TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07-3-2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc T
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình P;
- Bà Đỗ Thị Kim N.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ T – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.
Trong các ngày 10 tháng 02 và ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1991;
- Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc T, sinh năm: 1985;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 9 năm 2024 và quá trình tố tụng bà Lê Thị H trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu, bà H và ông Huỳnh Ngọc T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 52 ngày 20/7/2022. Quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, đánh nhau, ông T không quan tâm, chăm sóc vợ con. Vợ chồng đã nỗ lực hàn gắn nhưng không thành, không có quan điểm chung và không còn yêu thương nhau. Bà H và ông T đã không còn chung sống từ tháng 02 năm 2023 đến nay. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng không đạt được, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, dù đã đưa các giải pháp để cải thiện tình trạng hôn nhân nhưng vẫn không đạt được, nên bà H xin được ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà H và ông T có một người con chung là trẻ Huỳnh Lê T1, sinh ngày 24/02/2023, (giới tính: Nam). Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác nhận giữa bà H và ông T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, ông T được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng ông T vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Bà H giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông T, được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Ông T vắng mặt.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của bà H có căn cứ xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn, ông T cư trú tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án. Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; căn cứ lời trình bày của bà H tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H được ly hôn với ông T, giao con chung trẻ T1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng
[1.1] Xét, đơn khởi kiện của bà H có căn cứ xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn. Ông T có địa chỉ cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Xét, ông T đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về nội dung
Xét, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
[2.1.1] Xét, bà H và ông T tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 52 ngày 20/7/2022 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.1.2] Xét, theo khoản 1, Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của bà H ly hôn ông T là có cơ sở để xét.
[2.1.3] Xét, bà H và ông T kết hôn tự nguyện, nhưng quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không tôn trọng nhau, dù đã cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân cùng nuôi dạy con chung nhưng không có khả năng đoàn tụ, từ tháng 02/2023 đến nay vợ chồng đã không còn chung sống. Điều này được xác nhận trong văn bản số 886/UBND ngày 18/11/2024 của Ủy ban nhân dân phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là ông T thực tế cư trú tại số A đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng bà H thì không cư trú nên yêu cầu xin ly hôn của bà H để ổn định cuộc sống, do mục đích hôn nhân không đạt được là phù hợp với cuộc sống hôn nhân thực tế.
[2.1.4] Xét, theo yêu cầu khởi kiện của bà H, ông T đã được nhiều lần triệu tập đến toà để lấy lời khai về cuộc sống hôn nhân giữa bà H và ông T, về con chung, tài sản và nợ chung; ý kiến của ông T về yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng ông T vắng mặt không đến tòa, cũng không có văn bản trả lời cho Tòa án biết dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định. Việc ông T vắng mặt không đến Toà án là tự từ bỏ quyền được chứng minh nên phải tự gánh chịu hậu quả bất lợi khi giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà H. Do đó, Tòa án chỉ giải quyết vụ án theo những chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án là phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.1.5] Xét, từ những phân trích nêu trên, xét mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, vợ chồng đã không còn chung sống, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc kéo dài tình trạng hôn nhân này sẽ đau khổ cho bà H, ông T. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H với ông T và quan hệ hôn nhân của bà H, ông T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp theo quy định tại Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung:
[2.2.1] Xét, bà H thừa nhận bà và ông T có một người con chung trẻ Huỳnh Lê T1, sinh ngày 24/02/2023; trẻ T1 được bà H trực tiếp nuôi dưỡng từ khi sinh ra cho đến nay, đây là tình tiết có thật thuộc trường hợp không cần chứng minh quy định tại điểm a khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.2.2] Xét, như phân tích tại mục [2.1] do yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H được chấp nhận nên yêu cầu tranh chấp con chung của bà H được xem xét.
[2.2.3] Xét, khoản 1, khoản 2 Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con:
“1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội;
2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.
Theo khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con:
“1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.
Và khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định năm 2014 việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì:
“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.
[2.2.4] Xét, đối chiếu quy định trên thì cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, thỏa thuận người trực tiếp nuôi con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định. Tuy nhiên, ông T vắng mặt khi giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến của ông T về con chung, trong khi bà H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ T1, có công việc ổn định, đảm bảo được cuộc sống vật chất, tinh thần. Do đó, để ổn định cuộc sống, tâm lý của trẻ, cần tiếp tục giao trẻ T1 cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục chung là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà H được chấp nhận.
[2.2.5] Xét, theo khoản 1 Điều 71, khoản 2 Điều 82, Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cha mẹ không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng do cha mẹ thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Tuy nhiên, bà H tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác nhận vợ chồng không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp ly hôn là 300.000 đồng.
[4] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, điểm a khoản 1 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, khoản 1, khoản 2 Điều 69, khoản 1 Điều 71, khoản 3 Điều 81, khoản 2, 3 Điều 82, Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.
- Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị H ly hôn với ông Huỳnh Ngọc T (Giấy chứng nhận kết hôn số: 52 ngày 20/7/2022 đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý).
- Về con chung: Giao con chung trẻ Huỳnh Lê T1, sinh ngày 24/02/2023, (giới tính: Nam) cho bà Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Lê Thị H không yêu cầu ông Huỳnh Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung trẻ Huỳnh Lê Thiện .
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị H và ông Huỳnh Ngọc T không có, không yêu cầu.
- Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0043903 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Lê Thị H đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Ngọc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi mọi mặt của con, Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc T |
Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H - Huỳnh Ngọc T về việc Tranh chấp ly hôn
