|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/HC-ST Ngày 20 tháng 3 năm 2025 V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính" |
ÁN CÓ HIỆU LỰC
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;
Bà Nguyễn Thị Phẩm.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Nguyễn Thái Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HC ngày 01/10/2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HC ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Hoàng Minh C, sinh năm 1954
Địa chỉ: Khu L, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Tạ Văn P - Luật sư Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: Phòng C, tòa S, số B L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.
Người bị kiện:
UBND huyện P, tỉnh Phú Thọ
Địa chỉ: Khu Đá Thờ, thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu N - Chức vụ: Chủ tịch.
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Long G - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện P.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ
- UBND xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Long G - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện P.
Địa chỉ: Khu Đ, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hà Kế T - Chức vụ: Chủ tịch.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc T1 - Chức vụ: Công chức địa chính xã B.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958
- Công ty TNHH V
Địa chỉ: Khu L, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Lô C, Cụm C - A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Đức H1 - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Thanh L - Chức vụ: Kế toán.
(Ông C, ông P có mặt, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, người khởi kiện ông Hoàng Minh C và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C trình bày:
Năm 2016, ông C có mua lại một phần thửa đất số 139, tờ bản đồ số 30 tại địa chỉ: Khu G, xã T (nay là xã B), huyện P, tỉnh Phú Thọ, diện tích 92 m² có địa chỉ: Khu G, xã T (nay là xã B), huyện P, tỉnh Phú Thọ. Phần diện tích 92 m² tôi mua nêu trên được đo đạc thuộc tờ bản đồ số 5 (cũ là số 30), thửa đất số 139 (đo cũ), loại đất: ONT (sau đây gọi là thửa đất số 139). Trên đất bao gồm các công trình nhà ở, tường rào, sân, giếng,...
Thời điểm năm 2018, khi Dự án Cụm C – An Đạo bắt đầu được triển khai, thửa đất số 139 của ông thuộc diện bị thu hồi để thực hiện dự án. Do điều kiện bận công việc nên ông có ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc C1 (xã H, TP V, tỉnh Phú Thọ) là con rể ông, thay ông làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Giấy ủy quyền được lập có xác nhận của UBND xã B. Với tư cách là cán bộ đảng viên, cùng sự động viên của các cấp chính quyền, gia đình ông đã nêu cao tinh thần làm gương, bàn giao trước thửa đất số 139 ngay tại thời điểm năm 2018 để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhà nước và cho khu công nghiệp giải phóng mặt bằng, thực hiện dự án và sẽ nhận bồi thường hỗ trợ sau. Ngay tại thời điểm năm 2018, ông đã bày tỏ quan điểm không đồng ý phương án bồi thường đất bằng tiền và nhiều lần phản ánh, kiến nghị, yêu cầu hỗ trợ bồi thường tái định cư.
Ngày 24/06/2020, UBND huyện P đã ban hành Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/06/2020 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tiến hành dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B (Duyệt lần 10). Theo như Quyết Định 1053/QĐ-UBND thì gia đình ông được bồi thường về đất, công trình trên đất, cây cối hoa màu và hỗ trợ khác với tổng số tiền là: 112.547.297 VNĐ (Một trăm mười hai triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm tám mươi bảy Việt Nam đồng). Trong đó, số tiền bồi thường cho toàn bộ diện tích đất ở mà gia đình ông bị thu hồi chỉ là 23.000.000 VNĐ (hai mươi ba triệu đồng). Trên thực tế, mức giá bồi thường này còn thấp hơn cả giá trị năm 2016 gia đình ông nhận chuyển nhượng lại từ bà Nguyễn Thị Hương T2 và nó thấp hơn nhiều so với giá trị thực đang giao dịch trên thị trường tại thời điểm thu hồi. Theo quy định tại Bảng giá đất phi nông nghiệp 05 năm (2015-2019) của xã T huyện P ban hành kèm theo Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2019 của UBND tỉnh P, thực tế, phần đất mà gia đình ông bị thu hồi nằm ở khu vực vị trí thứ 2 theo bảng thống kê. Giá trị bồi thường là 670.000/1m² đất. Phần đất của ông có diện
tích là 92m². Theo quy định trên, giá trị bồi thường chỉ riêng phần bồi thường về đất phải là: (670.000 * 92 = 61.640.000 VNĐ). Thực tế, thời điểm đó, giá trị thị trường đối với diện tích đất kể trên lên tới 1.000.000/1m² đất. Việc UBND huyện P ban hành Quyết định số 1053/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B (Duyệt lần 10) nêu ra số tiền bồi thường chỉ vỏn vẹn 23.000.000 VNĐ, có sự chênh lệch rất lớn về mặt giá trị, vô cùng thiệt thòi đối với gia đình ông.
