Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05-02-2025

V/v: Tranh chấp “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc San Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trương Thị Đạt;
  2. Bà Hồ Thị Lệ Thu.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Võ Thị Ngọc Châu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05/2/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 758/2024/HNST ngày 10 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A Y, Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số A đường H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cũng như các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng V trình bày:

Bà và chồng là ông Nguyễn Văn L kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn (theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 8, quyển số 01, ký ngày 13 tháng 01 năm 2006 tại Ủy ban Nhân dân Phường Đ, Thành phố T, Tỉnh Thanh Hóa). Trong thời gian sống chung, vợ chồng có những mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, bất đồng trong quan điểm cuộc sống nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng không thể thông cảm và chia sẻ với nhau trong cuộc sống cũng như không thể có tiếng nói chung được nữa. Đến nay, hai vợ chồng đã sống ly thân, vợ Bắc chồng N, và không còn dành tình cảm cho nhau, dẫn tới mục đích hôn nhân không đạt được.

Để cuộc sống đôi bên được nhẹ nhàng và thoải mái hơn, bà khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với chồng là ông Nguyễn Văn L.

- Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 19/12/2009, giới tính: Nam. Bà yêu cầu toà án giải quyết cho ông Nguyễn Văn L là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng là 6.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung trưởng thành.

- Về tài sản chung: hai vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà xác nhận không có.

Bà V cam kết không còn tài liệu, chứng cứ nào để cung cấp cho Tòa án và cam kết chỉ nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 7, không nộp đơn ly hôn tại Tòa án nào khác; việc ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ khác.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn L có lời khai trình bày:

Về hôn nhân: Ông thống nhất về việc giữa ông và bà V qua thời gian tìm hiểu có đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn như nội dung bà V trình bày tại đơn khởi kiện và các bản tự khai nộp cho Tòa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt, không có khả năng đoàn tụ, tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc nên ông đồng ý ly hôn với bà V.

Về con chung: Ông xác định giữa ông và bà V quá trình chung sống có 01 người con chung là Nguyễn Gia B (nam), sinh ngày 19/12/2009. Sau khi ly hôn, ông đồng ý với nội dung bà V yêu cầu, ông sẽ là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ B, ông yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 6.000.000 đồng cho đến khi trẻ trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông chưa xác định được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông cam kết việc ly hôn của ông và bà V không nhằm trốn tránh bất cứ nghĩa vụ pháp lý nào.

Tại phiên tòa hôm nay, bà V, và ông L có đơn xin xét xử vắng mặt. Sau khi chủ toạ công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa;

Sau khi nghe kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu quan điểm; Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. [2] Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân:

    Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 8, quyển số 01, ký ngày 13/01/2006 tại Ủy ban Nhân dân Phường Đ, Thành phố T, Tỉnh Thanh Hóa, Hội đồng xét xử khẳng định: quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Hồng V là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

    Xét thấy, tuy cuộc sống chung giữa ông L và bà V đã có thời gian dài hạnh phúc. Nhưng do sự bất đồng về lối sống, tính cách, từ đó vợ chồng luôn mâu thuẫn, cãi vã làm mất đi sự hòa hợp trong đời sống chung. Cả hai người đã ly thân và đều có mong muốn được ly hôn.

    Xét thấy, hôn nhân giữa ông L và bà V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V theo quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  4. [4] Về con chung: căn cứ theo tài liệu do nguyên đơn cung cấp thì hai người có 01 con chung là Nguyễn Gia B (nam), sinh ngày 19/12/2009. Bà V, ông L cùng có yêu cầu: sau khi ly hôn ông L là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, và bà V phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 6.000.000 (năm triệu) đồng, bắt đầu từ tháng 02/2025 đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo qui định pháp luật. Xét yêu cầu này của bà V, ông L không trái pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của trẻ và hoàn cảnh kinh tế của mỗi người, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  5. [5] Về tài sản chung: bà V, ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
  6. [6] Về nợ chung: bà V xác nhận không có, ông L không xác định được, và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
  7. [7] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  8. [8] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà V là nguyên đơn nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng V, bị đơn ông Nguyễn Văn L.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng V, bà Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
    2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Gia B (nam), sinh ngày 19/12/2009 cho ông Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng

      Bà Nguyễn Thị Hồng V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Cấp dưỡng từ ngày 10 đến ngày 20 dương lịch hàng tháng, bắt đầu cấp dưỡng vào tháng 02/2025 cho đến khi có căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Trường hợp bà Nguyễn Thị Hồng V chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì bà phải chịu thêm số tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015.

      Bà Nguyễn Thị Hồng V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp bà V lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà V. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Nếu có yêu cầu các đương sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

    3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
    4. Về nợ chung, nợ riêng: Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, và 300.000 đồng đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0036918 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7. Bà V phải nộp thêm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TpHCM;
  • - VKSND TPHCM
  • - VKSND Q7;
  • - Chi cục THADS Q7;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc San Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp “ly hôn”

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “ly hôn”
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hon giua HONG V - VAN L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger