|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH Bản án số: 03/2025/HNGĐ - ST Ngày: 20/11/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ và bà Nguyễn Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 07/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 – Vắng mặt;
Căn cước công dân số: [...]
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986 – Vắng mặt;
Căn cước công dân số: [...]
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, tỉnh Bắc Ninh.
(Hiện anh Nguyễn Văn S đang chấp hành án tại Đội 24, K4 Trại giam Q, tỉnh Tuyên Quang).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn trình bày như sau:
Tôi kết hôn với anh Nguyễn Văn S và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 09/11/2012. Trước khi cưới hai bên tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng ra ở riêng. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng sau quá trình chung sống, đó cuộc sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến tình cảm bị rạn nứt. Hiện nay, anh S đang chấp hành án tại Đội 24, k4, Trại tạm giam Q, tỉnh Tuyên Quang. Một mình tôi ở nhà phải trả nợ và nuôi 03 con nhỏ, nên hoàn cảnh rất khó khăn. Đến nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hoà hợp về chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung, là cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 09/8/2013, cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 05/5/2016 và cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 15/9/2022. Khi ly hôn, do tình trạng của anh S không thể nuôi con được nên tôi đề nghị giao cả 03 con chung cho tôi nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, đất ruộng: Vợ chồng tôi tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Bị đơn trình bày: Tôi kết hôn với chị Nguyễn Thị T vào ngày 09/11/2012, đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi cưới, chúng tôi được tự do tìm hiểu, và tự nguyên đăng ký kết hôn, được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn hai vợ chồng ở riêng cùng nhau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó dần xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nay chị T1 có đơn ly hôn thi tôi đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 03 con chung, là cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 09/8/2013, cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 05/5/2016 và cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 15/9/2022. Khi ly hôn, tôi nhất trí để chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 03 con. Tôi không phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung, công nợ, đất ruộng: Vợ chồng không có, không yêu cầu giải quyết.
Nay tôi đang thi hành án phạt tù tại Đội 4, K4 Trại giam Q, tỉnh Tuyên Quang nên đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt tôi.
Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành lấy lời khai của cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 09/8/2013 và cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 05/5/2016, các cháu đều đề nghị được ở với mẹ.
Đại diện VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của BLTTDS năm 2025; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi mở phiên tòa Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71 và 72 BLTTDS năm 2025.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
- Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 09/8/2013, cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 05/5/2016 và cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 15/9/2022 cho chị T nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh S được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở, ngăn cấm. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ, đất ruộng: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn S có địa chỉ tại thôn P, xã P, tỉnh Bắc Ninh nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 BLTTDS năm 2025.
- [2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.
-
[3] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S kết hôn ngày 09/11/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Đây là việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 và được đăng ký đúng thẩm quyền theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, cả chị T và anh S đều thừa nhận rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, việc điều hòa các mâu thuẫn không đạt kết quả. Anh S hiện đang chấp hành án phạt tù, không có điều kiện quan tâm, chăm sóc gia đình; chị T phải một mình chăm lo cho ba con nhỏ và gánh vác kinh tế gia đình. Điều này chứng tỏ đời sống chung vợ chồng đã thực sự không còn tồn tại.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ. Việc anh S đang chấp hành án tại trại giam là tình tiết phản ánh thực tế rằng vợ chồng không thể xây dựng, duy trì cuộc sống chung, không còn điều kiện để khắc phục mâu thuẫn. Chị T một mình nuôi con, tự lo cuộc sống, không còn sự hỗ trợ, chia sẻ từ phía chồng; việc tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân chỉ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người vợ và các con. Xét quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được". Trong vụ án này, dù không có hành vi bạo lực gia đình nhưng việc anh S chấp hành án dẫn đến không thực hiện được các nghĩa vụ cơ bản của người chồng, người cha; đời sống chung giữa hai bên đã chấm dứt trên thực tế; mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, chia sẻ, chăm sóc nhau không đạt được. Hai bên đều thể hiện ý chí tự nguyện chấm dứt quan hệ vợ chồng. Việc thuận tình ly hôn giữa hai bên càng khẳng định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, không có hướng hàn gắn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T là có căn cứ và cần được chấp nhận để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 09/8/2013, cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 05/5/2016 và cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 15/9/2022. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 03 con; anh S đang chấp hành án, không có điều kiện nuôi dưỡng, đồng ý giao con cho chị T. Tòa án đã lấy lời khai cháu Hải N và cháu Minh N1; cả hai cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ. Xét điều kiện thực tế và quyền lợi mọi mặt của các cháu, cần giao 03 con cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng và anh S cũng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản và công nợ, đất ruộng: Các đương sự đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 278 và 280 BLTTDS năm 2025; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
-
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn S
- - Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Nguyễn Hải N, sinh ngày 09/8/2013, cháu Nguyễn Minh N1, sinh ngày 05/5/2016 và cháu Nguyễn Bảo N2, sinh ngày 15/9/2022 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung, đất ruộng: Không yêu cầu, Tòa án không xem xét.
- - Án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai số BLTU/25E/0001174 ngày 06/10/2025 của THA dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Hoài Phương |
Bản án số 03/2025/HNGĐ - ST ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về hôn nhân gia đình
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn đang thụ án trong trại giam
