Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16-6-2025

V/v ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Lê Thị Mai Hương;

Bà Hoàng Thị Yến;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ (nay là Tổ dân phố T), phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Quang T, sinh năm 1958; nơi cư trú: Số nhà G, tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện đề ngày 20-02-2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Đỗ Thị H trình bày:

Bà và ông Lê Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N (nay là phường H), quận Đ, thành phố Hải Phòng ngày 01 tháng 11 năm 2004. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu ông bà hạnh phúc và có với nhau một con chung. Đến đầu năm 2021, bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do những bất đồng về tính cách, quan điểm sống, mặt khác do ông T thường xuyên ghen tuông vô cớ, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, không thể hàn gắn. Mặc dù ông bà đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần, nhưng không có kết quả. Từ đầu năm 2021 đến nay, ông bà sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai, hai bên bỏ mặc nhau ai muốn sống ra sao thì sống. Đến nay bà xác định không còn tình cảm với ông T, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, bà đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho bà được ly hôn ông Lê Quang T.

- Về con chung: Bà và ông Lê Quang T có 01 con chung là Lê Thị N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2007. Từ khi ly thân với ông T, cháu N ở cùng bà nên bà đề nghị Tòa án tuyên cho bà được quyền nuôi con để không làm ảnh hưởng, xáo trộn cuộc sống của con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung bà tự thỏa thuận với ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về các vấn đề khác: Bà Đỗ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/5/2025, bị đơn là ông Lê Quang T trình bày:

Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, ông T biết việc bà H xin ly hôn với ông, tuy nhiên do ông đang bị bệnh, đi lại khó khăn nên không thể đến Tòa án theo giấy triệu tập. Tại biên bản lấy lời khai ngày 20 tháng 5 năm 2025 tại nhà của ông T, ông T trình bày thống nhất với bà H về thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung như bà H trình bày là đúng. Do ông bà có nhiều bất đồng trong quan điểm sống nên hôn nhân không có hạnh phúc. Đỉnh điểm là từ khoảng đầu năm 2021 bà H tự bỏ nhà ra đi, sống ly thân với ông và có quan hệ tình cảm với người khác, hai bên không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Đến nay bà H gửi đơn khởi kiện đến Tòa án xin ly hôn với ông thì ông cũng nhất trí ly hôn vì giữa hai bên không còn tình cảm với nhau, không có cơ hội đoàn tụ. Về con chung ông bà có một con chung là Lê Thị N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2007. Từ khi ly thân với ông, cháu N ở cùng mẹ nên ông cũng đồng ý đề nghị Tòa án tuyên cho bà H được quyền nuôi con chung để đảm bảo việc học hành, nơi ăn chốn ở của con. Việc cấp dưỡng nuôi con chung ông bà tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung ông tự thỏa thuận với bà H, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Mâu thuẫn giữa bà H và ông T là có thật, nguyên nhân là do bất đồng về tính cách và quan điểm sống. Từ đầu năm 2021 cho đến nay, bà H và ông T sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Địa phương cũng đã đến hòa giải nhưng không có kết quả. Về con chung bà H và ông T có 01 con chung là cháu Lê Thị N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2007, từ khi bà H bỏ ra ngoài sống ly thân với ông T đã dẫn cháu N theo. Địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại phiên tòa bà Đỗ Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa ông Lê Quang T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên các ý kiến đã trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 20 tháng 5 năm 2025.

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Nguyên đơn; Bị đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho bà Đỗ Thị H được ly hôn ông Lê Quang T. Về con chung: Do con chung của ông bà là cháu Lê Thị N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2007 đến ngày xét xử sơ thẩm 16-6-2025 đã là người thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung do cháu Lê Thị N đến ngày xét xử sơ thẩm đã thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung hai bên tự thỏa thuận nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nguyên đơn bà Đỗ Thị H phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của các đương sự, kết quả xác minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại số nhà G, tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

- Về nội dung vụ án:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị H và ông Lê Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N (nay là phường H), quận Đ, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[4] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét thấy quá trình chung sống giữa bà H và ông T có phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau, không tin tưởng lẫn nhau. Từ đầu năm 2021 đến nay ông bà sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa hai người là có thật. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai bà H đều khai thống nhất mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức trầm trọng do bất đồng về tính cách, quan điểm sống, không có niềm tin vào nhau. Bà H không còn tình cảm gì với ông T, nếu tiếp tục chung sống thì cuộc sống của vợ chồng không có hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, không có cơ hội đoàn tụ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H là cần thiết, bảo đảm quyền ly hôn của nguyên đơn, giúp cho ông bà sớm ổn định cuộc sống là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về con chung: Bà Đỗ Thị H và ông Lê Quang T có 01 con chung là Lê Thị N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2007. Xét thấy, đến ngày xét xử sơ thẩm 16-6-2025, cháu Lê Thị N đã thành niên đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con do đến ngày xét xử sơ thẩm cháu Lê Thị N đã là người thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung: Nguyên đơn và bị đơn đều khai tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu không tự giải quyết được về tài sản chung, các bên có thể khởi kiện để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[7] Về án phí: Bà Đỗ Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Bà Đỗ Thị H và ông Lê Quang T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đỗ Thị H được ly hôn ông Lê Quang T.
  2. Về con chung: Bà Đỗ Thị H và ông Lê Quang T có 01 con chung là cháu Lê Thị N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2007. Do đến ngày xét xử sơ thẩm 16-6-2025, cháu Lê Thị N đã thành niên đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con do đến ngày xét xử sơ thẩm cháu Lê Thị N đã là người thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Do các bên tự thỏa thuận và không có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
  4. Về các vấn đề khác: Bà Đỗ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Đỗ Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006803, ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Bà Đỗ Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Đồ Sơn;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
  • - UBND phường Hải Sơn, quận Đồ Sơn (GCNKH số 67, quyển số 01/2004 ngày 01/11/2004);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Mai Hương - Hoàng Thị Yến

Nguyễn Thị Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà H và ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger