|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/4/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Long
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Đặng Thị Duyên
- Ông Huỳnh Trọng Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Trịnh Quỳnh Anh – Kiểm sát viên.
Vào ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Phan Thị Minh T – Sinh năm: 1981
- Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- - Bị đơn: Anh Phan Thanh S – Sinh năm: 1979
- Nơi ĐKTT: Thôn T, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai của nguyên đơn chị Phan Thị Minh T như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Thanh S tự nguyện tìm hiểu trong thời gian khoảng 01 năm rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào ngày 06/4/2005. Sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Hiện tại thì anh S rượu chè, xay xỉn rồi đập phá đồ đạc trong nhà, có lần đánh cả chị T, không lo làm ăn. Anh S còn ghen tuông, nói chị ngoại tình dù không có căn cứ. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, chị không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân được nên chị T nộp đơn yêu cầu xin ly hôn với anh S để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Chị và anh S có hai con chung là Phan Thanh S1 – Sinh ngày 22/9/2004 và Phan Thị Ngọc P – Sinh ngày 03/5/2014. Chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung Ngọc P, mức cấp dưỡng chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Thanh Sinh đã trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo lời trình bày của bị đơn anh Phan Thanh S trong hồ sơ vụ án như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phan Thị Minh T tự nguyện tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Sống chung với nhau có xảy ra mâu thuẫn, cải vả. Khi xảy ra mâu thuẫn chị T thường báo cáo công an xã X. Thời gian anh đi làm xa, anh nghe hàng xóm nói lại rằng chị T thường xuyên chơi bời, trai gái chứ không bắt gặp. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên chị T nộp đơn yêu cầu xin ly hôn thì anh không đồng ý.
- Về con chung: Anh và chị T có hai con chung là Phan Thanh S1 – Sinh ngày 22/9/2004 và Phan Thị Ngọc P – Sinh ngày 03/5/2014. Anh S trình bày dù ly hôn hay đoàn tụ thì anh có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung Ngọc P, mức cấp dưỡng anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Thanh Sinh đã trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
- Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Minh T.
- Về con chung: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung là Phan Thị Ngọc P – Sinh ngày 03/5/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung Phan Thanh S1 đã trưởng thành, mức cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị T phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Thị Minh T yêu cầu ly hôn với anh Phan Thanh S, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Anh S đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đối với anh S theo quy định tại Điều 177 BLTTDS nhưng anh S vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh S.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Minh T và anh Phan Thanh S có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào ngày 06/4/2005 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình thụ lý, giải quyết, Tòa án đã xác minh tại địa phương nơi anh Phan Thanh S sinh sống, ông Dương Quý Đ – Công an xã X: Anh Phan Thanh S có đăng ký thường trú tại thôn T, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên nhưng sinh sống cùng vợ con tại thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh S thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh S không có nghề nghiệp ổn định, thường hay rượu chè xay xỉn, có lần anh S ném đồ đạc chị T ra sân nhà, chị T phải báo công an xã X giải quyết. Tòa án đã tạo điều kiện để chị T và anh S hòa giải và đoàn tụ nhưng chị T vẫn có nguyện vọng được ly hôn với anh S, vì cả hai xảy ra mâu thuẫn từ lâu. Anh S cho rằng lỗi thuộc về chị T vì anh S nghe hàng xóm nói rằng chị T chơi bời, trai gái. HĐXX xét thấy đời sống hôn nhân giữa chị T và anh S thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh S ghen tuông, không tin tưởng chị T mặc dù không có chứng cứ nhưng vẫn nói chị T chơi bời, trai gái, ném đồ chị T ra ngoài; tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn nên Hội đồng xét xử thống nhất cho chị T được ly hôn với anh S.
[3]. Về con chung: Chị Phan Thị Minh T và anh Phan Thanh S có hai con chung là Phan Thanh S1 – Sinh ngày 22/9/2004 và Phan Thị Ngọc P – Sinh ngày 03/5/2014. Sau ly hôn, chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung Ngọc P, mức cấp dưỡng nuôi con chung chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Thanh Sinh đã trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngọc P, chị T có thu nhập ổn định, anh S không có nghề nghiệp ổn định, con chung Ngọc P có nguyện vọng ở với mẹ nên giao con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về con chung Thanh Sinh và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh S không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị TâmKiều phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Minh T.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Minh T được ly hôn với anh Phan Thanh S.
[2] Về con chung: Giao con chung là Phan Thị Ngọc P – Sinh ngày 03/5/2014 cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí HNGĐ-ST: Chị Phan Thị Minh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng chẵn) án phí HNGĐ-ST nhưng được trừ vào số tiền chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng chẵn) theo biên lai số 0001510 ngày 13/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
[4] Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Minh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Phan Thanh S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Vĩnh Long |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