Bên cạnh đó, phần giá trị bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất cũng không chính xác so với quy định về bồi thường tại Quyết định số 11/2014/QĐ-UBND tỉnh P ban hành Quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và Đơn giá bồi thường về vật kiến trúc, cây cối khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Mặt khác, với giá trị bồi thường 23.000.000 đồng, gia đình ông không thể mua được bất cứ thửa đất ở nào khác trên cùng địa phương để có thể bố trí nơi ở cho gia đình con trai ông. Cũng chính vì vậy, ngay từ khi biết việc giá trị được bồi thường về đất quá thấp ông đã kiên quyết không đồng ý và đã nhiều lần phản ánh, kiến nghị Cơ quan chức năng xem xét trường hợp của gia đình, tạo điều kiện để cho gia đình ông được bồi thường tái định cư bằng đất ở nhằm bố trí chỗ ở cho gia đình con trai của ông.
Quá trình bồi thường sau này, cán bộ tiến hành chi trả bồi thường có trao đổi và thuyết phục ông (thuyết phục gia đình tôi trong đó có cả con rể ông là anh Nguyễn Ngọc C1) ký vào phiếu chi nhận bồi thường để cho đầy đủ về mặt pháp lý, kiến nghị về việc nhận bồi thường về đất sẽ được xem xét sau. Bản thân ông và anh C1 là cán bộ Đảng Viên, ông đặt niềm tin vào những người thực thi công vụ bồi thường, tin tưởng vào cơ quan nhà nước và tin vào chính sách của Đảng và Chính phủ nên ông và anh C1 đã làm theo, ký vào phiếu chi ngày 29/6/2020. Tại phiếu chi có nội dung tổng số tiền bồi thường là 112.547.287 VNĐ (Một trăm mười hai triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm tám mươi bảy Việt Nam đồng) theo phương án bồi thường của Quyết định 1053/QĐ-UBND ngày 24/06/2020 mà UBND huyện P ban hành. Trên thực tế, từ thời điểm 2018 cho đến nay, ông chưa hề nhận số tiền bồi thường cho toàn bộ diện tích đất ở mà gia đình ông bị thu hồi là 23.000.000 VNĐ (Hai mươi ba triệu đồng). Khoản tiền bồi thường về đất trên vẫn do Công ty TNHH V – V và Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng UBND huyện P quản lý. Sau khi gia đình ông bàn giao mặt bằng, ký đầy đủ hồ sơ, ông đã nhiều lần phản ánh, kiến nghị, yêu cầu hỗ trợ bồi thường tái định cư nhưng quyền lợi của gia đình ông bị phớt lờ, đến tận bây giờ vẫn không được xem giải quyết. Tôi chưa bao giờ nhận tiền hỗ trợ bồi thường về đất của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng UBND huyện P và của Công ty TNHH V theo như nội dung của Phiếu chi ngày 29/6/2020.
Thửa đất gia đình ông mua là nhằm mục đích để xây dựng nhà, làm nơi ở cho vợ chồng người con trai của ông. Cả gia đình ông đã phải vất vả lao động, tích góp nhiều năm mới có được. Đến nay thửa đất đã bị nhà nước thu hồi để mở rộng khu công nghiệp, phát triển kinh tế địa phương. Gia đình ông vì ủng hộ và chấp hành chính sách của Đảng và Chính P1 đã nghiêm túc chấp hành đầy đủ, nhưng đổi lại đến nay gia đình ông lại nhận về sự bất công và thiệt thòi. Hiện nay, gia đình con trai của ông là anh Hoàng Minh C2 (sinh năm 1982) có bốn nhân
khẩu đang phải sống trong căn nhà dựng tạm trên đất nông nghiệp. Tại thời điểm thu hồi đất, UBND có quỹ đất hỗ trợ tái định cư tại vị trí: Xóm T - Khu Đ, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Nhiều hộ dân bị thu hồi đất để thực hiện dự án xây cụm C – An Đạo nêu trên đều được hỗ trợ tái định cư bằng đất ở nhưng gia đình ông lại không được hỗ trợ. Ông cho rằng UBND huyện P có quỹ đất hỗ trợ tái định cư thì khi thu hồi đất ở của ông phải bồi thường cho ông bằng đất ở.
Không đồng ý với Quyết định số 1053/QĐ-UBND, trong suốt các năm 2020, 2021, 2022, 2023 ông đã nhiều lần gửi đơn thư yêu cầu giải quyết lại trường hợp của ông đến UBND huyện P để kiến nghị, khiếu nại (Do thời gian đã lâu nên ông không còn lưu giữ được tất cả các đơn). Các cơ quan chức năng có tổ chức đoàn xác minh nhiều lần làm việc nhưng vụ việc vẫn không được giải quyết.
Ngày 09/01/2024, ông tiếp tục làm đơn kiến nghị yêu cầu cấp đất tái định cư, sau đó ông nhận được văn bản số 996/UBND-VP của UBND huyện P ngày 26/01/2024 về việc giao giải quyết đơn thư của ông. Ngày 01/7/2024, ông nhận được văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P và kèm theo văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P. Theo nội dung 2 văn bản này thì UBND huyện P xác định ông không đủ điều kiện được xem xét tái định cư với lý do “Đối với hộ ông Nguyễn Minh C3: Theo xác nhận của UBND xã B, hộ ông Hoàng Minh C hiện tại còn đất ở khác tại khu L, xã B. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 79, Luật đất đai 2013, hộ ông Hoàng Minh C được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất ở bị thu hồi”.
Ông nhận thấy việc UBND huyện P thu hồi toàn bộ đất ở, nhà ở của ông mà không giải quyết tái định cư cho ông là sai trái, vi phạm nghiêm trọng các chính sách pháp luật của Đ và Chính P1, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông, gây thiệt hại về tinh thần và tài sản của ông trong suốt gần 4 năm vừa qua.
Vì vậy, ông khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
Hủy một phần Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P liên quan đến phương án hỗ trợ, bồi thường đối với tôi (Hoàng Minh C); Cụ thể, ông yêu cầu huỷ bỏ phần nội dung bồi thường giá trị đất là 23.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án xem xét buộc UBND huyện P thực hiện nhiệm vụ, công vụ xây dựng và ban hành phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư (bằng đất) đối với ông.
Hủy văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P về việc trả lời nội dung kiến nghị của ông Hoàng Minh C, xã B và ông Nguyễn Văn H2, xã H, thành phố V.
Hủy văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P về việc đề nghị tái định cư của các hộ Hoàng Minh C khu L, xã B.
Trường hợp UBND huyện P chứng minh được ông không thuộc đối tượng được hỗ trợ tái định cư, đề nghị UBND huyện P căn cứ theo quy định pháp luật tại địa phương để bồi thường bằng tiền cho ông đúng chính xác với giá trị bồi thường mà ông được nhận.
Người bị kiện UBND huyện P do ông Nguyễn Long G đại diện trình bày:
Đối với Văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020; Quyết định số 1053/QĐ-UBND 24/6/2020 của UBND huyện P:
- Về thẩm quyền ban hành Văn bản
Tại Điểm a Khoản 2 Điều 66 Luật đất đai 2013 quy định về Thẩm quyền thu hồi đất:
“2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;"...
Tại điểm a Khoản 3 Điều 69 Luật đất đai quy định:
“3. Việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày;"...
Do đó, UBND huyện là cơ quan ban hành các quyết định hành chính để thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với hộ ông Hoàng Minh C là đúng thẩm quyền, cụ thể là:
Văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 về việc đề nghị tái định cư của các hộ Nguyễn Văn H2, Hoàng Minh C, khu L, xã B (đây là Văn bản trả lời nội dung vướng mắc của công dân trong quá trình công khai phương án bồi thường).
Quyết định số 1053/QĐ-UBND 24/6/2020 của UBND huyện P về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B (Duyệt lần 10)
- Về trình tự, thủ tục ban hành Văn bản
Thực hiện theo Điều 69 Luật đất đai 2013 quy định về Trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
UBND huyện đã chỉ đạo các phòng, ban, cơ quan liên quan thực hiện trình tự, thủ tục thu hồi, bồi thường để thực hiện dự án đầu tư xây dựng cụm C - A, tại xã T, cụ thể như sau:
Ngày 04/5/2017 Hội đồng bồi thường ban hành Thông báo số 55/TB-HĐBT về việc triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, kế hoạch kiểm đếm đất đai và tài sản trên đất thực hiện dự án.
Ngày 25/11/2019, Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện P đã tiến hành kiểm đếm đất đai và tài sản trên đất của hộ ông Hoàng Minh C.
Sau khi lập phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, ngày 25/5/2020, Hội đồng Bồi thường đã công khai dự toán chi tiết. Trong thời gian công khai, ông Hoàng Minh C, khu L, xã B đề nghị được cấp đất tái định cư, không nhận tiền đền bù đất ở.
Ngày 29/5/2020, Hội đồng Bồi thường, HT&TĐC huyện đã tổ chức hội nghị để để giải quyết nội dung đề nghị của Hoàng Minh C và ông Nguyễn Văn H2. Tại hội nghị, Chủ tịch UBND xã B đã xác nhận: “Hiện nay, trên địa bàn xã, hộ gia đình ông Hoàng Minh C vẫn còn đất ở sau khi thu hồi đất để xây dựng cụm CN Tử Đà".
Ngày 17/6/2020, UBND huyện đã ban hành Văn bản số 765/UBND-TNMT về việc đề nghị tái định cư của các hộ Nguyễn Văn H2, Hoàng Minh C, khu L, xã B. Nội dung Văn bản có nêu:
“ Đối với hộ ông Hoàng Minh C: Theo xác nhận của UBND xã B, hộ ông Hoàng Minh C hiện tại còn đất ở khác tại khu L, xã B. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 79, Luật Đất đai năm 2013, hộ ông Hoàng Minh C được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất ở bị thu hồi."
Ngày 24/6/2020, UBND huyện P đã ban hành Quyết định số 1052/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B - Duyệt lần 10 và Quyết định số 1053/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B (Duyệt lần 10).
Như vậy, việc UBND huyện P ban hành Văn bản số 765/UBND- TNMT và Quyết định số 1053/QĐ-UBND là đúng trình tự, thủ tục của pháp luật.
- Về căn cứ pháp lý ban hành văn bản
1. Đối với Văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020;
Căn cứ Biên bản làm việc ngày 29/5/2020 để xác định tình trạng nhà ở, đất ở của ông Hoàng Minh C, Nguyễn Văn H2 tại xã B: UBND xã B xác nhận ông Hoàng Minh C còn đất ở khác tại khu L, xã B.
Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 79, Luật Đất đai năm 2013 quy định Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở:
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.”...
Như vậy, UBND huyện đã ban hành Văn bản số 765/UBND-TNMT là có đủ căn cứ pháp lý theo quy định của Luật đất đai.
2. Đối với Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020
Các căn cứ để ban hành Quyết định số 1053/QĐ-UBND bao gồm:
Luật Đất đai ngày 29/11/2013, cụ thể:
Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,..."
Các văn bản dưới luật:
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định thi hành một số điều của Luật Đất đai;
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai;
Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 18/12/2019 của UBND tỉnh P về bảng giá đất 05 năm (2020-2024);
Quyết định 11/2014/QĐ-UBND ngày 10/9/2014 của UBND tỉnh P Ban hành Quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và Đơn giá bồi thường về vật kiến trúc, cây cối khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND ngày 14/9/2015 của UBND tỉnh P về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 11/2014/QĐ-UBND ngày 10/9/2014 của UBND tỉnh ban hành Quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và Đơn giá bồi thường về vật kiến trúc, cây cối khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh;
Thông báo giá số 153/CTK-TB ngày 16/4/2014 của Cục Thống kê tỉnh P về năng suất bình quân một số loại cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; Thông báo 01/TB-STC ngày 03/01/2019 của Sở Tài chính tỉnh P mức giá bình các loại nông sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ;
Quyết định số 3459/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2020 của huyện P;
Văn bản số 4926/UBND-TH1 ngày 28/10/2016 của UBND tỉnh P về việc chủ trương điều chỉnh, mở rộng dự án Đầu tư kinh doanh hạ tầng sản xuất công nghiệp và dịch vụ cụm Công nghiệp T4, huyện P;
Quyết định số 1099/QĐ-UBND ngày 26/5/2020 của UBND tỉnh P về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để tính tiền bồi thường, khi nhà nước thu hồi đất đối với dự án: Xây dựng cụm C - A tại địa bàn xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ;
Như vậy, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 1053/QĐ-UBND là đúng, có đủ căn cứ pháp lý quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ tịch UBND huyện P do ông Nguyễn Long G - Đại diện theo ủy quyền trình bày:
Đối với Văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P:
- Về thẩm quyền ban hành văn bản
Tháng 4/2024, UBND huyện P nhận được đơn của công dân Nguyễn Văn H2 - khu B, xã H, Thành phố V và ông Hoàng Minh C- khu L, xã B theo phiếu chuyển đơn số 139/BTCD-PCĐ ngày 26/4/2024 của Ban Tiếp công dân tỉnh và Văn bản số 07/2024/CV-ASV ngày 16/4/2024 của Công ty L1 – có địa chỉ tại phòng 3B1, tòa nhà S, số B L, phường M, quận N, Hà Nội (Được ủy quyền của ông Nguyễn Văn H2- khu B, xã H, Thành phố V và ông Hoàng Minh C- khu L, xã B, huyện P). Đơn có nội dung: Đề nghị xem xét, giải quyết đơn của công dân theo quy định của pháp luật, cấp đất tái định cư và bồi thường thiệt hại do chậm trễ hỗ trợ tái định cư cho ông Nguyễn Văn H2 và ông Hoàng Minh C khi các hộ công dân bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án xây dựng cụm C - A tại xã B, huyện P.
Quá trình xử lý và giải quyết, trả lời đơn nêu trên, Chủ tịch UBND huyện ký ban hành Văn bản số 781/UBND-HĐBT là thực hiện theo đúng quy định tại
khoản 1 Điều 20 Thông tư 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh:
“Điều 20. Xử lý đơn kiến nghị, phản ánh
1. Đơn kiến nghị, phản ánh về những nội dung thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì người xử lý đơn báo cáo, đề xuất người đứng đầu giải quyết, trả lời theo quy định của pháp luật.”...
- Về trình tự, thủ tục ban hành văn bản
Ngày 26/4/2024, UBND huyện nhận được phiếu chuyển đơn số 139/BTCD-PCĐ ngày 26/4/2024 của Ban Tiếp công dân tỉnh và Văn bản số 07/2024/CV-ASV ngày 16/4/2024 của Công ty L1 – có địa chỉ tại phòng 3B1, tòa nhà S, số B L, phường M, quận N, Hà Nội (Được ủy quyền của ông Nguyễn Văn H2- khu B, xã H, Thành phố V và ông Hoàng Minh C - khu L, xã B, huyện P).
Sau khi phân loại đơn, ngày 17/5/2024, Ban tiếp công dân huyện đã tham mưu Chủ tịch UBND huyện xử lý đơn tại Văn bản số 648/UBND - BTCD v/v giao giải quyết đơn của công dân công dân Nguyễn Văn H2- khu B, xã H, Thành phố V và ông Hoàng Minh C- khu L, xã B, huyện P, giao cho Văn phòng Đăng ký đất đai và Phát triển quỹ đất tham mưu giải quyết.
Căn cứ Báo cáo số 37/BC-HĐBT ngày 10/6/2024 của Hội đồng bồi thường, HT&TĐC về việc trả lời nội dung kiến nghị của ông Hoàng Minh C, khu L, xã B và ông Nguyễn Văn H2, khu B, xã H, TP V. Ngày 11/6/2024, Chủ tịch UBND huyện P đã ban hành Văn bản số 781/UBND-HĐBT v/v trả lời nội dung kiến nghị của ông Hoàng Minh C, xã B và ông Nguyễn Văn H2, xã H, thành phố V.
Như vậy, việc xử lý đơn, ban hành Văn bản trả lời đơn số 781/UBND-HĐBT: Chủ tịch UBND huyện P đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 20 Thông tư 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra chính phủ.
- Căn cứ ban hành văn bản
Tại Biên bản làm việc ngày 29/5/2020, Chủ tịch UBND xã B đã xác nhận: “Hiện nay, trên địa bàn xã, hộ gia đình ông Hoàng Minh C vẫn còn đất ở sau khi thu hồi đất để xây dựng cụm CN Tử Đà”.
Tại Biên bản làm việc ngày 12/12/2019, ông Hoàng Minh C có ý kiến: “Gia đình ông mua lại của bà T2 vào năm 2014, tại thửa đất số 139, tờ bản đồ 30, đứng tên vợ ông. Gia đình tôi bị thu hồi diện tích đất ở tại thửa đất trên. Gia đình đề nghị tái định cư cho gia đình. Từ trước đến nay ông ở cùng bố mẹ và đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất”; ông Đào Hữu Q (công chức địa chính) có ý kiến: “hộ ông C đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 423799 ngày 15/12/1999 tại vị trí ông đang ở”.
Văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P về việc đề nghị tái định cư của các hộ Nguyễn Văn H2, Hoàng Minh C, khu L, xã B có nêu: “ - Đối với hộ ông Hoàng Minh C: Theo xác nhận của UBND xã B, hộ ông Hoàng Minh C hiện tại còn đất ở khác tại khu L, xã B. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 79, Luật Đất đai năm 2013, hộ ông Hoàng Minh C được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất ở bị thu hồi.”
“Điều 79. Bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất ở
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.”...
Ngày 24/6/2020, UBND huyện P đã ban hành Quyết định số 1052/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B - Duyệt lần 10 và Quyết định số 1053/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B (Duyệt lần 10). Trong đó ông Hoàng Minh C bị thu hồi đất và được bồi thường, cụ thể như sau:
Về thu hồi đất: Ông Hoàng Minh C bị thu hồi diện tích 92m² thuộc tờ bản đồ số 5 (cũ là số 30), thửa đất số 139 (đo cũ), loại đất: ONT (sau đây gọi là thửa đất số 139) với tổng số tiền là 112.547.287 đồng (bồi thường về đất 23.000.000 đồng, bồi thường tài sản trên đất 87.707.287 đồng, thưởng giải phóng mặt bằng nhanh 1.840.000 đồng).
Ngày 29/6/2020, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã phối hợp với chủ đầu tư dự án, UBND xã B tổ chức chi trả tiền cho các hộ dân theo phương án bồi thường đã được phê duyệt tại Quyết định số 1053/QĐ- UBND; ông Hoàng Minh C (ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc C1) đã nhận đủ số tiền bồi thường, hỗ trợ là 112.547.290 đồng.
Sau khi hộ ông Hoàng Minh C và các hộ dân khác đã nhận đủ tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Quyết định số 1053/QĐ-UBND, chủ đầu tư đã thực hiện thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất. Ngày 07/8/2020, UBND tỉnh P ban hành Quyết định số 1806/QĐ-UBND cho phép chuyển mục đích, giao đất đối với diện tích đất UBND huyện P đã thu hồi tại Quyết định số 1052/QĐ-UBND. Từ đó đến nay Công ty TNHH V đã thi công và đưa vào khai thác, sử dụng đối với diện tích được giao theo quy định.
Như vậy, việc Chủ tịch UBND huyện P ban hành Văn bản số 781/UBND-HĐBT là có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH V trình bày:
Công ty TNHH V được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 2600688462 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh P cấp đăng ký lần đầu ngày 16/06/20210, đăng ký thay đổi lần thứ 4 ngày 14/05/2021.
Ngành nghề kinh doanh: Đầu tư kinh doanh hạ tầng sản xuất công nghiệp và dịch vụ Cụm C- A.
1.Căn cứ vào quyết định số 1052/QĐ-UBND ngày 24/06/2020 và quyết định 1053/QĐ-UBND ngày 24/06/2024 của Ủy ban nhân dân huyện P về thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ( duyệt lần 10). Công ty TNHH V đã thực hiện chi trả số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quyết định cho hộ ông Hoàng Minh C với tổng số tiền bồi thường là 112.547.287 VNĐ( Bằng chữ: Một trăm mười hai triệu, năm trăm bốn mươi bảy nghìn, hai trăm tám mươi bảy đồng), trong đó bồi thường về đất là 23.000.000 VNĐ, bồi thường vật
kiến trúc là 87.707.287 VNĐ, thưởng giải phóng mặt bằng nhanh là 1.840.000 VNĐ. Số tiền này đã được ông Nguyễn Ngọc C1 (Người được ủy quyền theo giấy ủy quyền ngày 29/06/2020) nhận đủ và ký chứng từ nhận tiền ngày 29/06/2020.
Sau đó theo đề nghị của ông Nguyễn Ngọc C1 muốn gửi lại đơn vị chi trả giữ hộ số tiền bồi thường về đất là 23.000.000VNĐ( Hai mươi ba triệu đồng) và công ty TNHH V đã giữ hộ số tiền này cho ông C1.
2. Về nội dung đất tái định cư: Công ty TNHH V chỉ thực hiện làm hạ tầng. Sau khi làm hạ tầng theo quy hoạch được phê duyệt xong( tổng số 26 ô), công ty đã bàn giao lại phần hạ tầng quỹ đất tái định cư đó cho Ủy ban nhân dân huyện P và UBND xã B quản lý để cấp đất tái định cư. Việc cấp đất tái định cư thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước theo thẩm quyền.
Khi ông C1 là người gửi có yêu cầu nhận lại số tiền đã gửi giữ hộ thì công ty TNHH V sẽ trả lại đúng số tiền đã gửi.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày:
Nhất trí với trình bày của ông C và yêu cầu khởi kiện của ông C, đề nghị được hỗ trợ tái định cư bằng đất ở.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã B trình bày:
Ngày 24/6/2020, UBND huyện P đã ban hành Quyết định số 1052/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B.
Về thu hồi đất:
Thửa đất số 139; tờ bản đồ số 30; diện tích thu hồi 92,0 m², đất ở tại nông thôn; địa chỉ thửa đất tại: Khu L, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Toàn bộ quá trình thu hồi đất của ông Hoàng Minh C được Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và T3 định cư UBND huyện P thực hiện.
Đối với khu đất Tái định cư cho các hộ dân:
Vị trí quy hoạch tại: Khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ tại Quyết định 1969/QĐ-UBND ngày 04/08/2011, gồm 25 ô; đến nay đã giao cho hộ dân 16 ô, còn lại 09 ô đất chưa giao (nội dung này, UBND xã B đã có Báo cáo số 252/BC-UBND ngày 24/12/2024 kèm theo)
Nay, ông Hoàng Minh C khởi kiện các quyền lợi liên quan đến việc thu hồi đất, quan điểm đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa có quan điểm: Về tố tụng việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quy định của luật tố tụng hành chính.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX:
Huỷ một phần quyết định số: 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P liên quan đến bồi thường giá trị đất là 23.000.000 đồng đối với ông Hoàng Minh C.
Buộc UBND huyện P ban hành quyết định tái định cư cho hộ ông Hoàng Minh C 01 thửa đất tại vị trí: Khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Hủy văn bản số: 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P về việc đề nghị tái định cư của hộ ông Hoàng Minh C khu L, xã B.
Đình chỉ yêu cầu của ông Hoàng Minh C đề nghị huỷ Văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P về việc trả lời nội dung kiến nghị của ông Hoàng Minh C
Công ty TNHH V có trách nhiệm nộp lại số tiền 23.000.000đồng (hai mươi ba triệu đồng) cho UBND huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí hành chính sơ thẩm: UBND huyện P phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hành chính sơ thẩm.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của C được chấp nhận, nên UBND huyện P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã đảm bảo đầy đủ các trình tự, thủ tục tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: UBND huyện P, UBND xã B, Công ty TNHH V, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên theo quy định của pháp luật.
[2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Ông C khởi kiện Hủy một phần Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P, hủy văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P, hủy văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P. Xét thấy, các Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P và Văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Đối với yêu cầu của ông C đề nghị: Hủy văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P về việc trả lời nội dung kiến nghị của ông Hoàng Minh C, xã B, thành phố V: Xét thấy, văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P là văn bản trả lời đơn kiến nghị của ông C, không phải là quyết định hành chính nên không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.Tuy nhiên, khi giải quyết vụ án hành chính HĐXX vẫn xem xét văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P và đưa Chủ tịch UBND huyện P tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P trả lời ông C có nội dung liên quan đến Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P và Văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P.
[3].Về thời hiệu khởi kiện: Văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P trả lời ông C nội dung kiến nghị của ông C có liên quan đến nội dung của Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P và Văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P. Như vậy, thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 11/6/2024. Ngày
09/7/2024 ông C khởi kiện vụ án hành chính, căn cứ Điều 116 Luật tố tụng hành chính vụ án còn thời hiệu khởi kiện.
[3] Về nội dung: Đối với yêu cầu của ông C khởi kiện đề nghị hủy một phần Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P liên quan đến phương án hỗ trợ, bồi thường đối với ông Hoàng Minh C; Cụ thể, ông C yêu cầu huỷ bỏ phần nội dung bồi thường giá trị đất là 23.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án xem xét buộc UBND huyện P thực hiện nhiệm vụ, công vụ xây dựng và ban hành quyết định hỗ trợ tái định cư (bằng đất) đối với ông.
Hủy văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P về việc đề nghị tái định cư của hộ Hoàng Minh C khu L, xã B.
Hội đồng xét xử đánh giá tính pháp lý của 02 quyết định hành chính ông C đề nghị hủy nhận thấy:
Về thẩm quyền ban hành:
Thẩm quyền ban hành Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P và Văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P.
Tại điểm a Khoản 2 Điều 66 Luật đất đai 2013 quy định về Thẩm quyền thu hồi đất:
“2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;"...
Tại điểm a Khoản 3 Điều 69 Luật đất đai quy định:
“3. Việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:
Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày;"...
“Điều 20. Xử lý đơn kiến nghị, phản ánh
1. Đơn kiến nghị, phản ánh về những nội dung thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì người xử lý đơn báo cáo, đề xuất người đứng đầu giải quyết, trả lời theo quy định của pháp luật.”...
Về trình tự, thủ tục ban hành:
Ngày 04/5/2017 Hội đồng bồi thường ban hành Thông báo số 55/TB-HĐBT về việc triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, kế hoạch kiểm đếm đất đai và tài sản trên đất thực hiện dự án.
Ngày 25/11/2019, Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện P đã tiến hành kiểm đếm đất đai và tài sản trên đất của hộ ông Hoàng Minh C.
Sau khi lập phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, ngày 25/5/2020, Hội đồng Bồi thường đã công khai dự toán chi tiết. Trong thời gian công khai, ông Hoàng Minh C, khu L, xã B đề nghị được cấp đất tái định cư, không nhận tiền đền bù đất ở.
Ngày 29/5/2020, Hội đồng Bồi thường, HT&TĐC huyện đã tổ chức hội nghị để để giải quyết nội dung đề nghị của Hoàng Minh C và ông Nguyễn Văn H2. Tại hội nghị, Chủ tịch UBND xã B đã xác nhận: “Hiện nay, trên địa bàn xã, hộ gia đình ông Hoàng Minh C vẫn còn đất ở sau khi thu hồi đất để xây dựng cụm CN Tử Đà".
Ngày 17/6/2020, UBND huyện đã ban hành Văn bản số 765/UBND-TNMT về việc đề nghị tái định cư của các hộ Nguyễn Văn H2, Hoàng Minh C, khu L, xã B. Nội dung Văn bản có nêu:
“Đối với hộ ông Hoàng Minh C: Theo xác nhận của UBND xã B, hộ ông Hoàng Minh C hiện tại còn đất ở khác tại khu L, xã B. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 79, Luật Đất đai năm 2013, hộ ông Hoàng Minh C được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất ở bị thu hồi." ...
Ngày 24/6/2020, UBND huyện P đã ban hành Quyết định số 1052/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B - Duyệt lần 10 và Quyết định số 1053/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B (Duyệt lần 10).
Như vậy, việc UBND huyện P ban hành Văn bản số 765/UBND- TNMT và Quyết định số 1053/QĐ-UBND là đúng trình tự, thủ tục của pháp luật.
Về căn cứ pháp luật ban hành:
Năm 2016, ông C có mua lại một phần thửa đất số 139, tờ bản đồ số 30 tại địa chỉ: Khu G, xã T (nay là xã B), huyện P, tỉnh Phú Thọ, diện tích 92 m² có địa chỉ: Khu G, xã T (nay là xã B), huyện P, tỉnh Phú Thọ. Phần diện tích 92 m² của ông C bao gồm các công trình nhà ở, tường rào, sân, giếng,...
Thời điểm năm 2018, khi Dự án Cụm C - An Đạo bắt đầu được triển khai, thửa đất số 139 của ông thuộc diện bị thu hồi để thực hiện dự án.
Ngày 24/06/2020, UBND huyện P đã ban hành Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/06/2020 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tiến hành dự án: Xây dựng cụm C - A, tại xã B (Duyệt lần 10). Theo như Quyết định số 1053/QĐ-UBND thì gia đình ông được bồi thường về đất, công trình trên đất, cây cối hoa màu và hỗ trợ khác với tổng số tiền là: 112.547.297 VNĐ (Một trăm mười hai triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm tám mươi bảy Việt Nam đồng). Trong đó, số tiền bồi thường cho toàn bộ diện tích đất ở mà gia đình ông C bị thu hồi chỉ là 23.000.000 VNĐ (hai mươi ba triệu đồng). Phía ông C cho rằng trường hợp của gia đình ông khi thu hồi đất, gia đình ông đủ điều kiện được tái định cư. Do vậy, ông không đồng ý bồi thường đất bằng tiền, khoản tiền bồi thường về đất trên vẫn do Công ty TNHH V quản lý. Về phía UBND huyện P cho rằng gia đình ông C bị thu hồi đất, thuộc trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền không thuộc tái định cư theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 79 Luật đất đai 2013 quy định Bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất ở:
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.”...
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Thửa đất gia đình ông C mua là nhằm mục đích để xây dựng nhà, làm nơi ở cho vợ chồng người con trai của ông C. Cả gia đình ông C đã phải vất vả lao
động, tích góp nhiều năm mới có được. Hiện nay, gia đình con trai của ông Cầu là anh Hoàng Minh C2 (sinh năm 1982) có bốn nhân khẩu đang phải sống trong căn nhà dựng tạm trên đất nông nghiệp. Điều 74 Luật đất đai 2013 quy định:
“Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất:
1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.”
Điểm b khoản 1 Điều 79 Luật đất đai 2013 quy định:
“...Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.”
Tại thời điểm thu hồi đất, UBND huyện P vẫn còn quỹ đất là 09 ô đất chưa tái định cư tại vị trí: Khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay UBND huyện P xác định quỹ đất tái định cư vẫn còn 09 ô chưa quyết định tái định cư cho bất kỳ hộ dân nào thuộc trường hợp bị thu hồi đất của dự án. Trong văn bản số 781/UBND - HĐBT ngày 11/6/2024 Chủ tịch UBND huyện P đã trả lời ông C với nội dung: Trường hợp ông C chưa có nhà ở, đất ở trên địa bàn, thực sự có nhu cầu cần thiết về đất ở, đủ điều kiện xem xét giao đất ở, địa phương có quỹ đất thì ông làm đơn đề nghị gửi UBND xã B để được tổng hợp xem xét theo quy định. Căn cứ Điều 74; điểm b khoản 1 Điều 79 Luật đất đai 2013 hộ ông C thuộc trường hợp được tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở. Do vậy, có căn cứ huỷ một phần Quyết định số 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P liên quan đến phương án hỗ trợ, bồi thường giá trị đất là 23.000.000 đồng đối với ông Hoàng Minh C. Buộc UBND huyện P ban hành quyết định tái định cư cho ông Hoàng Minh C và bà Nguyễn Thị H 01 thửa đất tại vị trí: Khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Đồng thời có căn cứ Hủy văn bản số 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P về việc đề nghị tái định cư của hộ Hoàng Minh C: khu L, xã B.
Đối với số tiền bồi thường về đất 23.000.000đồng cho hộ ông C hiện nay Công ty TNHH V đang giữ, Công ty TNHH V có trách nhiệm nộp lại cho UBND huyện P, tỉnh Phú Thọ.
[4] Về án phí hành chính sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của ông C được chấp nhận nên UBND huyện P phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị HĐ xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 32, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 206, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính; Điều 74; điểm b khoản 1 Điều 79 Luật đất đai; khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Minh C:
1.1. Huỷ một phần Quyết định số: 1053/QĐ-UBND ngày 24/6/2020 của UBND huyện P liên quan đến bồi thường giá trị đất là 23.000.000 đồng đối với hộ ông Hoàng Minh C.
1.2. Buộc UBND huyện P ban hành quyết định tái định cư cho ông Hoàng Minh C và bà Nguyễn Thị H 01 thửa đất tại vị trí: Khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
1.3. Hủy văn bản số: 765/UBND-TNMT ngày 17/6/2020 của UBND huyện P về việc đề nghị tái định cư hộ ông Hoàng Minh C: khu L, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
1.4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Minh C đề nghị huỷ Văn bản số 781/UBND-HĐBT ngày 11/6/2024 của Chủ tịch UBND huyện P về việc trả lời nội dung kiến nghị của ông Hoàng Minh C.
[2]. Công ty TNHH V có trách nhiệm nộp lại số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng) cho UBND huyện P, tỉnh Phú Thọ.
[3]. Về án phí hành chính sơ thẩm: UBND huyện P phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 03/2025/HC-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về khiếu kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 03/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Minh C - UBND huyện P, tỉnh Phú T - khiếu kiện quyết định hành chinh
