nên không có đề nghị về việc nuôi con nhưng nếu Tòa án giải quyết cho anh T1 và chị T ly hôn thì anh T1 đề nghị Tòa án giải quyết cho anh T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2, còn chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T1 và chị T đều là công nhân, có thu nhập ổn định khoảng 6.000.000đ/tháng nên anh T1 và chị T có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con. Do đó, nếu ly hôn anh T1 và chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh T1 không đồng ý ly hôn nên không chịu trách nhiệm nộp án phí.

Tại Biên bản xác minh ngày 15/01/2025, đại diện thôn Y, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình cung cấp: Sau khi kết hôn chị T về chung sống cùng gia đình anh T1, chị T đã bỏ về sống với bố mẹ đẻ khoảng 4 năm nay. Cháu T2 đang sống cùng anh T1 còn cháu M sống với chị T. Trong thời gian cháu T2 ở với anh T1, cháu được anh T1 chăm sóc tốt, ngoài ra cháu T2 còn được bà nội chăm sóc khi anh T1 đi làm.

Tại Biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên: Cháu Phạm Mai Hà M có nguyện vọng muốn ở với mẹ nếu bố mẹ cháu ly hôn vì cháu ở với mẹ quen rồi và mẹ có điều kiện, quan tâm đến cháu và đưa đón cháu đi học.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 15/01/2025, bà Mai Thị T3 là mẹ đẻ của chị T trình bày: Từ tháng 8/2022 đến nay, chị T đưa cháu M về sống với vợ chồng bà tại xóm B Q, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Khi chị T và anh T1 phát sinh mâu thuẫn gia đình hai bên đã tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Gia đình bà có chỗ ở rộng rãi, đủ cho mẹ con chị T sinh hoạt. Vợ chồng bà còn khỏe mạnh nên có thể hỗ trợ chị T trong việc chăm sóc các cháu khi chị T bận công việc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự.

Quan điểm về việc giải quyết nội dung vụ án: áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị T, xử cho ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Phạm Trọng T1.

Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Mai Hà M, sinh ngày: 19/8/2017 cho chị Mai Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Giao cháu cháu Phạm Quốc T2, sinh ngày: 15/11/2018 cho anh Phạm Trọng T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mai Thị T và anh Phạm Trọng T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh T1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Mai Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng. Chị Mai Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp nhận định:

[1] Về thẩm quyền:

Chị Mai Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phạm Trọng T1, anh Phạm Trọng T1 có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị T và anh Phạm Trọng T1 đăng ký kết hôn vào ngày 25/10/2016 tại UBND xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện đến với nhau, không vi phạm điều cấm của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

Cả chị T và anh T1 đều xác định trong cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T1 hay uống rượu, không tập trung kinh tế gia đình cùng chị T, tự ý mua sắm đồ đạc trong gia đình. Hai vợ chồng không sống cùng nhau từ tháng 8/2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Đây là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh T1 không đồng ý ly hôn với chị T nhưng từ sau khi Tòa án đình chỉ vụ án do chị T rút đơn khởi kiện cho đến nay anh T1 không có biện pháp hiệu quả để khắc phục mâu thuẫn nên tình trạng vợ chồng không được cải thiện. Trong quan hệ giữa vợ và chồng, vợ chồng có nghĩa vụ sống cùng nhau, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng từ tháng 8/2022 cho đến nay chị T và anh T1 đã không sống cùng nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc, cảm thông với nhau nên cả hai đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu xin ly hôn anh Phạm Trọng T1 của chị Mai Thị T là có cơ sở cần chấp nhận, xử cho ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Phạm Trọng T1.

Về nuôi con chung: Chị T và anh T1 đều thống nhất, anh chị có 02 con chung là cháu Phạm Mai Hà M, sinh ngày: 19/8/2017 và cháu Phạm Quốc T2, sinh ngày: 15/11/2018. Từ tháng 8/2022 đến nay chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Mai Hà M còn anh T1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Quốc T2. Do đó, để cho các cháu được ổn định tâm lý, yên tâm học tập, hạn chế sự xáo trộn về môi trường sống nên cần giữ nguyên việc chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu như hiện nay là phù hợp với nguyện vọng của chị T, anh T1, cháu Hà M và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con nên chị T, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh T1 đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên chị Mai Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 19; Điều 21; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị T về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phạm Trọng T1.

1. Về quan hệ hôn nhân:

Xử cho ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Phạm Trọng T1.

2. Về nuôi con chung:

Giao cháu Phạm Mai Hà M, sinh ngày: 19/8/2017 cho chị Mai Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.

Giao cháu Phạm Quốc T2, sinh ngày: 15/11/2018 cho anh Phạm Trọng T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mai Thị T và anh Phạm Trọng T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Mai Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000484 ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Chị Mai Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Tam Điệp;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thành phố Tam Điệp;
  • - UBND xã Yên Sơn;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thị Thu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Phạm Trọng T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger