Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - LÂM ĐỒNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 02 - 7 - 2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Xuân Vi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Thôi

Ông Lê Minh Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2025/TLST-HNGĐ ngày 02/4/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 374/2025/QÐST-HNGĐ 16/6/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố C, phường P1, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc H1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu phố C, phường P1, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng)

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/3/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Quốc H1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P1, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 11/01/2011.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cùng nhau làm ăn chăm lo cho gia đình, nhưng về sau vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, khiến cho đời sống gia đình nặng nề và không còn hạnh phúc. Bà và ông H1 đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm, thăm hỏi gì nhau.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên bà đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Quốc H1.

- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Minh H2 (nam), sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Quốc V (nam), sinh ngày 01/01/2017. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Minh H2 (nam), sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Quốc V (nam) sau khi ly hôn, không yêu cầu ông Nguyễn Quốc H1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc H1: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng đến nay ông Nguyễn Quốc H1 không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo và cũng không đến tham gia phiên hoà giải, phiên toà.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

1. Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H: Bà Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với ông Nguyễn Quốc H1.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh H2 (nam), sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Quốc V (nam), sinh ngày 01/01/2017 cho bà Nguyễn Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, bà Nguyễn Thị Minh H không yêu cầu ông Nguyễn Quốc H1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ ý kiến trình bày của đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Minh H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con. Bị đơn là ông Nguyễn Quốc H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường P1, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng). Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng ông Nguyễn Quốc H1 vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Minh H và ông Nguyễn Quốc H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P1, thành phố P vào ngày 11/01/2011. Theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Theo trình bày của bà Nguyễn Thị Minh H thì sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Bà và ông Nguyễn Quốc H1 đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai còn quan tâm đến ai. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc H1.

[2.3] Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh H, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để nguyên, bị đơn hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông Nguyễn Quốc H1 không đến Tòa án để giải quyết và cũng không gửi cho Tòa án văn bản có ý kiến, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này chứng tỏ ông Nguyễn Quốc H1 không còn quan tâm gì đến cuộc sống hôn nhân với bà H.

[2.4] Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa hai bên không thể hàn gắn, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh H như ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp.

[2.5] Về con chung: Theo nguyên đơn khai, vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Minh H2 (nam), sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Quốc V (nam), sinh ngày 01/01/2017. Theo bà H và 02 con chung H2 và V thì từ năm 2021 đến nay khi bà H sống ly thân với ông Nguyễn Quốc H1 thì 02 con chung H2 và V sống với bà H nên nay bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con sau khi ly hôn và không yêu cầu ông Nguyễn Quốc H1 cấp dưỡng nuôi con.

Trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cũng như xem xét nguyện vọng của 02 con chung Nguyễn Minh H2 và Nguyễn Quốc V, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao 02 con chung Nguyễn Minh H2 (nam), sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Quốc V (nam), sinh ngày 01/01/2017 cho bà Nguyễn Thị Minh H tiếp tục nuôi dưỡng như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.

[2.6] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Nguyễn Thị Minh H không yêu cầu ông Nguyễn Quốc H1 cấp dưỡng nuôi con và xét thấy từ trước đến nay, bà H là người trực tiếp nuôi con, vẫn đảm bảo cuộc sống về mọi mặt cho 02 con chung Nguyễn Minh H2 và Nguyễn Quốc V, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà H là tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[2.7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Minh H khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Minh H là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
  • - Khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh H đối với ông Nguyễn Quốc H1.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên: Nguyễn Minh H2 (nam), sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Quốc V (nam), sinh ngày 01/01/2017 cho bà Nguyễn Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Quốc H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Minh H về việc tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0003044 ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/7/2025), bị đơn vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND KV 10, Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS KV10, Lâm Đồng;
  • - UBND phường P1(Phường B);
  • - Lưu hồ sơ,

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ngô Thị Xuân Vi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 02/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Minh H - Nguyễn Quốc H1, Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger