Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 20-02-2025

V/v “Tranh chấp chia tài sản

chung sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thư
Ông Bùi Thanh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chí Thọ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thanh Mến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 09/2024/TLPT-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn”.

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 11 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 12/2024/TB-TA ngày 03/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 15/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 30/12/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1981, địa chỉ: Khu phố B, phường T, TX P, tỉnh Bình Phước. (có mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đoàn Thế A, sinh năm 1973, địa chỉ: Khu phố H, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. (có mặt).

Bị đơn:

Ông Vương Ngọc D, sinh năm 1976, địa chỉ: Khu phố B, phường T, TX P, tỉnh Bình Phước. (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1948, địa chỉ: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước. (đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Công ty cổ phần T2, địa chỉ: Khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước.
  • + Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N - Tổng giám đốc. (vắng mặt).
  • + Người đại diện theo Ủy quyền: Ông Đinh Văn S, sinh năm 1971 - Phó Tổng giám đốc. (vắng mặt khi tuyên án).

Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn S, xã Đ huyện B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt).
  • - Ông Nguyễn L, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt).
  • - Ông Trương Nam H1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Thùy L1, sinh năm 1984, cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt khi tuyên án).
  • - Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt).

Người kháng cáo:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Vương Ngọc D là vợ chồng nhưng đã được Toà án nhân dân thị xã Phước Long giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 40 ngày 28/3/2019. Trong thời gian chung sống vợ chồng, bà H và ông D có khối tài sản chung chưa chia gồm:

  • - Thửa đất bà H và ông D mua của vợ chồng ông Trương Nam H1, bà Nguyễn Thị Thùy L1 vào năm 2016, diện tích 47.5m x 90m, đất trồng cây ăn trái, tọa lạc tại Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với giá là 205.000.000 đồng;
  • - Thửa đất bà H và ông D mua của ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1967, diện tích 9200m², theo “Giấy sang nhượng đất” ghi ngày 16/6/2008, giá là 93.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bà H cung cấp Giấy xác nhận của ông Trương Nam H1, bà Nguyễn Thị Thùy L1 (ngày 04/4/2021), Giấy xác nhận của ông Nguyễn Văn N1 (ngày 08/4/2021) và Giấy sang nhượng đất đề ngày 16/6/2008 có chữ ký bên bán ông Nguyễn Văn N1 và bên mua ông Vương Ngọc D, bà Nguyễn Thị Ngọc H để chứng minh về nguồn các thửa đất tranh chấp.

Bà H yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản chung là hai thửa đất nêu trên, mỗi người được hưởng 50% tài sản chung bằng hiện vật là đất cụ thể như sau:

Thửa đất có tổng diện tích 5065m² (theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P) tọa lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Nguyện vọng bà H được chia 2.532,5m² và ông D được chia 2.352m².

Thửa đất có tổng diện tích 10161.1m² (theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P) tọa lạc tại khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Nguyện vọng bà H được chia 5.080,55m² và ông D được chia 5.080,55m²

Bị đơn ông Vương Ngọc D trình bày:

Ông D không đồng ý với yêu cầu của bà H. Thửa đất có tổng diện tích 5065m² (theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P) tọa lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước là đất ông D mua bằng tiền của bà T, mua sau khi ông D và bà H ly hôn, nên sau này ông D sẽ có trách nhiệm làm sổ đất theo nguyện vọng của bà T. Đây không phải là tài sản chung của ông D và bà H trong thời kỳ hôn nhân. Ông D cung cấp Hợp đồng mua bán đất đề ngày 20/10/2019, có chữ ký ông D, ông H1, bà L1 và ông Nguyễn L – Phó thôn P, xã P ký người làm chứng.

Đối với thửa đất có tổng diện tích 10161.1m² (theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P) tọa lạc tại khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước là tài sản chung của ông D và bà H. Tuy nhiên, trước đây bà H đã nhận hết tiền sang nhượng từ ông T1 vào năm 2017 (ông T1 có mua của bà H, ông D 01 thửa đất số 222b, tờ bản đồ 01, diện tích 1578.8m² tọa lạc tại thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước) và giữa ông D, bà H thống nhất là thửa đất khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước là của riêng ông D. Việc thoả thuận này là giữa bà H, ông D thống nhất với nhau trong thời gian vợ chồng ly thân nhau nên ông D để bà H nhận hết tiền chuyển nhượng từ ông T1. Nay bà H yêu cầu chia đôi tài sản này là không có cơ sở. Đồng thời, ông D cho biết thửa đất này nằm trong khu vực đất của Công ty Cổ phần T2.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

– Bà Nguyễn Thị T trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc yêu cầu chia tài sản chung với ông Vương Ngọc D, trong đó có thửa đất có tổng diện tích 5065m² tọa lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước thì bà T không đồng ý vì đây là tài sản của bà T đã mua bằng tiền của bà T sau khi anh D, chị H ly hôn. Bà T đề nghị Toà án xem xét nguồn gốc thửa đất và lời trình bày của bà T để giải quyết. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án, việc bà nhờ anh D đứng ra mua dùm bà thửa đất bằng nguồn tiền của bà T và đồng ý cho anh D ký nhận mua đất là sự tự nguyện và tin tưởng của bà T, đến nay bà trữ vẫn tin tưởng anh D nên bà không có yêu cầu trong vụ án này, giữa bà T và anh D nếu có tranh chấp hay bất kỳ vấn đề gì phát sinh sẽ giải quyết trong nội bộ gia đình, không giải quyết được thì thì bà T sẽ yêu cầu trong vụ án riêng.

- Công ty cổ phần T2 trình bày:

Công trình Thủy điện T2 được Thủ tướng Chính phủ giao đất theo Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 10/5/1993, hiện đang trong quá trình điều chỉnh quy hoạch bàn giao lại địa phương theo Kết luận Thanh tra số 26/KL-UBND ngày 19/02/2019 của UBND tỉnh B, do đó chưa đủ cơ sở để xem xét có ý kiến. Thửa đất trên pháp lý vẫn thuộc quyền quản lý của Công ty cổ phần T2 và chưa bàn giao về địa phương. Tại phiên tòa ông S cho biết phần đất trên không nằm trong khu vực hành lang bảo vệ đập thủy điện T.

Đề nghị Tòa án khi giải quyết tranh chấp đất giữa bà H và ông D cần cẩn trọng tránh chồng lấn diện tích đất hành lang bảo vệ công trình thủy điện T2 và đảm bảo không ảnh hưởng đến an ninh, an toàn hồ đập theo Nghị định 114/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ và Quyết định số 470/QĐ-TTg ngày 26/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục đập, hồ chứa thủy điện thuộc loại đập, hồ chứa nước quan trọng đặc biệt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Thanh T1 trình bày:

Năm 2017, ông T1 có mua 01 thửa đất của bà H, ông D (Thửa số 222b, tờ bản đồ 01, diện tích 1578.8m² tọa lạc tại thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước). Thời điểm mua bán đất, ông T1 nghe thông tin ông D bà H là chủ sử dụng đất đang tìm người mua đất nên đã liên hệ để hỏi thông tin, thương lượng giá. Ông T1 hỏi ông D và ông D nói với ông T1 tự liên hệ bà H, nếu bà H đồng ý bán thì ông D cũng thống nhất với bà H. Vì vậy, sau khi ông Trung liên H2 bà H và được sự thống nhất của cả ông D, bà H về giá sang nhượng thửa đất là 320.000.000 đồng, hai bên đã thực hiện ký kết hợp đồng sang nhượng QSDĐ theo quy định. Ông T1 đưa đủ cho bà H số tiền 320.000.000 đồng, bà H đếm đủ tiền, cất vào tủ, bà H lấy bản gốc GCNQSDĐ thửa đất sang nhượng ra cho ông, sau đó ông D và bà H thực hiện việc ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất (bên A). Quá trình ký kết hợp đồng đều thuận lợi, ông D và bà H không cãi nhau hay mâu thuẫn gì, ông T1 cũng không biết việc ông D, bà H thỏa thuận về số tiền nhận chuyển nhượng như thế nào, ông T1 chỉ biết ông D nói đưa tiền chuyển nhượng cho bà H giữ thì ông T1 đưa bà H.

Tại Giấy xác nhận đề ngày 08/4/2023 có nội dung “Tôi nghe anh D trao đổi với chị H như sau: mãnh đất này và mãnh rẫy em lấy mãnh nào, chị H trả lời tôi không có làm rẫy được tôi lấy mảnh này”. Nay ông T1 trình bày như sau, khi các bên ngồi ký hợp đồng, ông T1 cũng có nghe ông D, bà H trao đổi với nhau về mãnh rẫy của ông D, bà H nhưng ông không để ý, không quan tâm đến câu chuyện đó vì không liên quan tới ông T1 nên thực tế ông T1 không biết gì về thỏa thuận của ông D, bà H để trình bày với Tòa án.

- Ông Nguyễn L trình bày:

Vào năm 2019, ông L là phó thôn P thì ông D có gọi nhờ ký vào phần người làm chứng trong việc mua bán thửa đất của ông H1, bà L1 và ông D. Hợp đồng mua bán đất được ký tại nhà ông H1, bà L1. Ông D soạn thảo hợp đồng mua bán đất ngày 20/10/2019, trước khi ký giấy mua bán đất thì ông D có đọc nội dung cho tất cả các bên nghe và cùng ký tên vào. Ông L có nói rõ là chỉ ký để làm chứng việc ông H1, bà L1 bán đất cho ông D chứ việc ông D giao tiền cho ông H1, bà L1; quá trình nhận đất sang nhượng, thửa đất hiện trạng như thế nào ông L không biết và không tham gia. Trước khi bà L1 ký tên, ông L có hỏi bà L1 nhận đủ tiền chưa, bà L1 nói rồi, ông L nói “nhận rồi thì ký thôi”. Ông L không biết sự việc năm 2016 ông H1, bà L1 bán đất cho ông D, bà H. Năm 2019, ông H1 và ông D đều vui vẻ thống nhất ký vào giấy nhờ ông L ký làm chứng, ông L có nghe nói là ký để ông D có cơ sở đi làm GCNQSDĐ thôi, ông L nói bà L1 đã nhận đủ tiền thì ký cho ông D thôi, còn thực tế bà L1 ông H1 nhận 205.000.000 đồng hay 500.000.000 đồng ông L không biết, không ai kể ông L nghe.

- Ông Trương Nam H1 và bà Nguyễn Thị Thùy L1 trình bày:

Vào tháng 5 năm 2016, ông H1 và bà L1 có bán 01 thửa đất cho ông Vương Ngọc D, bà Nguyễn Thị Ngọc H tọa lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước với giá 205.000.000 đồng như nguyên đơn trình bày. Thửa đất có chiều ngang 47.5m, dài khoảng 90m, trên đất có 01 cái ao và một số cây ăn trái. Do đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên hai bên chỉ lập giấy viết tay, mỗi bên giữ một bản. Quá trình bán thửa đất này, ông H1 và bà L1 nhận tiền chuyển nhượng từ bà H (bà H đưa nhiều lần mới đủ số tiền 205.000.000 đồng), khi giao đất thì ông H1, bà L1 chỉ đất cho ông D làm hàng rào. Đến năm 2019, ông D có gặp ông H1, bà L1 để nhờ ông H1, bà L1 ký lại 01 bản Hợp đồng mua bán đất đề ngày 20/10/2019 đối với thửa đất trên mà ông H1, bà L1 đã bán cho ông D, bà H năm 2016. Ông D còn nhờ ông Nguyễn L – Phó thôn P, xã P ký người làm chứng. Sau khi xem qua bản Hợp đồng mua bán đất vào ngày 20/10/2019 ông D đưa, ông H1 và bà L1 có thắc mắc về giá chuyển nhượng đất đề trong Hợp đồng là 500.000.000 đồng trong khi thực tế chỉ có 205.000.000 đồng thì ông D giải thích là đề giá cao để ông D sau này có bán đất thì bán được giá tốt hơn. Trong bản Hợp đồng mua bán đất đó cũng không đề tên bà H và bà H cũng không đi cùng ông D đến gặp ông H1 và bà L1 nhờ ký lại Hợp đồng mua bán đất. Ông H1 và bà L1 không để ý nội dung đó nên không thắc mắc với ông D là tại sao không đề tên bà H vào bản Hợp đồng. Ông H1 và bà L1 khẳng định là ông H1, bà L1 bán đất cho ông D, bà H vào năm 2016. Đồng thời, trong quá trình ông H1, bà L1 sang nhượng thửa đất này cho ông D, bà H thì ông H1, bà L1 không thấy có sự tham gia của bà T (mẹ ruột ông D) hay bất kỳ ai khác nữa, chỉ nghe ông D bà H nói mua để trồng cây ăn trái.

Sau khi chuyển nhượng đất cho ông D, bà H từ năm 2016 đến nay, ông H1, bà L1 vẫn ở phần đất của ông H1, bà L1 (giáp ranh thửa đất đã bán cho ông D, bà H). Ông H1 và bà L1 thấy ông D lâu lâu ghé vào đất để thăm rẫy vườn, trên thửa đất này không có ai ở mà toàn bộ là để trồng cây ăn trái. Đến năm 2021, thửa đất của gia đình ông H1, bà L1 (giáp ranh thửa đất đã bán cho ông D, bà H) được Nhà nước đo chính quy cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, và khi làm hồ sơ để hoàn thiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSDĐ thì bên địa chính có yêu cầu ông H1, bà L1 đưa cho ông D, bà H ký giáp ranh đất; ông D, bà H có ký cho ông H1, bà L1, hiện thửa đất của gia đình ông H1, bà L1 đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.

Trong quá trình bà H tranh chấp đất với ông D, bà H có liên hệ ông H1, bà L1 ký 01 giấy xác nhận đề ngày 04/4/2021 thể hiện việc sang nhượng đất, giấy xác nhận này thể hiện chính xác thực tế mua bán thửa đất, giấy xác nhận do bà H viết, sau đó ông H1, bà L1 đọc lại và ký tên.

Ông H1, bà L1 đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bà H. Ông H1, bà L1 bán đất cho bà H, ông D khi ông D, bà H còn là vợ chồng, nhận tiền chuyển nhượng của bà H, ông D nên ông H1, bà L1 cho rằng đây là tài sản chung của bà H, ông D.

- Ông Nguyễn Văn N1 trình bày:

Vào năm 2008, ông N1 có bán cho bà H, ông D 01 thửa đất có diện tích 9200m² tọa lạc tại khu H, thị trấn T (cũ), nay là khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước với giá 93.000.000 đồng. Ông N1 và ông D, bà H có lập giấy sang nhượng đất viết tay, đề ngày 16/6/2008 và có vẽ sơ đồ vị trí đất ở mặt sau, có ông lê Minh N2 làm chứng. Đến ngày 17/6/2009, ông D, bà H mới giao đủ tiền sang nhượng đất cho ông N1. Từ khi bán thửa đất cho ông D, bà H đến nay, ông N1 thấy ông D là người sử dụng thửa đất, hiện đã làm nhà ở sống ổn định ở thửa đất này.

Ông N1 không rõ giữa ông D và bà H thỏa thuận như thế nào về thửa đất, ông N1 chỉ biết khi bán đất thì bán cho cả hai vợ chồng và nhận tiền chuyển nhượng của cả hai vợ chồng ông D, bà H. Thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc khu vực gần đập thủy điện T.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 33 ; 38 ; 39 ; 59 và Điều 62 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 23, Điều 53 và Điều 101 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về chia tài sản chung sau khi ly hôn với ông Vương Ngọc D thửa đất tổng diện tích 10161.1m² tọa lạc tại khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước và diện tích đất 5065m² tọa lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án sơ thẩm bị kháng cáo như sau:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; chia thửa đất có diện tích 5.065m2 toạ lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước theo hướng bà H được chia 2.532,5m², ông D được chia 2.352m²; chia thửa đất có tổng diện tích 10161,1m² toạ lạc tại khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình phước theo hướng bà H được chia 5.080,55m², ông D được chia 5.080,55m² và đề nghị được chia số tài sản có trên đất.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được về việc giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa:

  • - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát; ý kiến của nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Đối với thửa đất có diện tích 47,5m ngang x 90m dài, trên đất trồng cây ăn trái, toạ lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, diện tích đo đạc thực tế 5.065m² (Theo mảnh trích đo địa chính số 534-2023 ngày 21/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P, tỉnh Bình Phước):

Theo ông Trương Nam H1, bà Nguyễn Thị Thùy L1 xác định vào tháng 5 năm 2016, ông H1 và bà L1 có bán 01 thửa đất cho ông Vương Ngọc D, bà Nguyễn Thị Ngọc H tọa lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước với giá 205.000.000 đồng như nguyên đơn trình bày. Thửa đất có chiều ngang 47.5m, dài khoảng 90m, trên đất có 01 cái ao và một số cây ăn trái. Do đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ lập giấy viết tay, mỗi bên giữ một bản. Ông H1 và bà L1 đã nhận đủ tiền chuyển nhượng từ bà H (bà H đưa nhiều lần mới đủ số tiền 205.000.000 đồng), khi giao đất thì ông H1, bà L1 chỉ đất cho ông D và bà H làm hàng rào. Đến năm 2019, ông D có gặp ông H1, bà L1 để nhờ ông H1, bà L1 ký lại 01 bản hợp đồng mua bán đất đề ngày 20/10/2019 đối với thửa đất trên mà ông H1, bà L1 đã bán cho ông D, bà H năm 2016. Ông D còn nhờ ông Nguyễn L – Phó thôn P, xã P ký người làm chứng. Sau khi xem qua bản hợp đồng mua bán đất vào ngày 20/10/2019 ông D đưa, ông H1 và bà L1 có thắc mắc về giá chuyển nhượng đất đề trong Hợp đồng là 500.000.000 đồng trong khi thực tế chỉ có 205.000.000 đồng thì ông D giải thích là đề giá cao để ông D sau này có bán đất thì bán được giá tốt hơn, vì tin tưởng nên ông H1 và bà L1 không để ý nội dung và không thắc mắc với ông D là tại sao không đề tên bà H trong bản hợp đồng, ông H1 và bà L1 đã ký tên vào giấy mua bán đất được ông D viết lại này. Lúc này ông H1, bà L1 không biết ông D và bà H đã ly hôn. Ông H1 và bà L1 khẳng định là ông H1, bà L1 bán đất cho ông D, bà H vào năm 2016 và bà H là người trực tiếp trả tiền cho ông H1 và bà L1 (bà H đưa nhiều lần mới đủ số tiền 205.000.000 đồng). Đồng thời, trong quá trình ông H1, bà L1 sang nhượng thửa đất này cho ông D, bà H thì ông H1, bà L1 không thấy có sự tham gia của bà T (mẹ ruột ông D) hay bất kỳ ai khác nữa, chỉ nghe ông D bà H nói mua để trồng cây ăn trái.

Sau khi chuyển nhượng đất cho ông D, bà H từ năm 2016 đến nay, ông H1, bà L1 vẫn ở phần đất của ông H1, bà L1 (giáp ranh thửa đất đã bán cho ông D, bà H). Đến năm 2021, thửa đất của gia đình ông H1, bà L1 (giáp ranh thửa đất đã bán cho ông D, bà H) được Nhà nước đo chính quy cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, và khi làm hồ sơ để hoàn thiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSDĐ thì bên địa chính có yêu cầu ông H1, bà L1 đưa cho ông D, bà H ký giáp ranh đất; ông D, bà H có ký cho ông H1, bà L1, hiện thửa đất của gia đình ông H1, bà L1 đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.

Trong quá trình bà H tranh chấp đất với ông D, bà H có liên hệ ông H1, bà L1 ký 01 giấy xác nhận đề ngày 04/4/2021 thể hiện việc sang nhượng đất, giấy xác nhận này thể hiện chính xác thực tế mua bán thửa đất, giấy xác nhận do bà H viết, sau đó ông H1, bà L1 đọc lại và ký tên.

Do đó, hợp đồng mua bán đất đề ngày 20/10/2019, có chữ ký ông D, ông H1, bà L1 và ông Nguyễn L - Phó thôn P, xã P ký người làm chứng chỉ là hợp đồng hợp thức cho việc mua bán đất giữa ông D, bà H với ông H1, bà L1 năm 2016. Ông L khẳng định chỉ ký làm chứng chứ không biết việc hai bên mua bán và giao nhận tiền với nhau. Sau này, khi xảy ra tranh chấp thì bà T và ông D cho rằng phần đất trên là mua dùm bà T, tuy nhiên, bà T và ông D không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh. Hơn nữa, bà T cũng không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết phúc thẩm Tòa án đã nhận được 02 bản lời khai của cháu Vương Ngọc Bảo H3, sinh ngày 05/05/2005 và cháu Vương Ngọc Kim N3, sinh ngày 21/01/2012 là con chung của ông D và bà H với nội dung biết sự việc ông D và bà H có mua thửa đất nêu trên và nhiều lần được bố mẹ chở vào thửa đất nêu trên để chơi cùng gia đình ông H1 và bà L1. Tại phiên tòà, ông D, ông H1 và bà L1 đều thừa nhận sự việc ông D nhiều lần chở 02 con chung vào thửa đất nêu trên để chơi cùng gia đình ông H1 và bà L1.

Vì vậy, đủ căn cứ xác định thửa đất có diện tích 47,5m ngang x 90m dài, trên đất trồng cây ăn trái, toạ lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, diện tích đo đạc thực tế 5.065m² (Theo mảnh trích đo địa chính số 534-2023 ngày 21/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thị xã P, tỉnh Bình Phước) là tài sản chung được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông D và bà H.

[3] Đối với thửa đất có diện tích 9.200m² tại khu phố H, thị trấn T (bờ sông cũ), huyện P, tỉnh Bình Phước:

Thửa đất này do sang nhượng của ông Nguyễn Văn N1, với giá tiền 93.000.000đ (chín mươi ba triệu đồng) giấy sang nhượng đất ghi ngày 16/6/2008 (giấy tờ viết tay). Hiện thửa đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua đo đạc thực tế của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P, thửa đất có tổng diện tích 10161.1m² tọa lạc tại khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Ông D và bà H đều thừa nhận đây là tài sản chung của bà H và ông D cùng tạo lập. Việc thừa nhận của bà H và ông D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên không cần phải chứng minh.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị T và ông D cho rằng phần đất này là của bà Nguyễn Thị T sang nhượng. Theo lời trình bày của đại diện Công ty cổ phần T2 thì hiện nay thửa đất này nằm trong phần đất mà Công ty cổ phần T2 được Thủ tướng Chính phủ giao đất theo Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 10/5/1993, hiện đang trong quá trình điều chỉnh quy hoạch bàn giao lại địa phương theo Kết luận Thanh tra số 26/KL-UBND ngày 19/02/2019 của UBND tỉnh B. Tuy nhiên, từ khi ông D và bà H mua đất của ông N1 (năm 2008) đến nay ông D và bà H đã quản lý, sử dụng ổn định, Công ty T2 không có ý kiến và phát sinh tranh chấp nào. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S đại diện cho Công ty cổ phần T2 xác định phần đất trên của ông D, bà H không nằm trong khu vực bảo vệ hành lang bờ đập thủy điện T, trong tương lai sẽ được giao lại cho địa phương quản lý. Do đó, thửa đất này vẫn được xem là tài sản chung của ông D và bà H, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về phần đất này là chưa phù hợp và không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Như vậy, tổng giá trị tài sản chung của ông D, bà H là 2.203.965.000 đồng. Trong đó, thửa đất 5.065m² toạ lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước và tài sản trên đất có giá trị là 679.800.000 đồng; thửa đất 10161.1m² tọa lạc tại khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước và tài sản trên đất có giá trị là 1.524.165.000 đồng (Theo kết quả định giá tại Biên bản định giá tài sản ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá).

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà H về phần chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn. Sửa toàn bộ Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước theo hướng chia cho ông D, bà H mỗi người được hưởng ½ giá trị khối tài sản chung và chia bằng hiện vật.

Hiện nay ông D đang quản lý và sử dụng thửa đất có diện tích 10161.1m² tọa lạc tại khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước nên tiếp tục tạm giao cho ông D quản lý, sử dụng diện tích đất này và các tài sản trên đất cho đến khi có hướng dẫn mới của Cơ quan chức năng có thẩm quyền. Tổng giá trị tài sản này là 1.524.165.000 đồng (một tỷ năm trăm hai mươi bốn triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Tạm giao cho bà H trực tiếp quản lý và sử dụng thửa đất có diện tích 47,5m ngang x 90m dài, trên đất trồng cây ăn trái, toạ lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, diện tích đo đạc thực tế 5.065m² (Theo mảnh trích đo địa chính số 534-2023 ngày 21/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P, tỉnh Bình Phước) và các tài sản trên đất. Tổng giá trị tài sản này là 679.800.000 đồng (sáu trăm bảy mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng).

Ông Vương Ngọc D có trách nhiệm hoàn trả lại cho Nguyễn Thị Ngọc H số tiền giá trị tài sản chênh lệch là 422.182.500 đồng (bốn trăm hai mươi hai triệu một trăm tám mươi hai nghìn năm trăm đồng).

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên toà là không phù hợp nên không được chấp nhận.

[6] Về án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
  • Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 45.059.475 đồng (bốn mươi lăm triệu không trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng), được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007253, quyển số 000146 ngày 10/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phước Long. Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải tiếp tục nộp số tiền còn lại là 31.059.475 đồng (ba mươi mốt triệu không trăm năm mươi chín nhìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng).
  • Ông Vương Ngọc D phải chịu 45.059.475 đồng (bốn mươi lăm triệu không trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng).
  • - Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên bà Nguyễn Thị Ngọc H không phải chịu.

[7] Chi phí tố tụng: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và chi phí đo đạc là 26.305.000 đồng. Bà H và ông D mỗi người phải chịu ½ chi phí này, tương ứng số tiền 13.152.500 đồng (mười ba triệu một trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng). Do bà Nguyễn Thị Ngọc H đã nộp tạm ứng đủ số tiền nêu trên nên ông Vương Ngọc D phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền là 13.152.500 đồng (mười ba triệu một trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng).

[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H;

Sửa toàn bộ Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước;

2. Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 148, Điều 266, 273, 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 218 và Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015 Các điều 29, 33, 34, 35, 38, 39 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

3. Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H;

  • - Tạm giao cho bà Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp quản lý và sử dụng thửa đất có diện tích 47,5m ngang x 90m dài, diện tích đo đạc thực tế 5.065m², toạ lạc tại thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước và toàn bộ tài sản trên đất (Kèm theo mảnh trích đo địa chính số 534-2023 ngày 21/9/2023 của Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai thị xã P, tỉnh Bình Phước).
  • - Tạm giao cho ông Vương Ngọc D tiếp tục quản lý và sử dụng thửa đất có diện tích 10161.1m² tọa lạc tại khu phố E, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước và toàn bộ tài sản trên đất (Kèm theo mảnh trích đo địa chính số 535-2023 ngày 21/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thị xã P, tỉnh Bình Phước).

Ông Vương Ngọc D có trách nhiệm hoàn trả lại cho Nguyễn Thị Ngọc H số tiền giá trị tài sản chênh lệch là 422.182.500 đồng (bốn trăm hai mươi hai triệu một trăm tám mươi hai nghìn năm trăm đồng).

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật

4. Về án phí và chi phí tố tụng:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 45.059.475 đồng (bốn mươi lăm triệu không trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng). Được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007253, quyển số 000146 ngày 10/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phước Long, bà Nguyễn Thị Ngọc H phải tiếp tục nộp số tiền còn lại là 31.059.475 đồng (ba mươi mốt triệu không trăm năm mươi chín nhìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng).
  • Ông Vương Ngọc D phải chịu 45.059.475 đồng (bốn mươi lăm triệu không trăm năm mươi chín nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng).
  • - Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc H không phải chịu. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003201 ngày 24/7/2024.
  • - Chi phí tố tụng: Ông Vương Ngọc D có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc H chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí đo đạc là 13.152.500 đồng (mười ba triệu một trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng).

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước (01);
  • - TAND thị xã Phước Long (01);
  • - Chi cục THADS thị xã Phước Long (01);
  • - Các đương sự (05);
  • - Lưu: Tổ HCTP, T.GĐ&NCTN (02);
  • - Hồ sơ vụ án (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Hà; Sửa toàn bộ Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger