Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13/02/2025

“V/v Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Thành; ông Bùi Bá Sơn.

Thư ký phiên toà: Bà Thạch Thị Hà; Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T; Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử, Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 74/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04/11/2024, về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 17/01/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Bùi Đức H; Sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L; Sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 04 tháng 11 năm 2024, nguyên đơn anh Bùi Đức H trình bày:

- Về hôn nhân: Vợ chồng anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L kết hôn vào ngày 22/6/2017, tại UBND xã T, huyện T (N là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở hai bên tự nguyện, không bên nào bị ép buộc hoặc lừa dối và có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán địa phương. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 7/2020 thì mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và sống ly thân nhau đến nay. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau. Hiện nay anh Bùi Đức H không còn tình cảm với chị Nguyễn Thị L nữa và kiên quyết yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Bùi Thị Khánh L1; Sinh ngày 31/01/2017. Anh Bùi Đức H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Nguyễn Thị L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh Bùi Đức H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị Nguyễn Thị L đến làm việc nhưng chị Nguyễn Thị L đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, đồng thời thông báo thời gian, địa điểm làm việc và xét xử vụ án trên B và Đ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên chị Nguyễn Thị L đều vắng mặt tại các buổi làm việc và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

* Tòa án đã trực tiếp làm việc với bà Nguyễn Thị C (là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị L) tại nhà riêng ở thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh và được bà Nguyễn Thị C: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L phát sinh từ năm 2020, đến năm 2022 thì hai người sống ly thân đến nay; chị Nguyễn Thị L đi làm ăn xa, hơn một năm nay không liên lạc về với mẹ đẻ nên bà Nguyễn Thị C không biết hiện nay chị Nguyễn Thị Lam L2 gì, ở đâu. Trước khi đi làm ăn, chị Nguyễn Thị L có tâm sự với bà Nguyễn Thị C là vợ chồng mâu thuẫn không thể hàn gắn, anh Bùi Đức H tự giải quyết tình cảm và muốn lấy ai thì lấy và đồng ý giao con chung cho anh Bùi Đức H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tài sản bà Nguyễn Thị C không thấy anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L có tài sản chung bằng hiện vật. Quan điểm của bà Nguyễn Thị C là vợ chồng anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L mâu thuẫn và sống ly thân từ lâu, gia đình đã góp ý nhưng vợ chồng không hòa thuận được, do đó đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

* Tại Văn bản ngày 11/11/2024 của UBND xã T, huyện T (N là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh thể hiện: Anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, chị Nguyễn Thị L về bên ngoại sinh sống và làm việc ở xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh một thời gian, sau đó vào miền N làm ăn, hiện nay không rõ địa chỉ. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng xảy ra tại thời điểm năm 2019 khi vợ chồng đi xuất khẩu lao động tại Thái Lan, chị Nguyễn Thị L bỏ về Việt Nam làm ăn và từ đó sống ly thân nhau, bỏ mặc con cho ông bà nội chăm sóc nuôi dưỡng. Về con chung, anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L có một con chung Bùi Thị Khánh L1; Sinh ngày 31/10/2017, hiện đang sống chung với ông bà nội tại thôn B, xã T, huyện T (N là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh.

* Tại Văn bản số 974/UBND-TP, ngày 25/12/2024 của UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh thể hiện: Chị Nguyễn Thị L không có hộ khẩu thường trú tại địa phương, đã lấy chồng và chuyển nơi cư trú về xã T, huyện T (N là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh, hiện nay địa phương không ai biết chị Nguyễn Thị L sinh sống ở đâu và làm gì.

* Tại Văn bản số 103/XN, ngày 16/4/2024 của Công an xã T, huyện T (N là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh thể hiện: Anh Bùi Đức Hải đăng K thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

* Tại Văn bản số 106/XN, ngày 19/4/2024 của Công an xã T, huyện T (N là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh thể hiện: Chị Nguyễn Thị L đăng kí thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

* Tại Văn bản số 25078/QLXNC-P3, ngày 22/10/2024 của Cục Q - Bộ C1 thể hiện: Chị Nguyễn Thị L; Sinh ngày 01/6/1998, có thông tin xuất nhập cảnh nhiều lần, lần gần nhất nhập cảnh ngày 18/7/2020 bằng hộ chiếu số C4704625 qua C2.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến tại phiên toà hôm nay: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, trình tự thủ tục thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ kịp thời các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; có bản tự khai thể thiện đầy đủ ý kiến của mình về các vấn đề liên quan của vụ án. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa không có lý do nên đủ căn cứ xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 96, khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xử:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Đức H về việc ly hôn chị Nguyễn Thị L.

+ Về con chung: Giao con chung Bùi Thị Khánh L1; Sinh ngày 31/10/2017 cho anh Bùi Đức H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Chị Nguyễn Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.

+ Về án phí: Anh Bùi Đức H phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn; bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T (N là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa xét xử lần thứ nhất vào ngày 17/01/2025 và phiên tòa lần thứ 2 vào ngày 13/02/2025 đều vắng mặt không có lý do. Do đó, đủ căn cứ xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L kết hôn với nhau vào ngày 22/6/2017 tại UBND xã T, huyện T (N là thành phố H), tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc, đảm bảo điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của chị anh là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, không tin tưởng nhau và đã sống ly thân từ 2020 đến nay. Anh H kiên quyết yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn chị L để tạo lập cuộc sống mới. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo tổ chức hòa giải để các đương sự hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã T thể hiện mâu thuẫn vợ chồng phát sinh đã lâu và sống ly thân nhau nhiều năm. Hội đồng xét xử thấy rằng điều kiện để xây dựng gia đình hạnh phúc phải xuất phát từ hai phía, nhưng thực tế mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đã lâu và đã sống ly thân nhiều năm, mỗi người đều đã có cuộc sống riêng, việc làm, kinh tế độc lập, cơ hội hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình là không khả thi. Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L thuộc trường hợp hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Đức H về việc xin ly hôn chị Nguyễn Thị L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Bùi Thị Khánh L1; Sinh ngày 31/10/2017. Anh Bùi Đức H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Nguyễn Thị L cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị L không đến làm việc để thể hiện nguyện vọng của mình về việc nuôi con, bên cạnh đó từ khi vợ chồng sống ly nhau, con chung do anh Bùi Đức H chăm sóc, nuôi dưỡng. Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh Bùi Đức H phù hợp với nguyện vọng cháu Bùi Thị Khánh L1 là được ở với bố. Do đó giao con chung Bùi Thị Khánh L1; Sinh ngày 31/10/2017 cho anh Bùi Đức H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Chị Nguyễn Thị L chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện nay anh Bùi Đức H không yêu cầu. Chị Nguyễn Thị L có quyền đi lại chăm sóc, thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.

[2.3]. Về tài sản chung: Anh Bùi Đức H không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn khởi kiện nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

[4]. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 93; Điều 94; Điều 96; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Anh Bùi Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
  2. Về con chung: Giao con chung Bùi Thị Khánh L1; Sinh ngày 31/10/2017 cho anh Bùi Đức H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Chị Nguyễn Thị L chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện nay anh Bùi Đức H không yêu cầu. Chị Nguyễn Thị L có quyền đi lại chăm sóc, thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.
  3. Về án phí: Anh Bùi Đức H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005452, ngày 04/11/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Đức H và chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Thạch Hà;
  • - UBND xã Tượng Sơn, thành phố Hà Tĩnh (để xóa đăng ký)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Lâm

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

HỘI THẨM NHÂN DÂN:

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA:

Bùi Bá Sơn

Trương Văn Thành

Phan Văn Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh H yêu cầu ly hôn chị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger