|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 03/2025/HC-PT Ngày: 23 – 6 – 2025 “V/v: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Huyến
Ông Nguyễn Như Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hy Len - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Ông Nguyễn Sơn Thành - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 02/2025/TLPT-HC ngày 02 tháng 6 năm 2025 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 04/2024/HC-ST ngày 06 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Công ty TNHH Đ;
Địa chỉ: Số C L, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L. Chức vụ Giám đốc (vắng mặt).
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Duy T, sinh năm 1977. Chức vụ: Phó Giám đốc (theo văn bản ủy quyền ngày 20/6/2025, có mặt).
Địa chỉ: Số A Ấp D, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Trần Thanh T1- Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).
Người bị kiện: Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là Đội thuế L1 huyện thành phố R - K).
Địa chỉ: Số L - 1 Đường C, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn R. Chức vụ: Đội trưởng Đội thuế Liên huyện thành phố R (có mặt).
Người kháng cáo: Công ty TNHH Đầu tư Hoàng Huy Phát
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: ông Lê Duy T (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người đại diện hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ trình bày:
Vào ngày 15/12/2023, Chi cục Thuế thành phố R (nay là Đội Thuế Liên huyện thành phố R) ban hành Quyết định số 2112/QĐ-CCT, theo đó thực hiện kiểm tra thuế giai đoạn 2019 – 2022 tại Công ty TNHH Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ). Sau khi kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã lập Biên bản kiểm tra ghi ngày 10/01/2024 và các Phụ lục Biên bản kiểm tra ghi ngày 06/5/2024 và ngày 16/9/2024. Tại các biên bản trên, Đoàn kiểm tra xác định: Công ty Đ có tổng doanh thu phát sinh từ năm 2020 đến năm 2022 là 148.238.769.713 đồng, trong đó Đoàn kiểm tra với lập luận là một phần hàng hóa không được nhập kho tại Rạch G nên tách doanh thu phát sinh thành hai nhóm: Doanh thu phát sinh tại địa bàn Rạch G: 53.986.516.609 đồng và doanh thu phát sinh tại địa bàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: 94.252.253.104 đồng.
Với việc tách doanh thu phát sinh như trên, Đoàn kiểm tra cho rằng Công ty Đ không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (sau đây viết tắt là thuế TNDN) đối với khoản doanh thu mà Đoàn kiểm tra cho là phát sinh tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 23/9/2024, căn cứ vào kiến nghị của Đoàn kiểm tra, Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R đã ký ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 1738/QĐ-XPHC, xác định Công ty Đ đã sai phạm về thuế và quyết định: Truy thu thuế TNDN: 6.520.722.159 đồng; T2 tiền chậm nộp tiền thuế: 1.121.322.905 đồng; Phạt tiền do kê khai sai số thuế phải nộp: 1.304.144.432 đồng.
Việc Đoàn kiểm tra của Chi cục Thuế thành phố R (sau đây gọi tắt là Chi cục T) tự áp đặt và tách tổng doanh thu phát sinh thành hai nhóm như trên mà không dựa trên cơ sở pháp lý và bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật, rồi cho rằng Công ty Đ sai phạm dẫn đến truy thu và phạt Công ty là chưa phù hợp và trái quy định của pháp luật.
Công ty Đ được thành lập và có trụ sở tại thành phố R, thuộc địa bàn được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điểm b khoản 1 Điều 16 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (sau đây viết tắt là Nghị định số 118/2015/NĐ-CP); thuộc đối tượng được hưởng thuế suất TNDN ưu đãi theo điểm b khoản 3 Điều 15 Nghị Định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (sau đây viết tắt là Nghị định số 218/2013/NĐ-CP).
Cụ thể, khoản 3 Điều 15 Nghị Định 218/2013/NĐ-CP quy định về thuế suất ưu đãi:
“3. Thuế suất 20% trong thời gian mười năm áp dụng đối với:
a) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới: Sản xuất thép cao cấp; sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; sản xuất thiết bị tưới tiêu; sản xuất, tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản; phát triển ngành nghề truyền thống.
Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế định tại các Điểm a, b Khoản này kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 áp dụng thuế suất 17%."
Đồng thời, Công ty Đ thuộc đối tượng được hưởng thuế suất TNDN ưu đãi theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị Định 218/2013/NĐ-CP về miễn thuế, giảm thuế:
“3. Miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định này và thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp (trừ khu công nghiệp nằm trên địa bàn có điều kiện – kinh tế xã hội thuận lợi).”
Công ty Đ thuộc đối tượng được hưởng thuế suất TNDN ưu đãi đối với khoản thu nhập phát sinh tại địa bàn ưu đãi theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ T4 hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị định số 12/2015/ND-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ T4 (sau đây viết tắt là Thông tư số 96/2015/TT-BTC):
“4. Doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư xác định ưu đãi như sau: b) Doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện ưu đãi về địa bàn (bao gồm cả khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao) thì thu nhập được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là toàn bộ thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn ưu đãi trừ các khoản thu nhập nêu tại điểm a, b, c khoản 1 Điều này.”
Công ty Đ là đối tượng hoạt động kinh doanh thương mại, thuộc diện đáp ứng điều kiện ưu đãi quy định tại kiến nghị số 17 Công văn số 3720/TCT-CS ngày 01/10/2018 của T5 về việc trao đổi về chính sách thuế:
“Nếu doanh nghiệp có dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn được ưu đãi thuế trong quá trình hoạt động có phát sinh hoạt động thương mại nhưng không gắn với dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi thì thu nhập từ hoạt động thương mại này không được ưu đãi thuế TNDN. Như vậy, việc áp dụng ưu đãi thuế TNDN đối với hoạt động thương mại được xem xét trên cơ sở thực tế đáp ứng các điều kiện ưu đãi của dự án đầu tư, không xét đến việc người mua hàng hóa có thuộc địa bàn hay lĩnh vực ưu đãi hay không..."
Hiện Thông tư số 96/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành quy định chi tiết về điều kiện địa bàn ưu đãi nhưng Thông tư không có quy định chi tiết về điều kiện địa bàn ưu đãi đối với hoạt động kinh doanh thương mại (là ngành nghề hoạt động chính của Công ty Đ).
Tại giai đoạn kiểm tra thuế (2019 – 2022), Công ty Đ chỉ đăng ký kinh doanh và hoạt động tại hai địa điểm là:: (i) Trụ sở chính đặt tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cấp lần đầu ngày 30/8/2019 và đăng ký thay đổi lần 3 ngày 25/5/2022; (ii) Văn phòng đại diện đặt tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cấp lần đầu ngày 27/7/2020 và đăng ký thay đổi lần 2 ngày 17/2/2023. Ngoài ra, Công ty không có chi nhánh hoặc kho hàng nào tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì Văn phòng đại diện chỉ có chức năng của một văn phòng liên lạc, thực hiện các hoạt động nghiên cứu, cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với thị trường và đối tác mới. Do vậy, Văn phòng đại diện của Công ty chỉ thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại và nơi nhận tạm hàng hoá từ các nhà cung cấp, còn toàn bộ hoạt động kinh doanh, bán hàng đều phát sinh tại trụ sở chính của Công ty ở thành phố R. Toàn bộ doanh thu bán hàng đều được ghi nhận và xuất hóa đơn, kê khai, nộp thuế tại trụ sở chính ở Kiên Giang. Tất cả các hợp đồng mua vào, nhập khẩu, bán ra đều thực hiện bởi Công ty Đ đặt tại trụ sở chính ở Kiên Giang.
Giai đoạn năm 2019 – 2022 là giai đoạn dịch Covid – 19 đang bùng nổ dữ dội và để vượt qua giai đoạn này thì việc phát sinh tập kết, luân chuyển hàng hóa một cách linh động giữa Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Kiên Giang hoặc luân chuyển giao nhận hàng tay ba giữa Hoàng Huy P, đại lý bán hàng và người mua cuối (các bệnh viện tại Kiên Giang) là việc làm linh động và gần như bắt buộc.
Do đó, Công ty Đ khởi kiện yêu cầu huỷ toàn bộ Quyết định số 1738/QĐ-XPHC ngày 23/9/2024 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R, tỉnh Kiên Giang về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Đ.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH Đ – Luật sư Trần Thanh T1 trình bày:
Doanh nghiệp “không khẳng định” Chi cục Thuế ban hành Quyết định số 1738/QĐ-XPHC sai, hay phía doanh nghiệp đã kê khai thuế sai. Tuy nhiên, hiện nay Thông tư số 96/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế TNDN tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP không quy định rõ thế nào là doanh thu phát sinh trên địa bàn được ưu đãi và doanh thu phát sinh trên địa bàn không được ưu đãi về thuế. Đồng thời, cũng không có văn bản hướng dẫn chi tiết việc này, gây sự lúng túng cho doanh nghiệp khi kê khai thuế và dẫn đến việc Chi cục T xác định doanh nghiệp đã kê khai thuế sai.
Đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá và xem xét áp dụng kiến nghị số 17 Công văn 3720/TCT-CS ngày 01/10/2018 của Tổng cục T5 để xem xét áp dụng tính mức thuế suất ưu đãi như Công ty Đ đã kê khai, đồng thời đề nghị Chi cục T xem xét thu hồi lại Quyết định số 1738/QĐ-XPHC tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, vì số tiền truy thu thuế quá lớn gây ảnh hưởng, thiệt hại nặng nề cho doanh nghiệp, có thể dẫn đến việc phá sản doanh nghiệp.
Người bị kiện Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là Đội trưởng Đội Thuế Liên huyện thành phố R) do người đại diện hợp pháp trình bày:
Công ty TNHH Đ có dự án đầu tư mới tại địa bàn thành phố R, tỉnh Kiên Giang thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo Phụ lục II Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư ban hành kèm theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 16 của Nghị định số 118/2015/NĐ-CP; căn cứ khoản 3 Điều 15, khoản 3 Điều 16 Nghị định 218/2013/NĐ-CP thì Công ty Đ thuộc đối tượng được hưởng thuế suất TNDN ưu đãi đối với khoản thu nhập phát sinh tại địa bàn ưu đãi.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 10 Thông tư số 96/2015/TT-BTC quy định:
“b) Doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện ưu đãi về địa bàn (bao gồm cả khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao) thì thu nhập được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là toàn bộ thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn ưu đãi trừ các khoản thu nhập nêu tại điểm a, b, c khoản 1 Điều này.
Doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do đáp ứng điều kiện về địa bàn có phát sinh thu nhập ngoài địa bàn thực hiện dự án đầu tư thì:
(i) Nếu khoản thu nhập này phát sinh tại địa bàn không thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư thì không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện địa bàn.
(ii) Nếu khoản thu nhập này phát sinh tại địa bàn thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư thì được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện địa bàn. Việc xác định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập này được xác định theo từng địa bàn căn cứ theo thời gian và mức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp tại địa bàn thực hiện dự án đầu tư.”
Từ các quy định nêu trên, Công ty Đ có khoản thu nhập đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế TNDN theo Điều 15, Điều 16 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP. Đoàn kiểm tra đã ghi nhận tại biên bản kiểm tra ngày 10/01/2024.
Căn cứ tnội dung của Biên bản kiểm tra thuế, phụ lục biên bản kiểm tra thuế của Chi cục T với Công ty Đ và đối chiếu các quy định của pháp luật, ngày 23/9/2024 Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R ban hành Quyết định số 1738/2024/QĐ-XPHC ngày 23/9/2024 xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Đ là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty.
Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2024/HC-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang quyết định:
Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ về việc: Khởi kiện yêu cầu hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, Công ty Đ có đơn kháng cáo Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2024/HC-ST với yêu cầu: Sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm số 04/2024/HC-ST, tuyên: Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 1738/QĐ-XPHC ngày 23/9/2024 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R đối với Công ty TNHH Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện cho rằng: Mọi hoạt động kinh doanh thương mại của Công ty Đ: hợp đồng mua bán, doanh thu, xuất hóa đơn, kê khai thuế đều được thực hiện tại địa bàn thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Văn phòng đại diện của Công ty tại Thành phố H chỉ thực hiện các công việc xúc tiến thương mại. Chi cục T3 cho rằng Công ty Đ sai phạm về thuế do hàng hóa không được nhập kho tại Rạch G (địa bàn ưu đãi) trước khi xuất bán, trong khi các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay không có hướng dẫn cụ thể thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn ưu đãi thì hàng hóa phải nhập kho tại địa bàn ưu đãi.
Đại diện hợp pháp của Công ty Đ cho rằng: Hàng tháng, bộ phận kế toán của Công ty đều thực hiện việc kê khai nộp thuế với cơ quan thuế, nhưng không được cơ quan thuế cảnh báo hoặc chỉ ra sai phạm về thuế (nếu có) dẫn đến Công ty Đ hiểu nhầm, hiểu sai về kê khai sai thuế dẫn đến vi phạm hành chính. Nếu Chi cục Thuế xác định doanh thu của Công ty P1 ngoài địa bàn được hưởng ưu đãi thuế chỉ vì hàng hóa không nhập kho tại Rạch G thì việc thành lập công ty Đ tại địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn đem lại lợi ích kinh tế, thu hút đầu tư cho tỉnh nhà không còn ý nghĩa, mặt khác nếu xác định thu nhập phát sinh của Công ty Đ tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thì chuyển về cơ quan thuế Thành phố H để Công ty thực hiện nghĩa vụ nộp thuế mà không cần thiết phải thành lập doanh nghiệp tại tỉnh xa dẫn đến phát sinh thêm nhiều chi phí. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1738/QĐ-XPHC ngày 23/9/2024 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R đối với Công ty Đ.
Người bị kiện cho rằng: Việc xác định thu nhập phát sinh tại địa bàn không thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư căn cứ vào hướng dẫn tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 96/2015/TT-BTC và theo giải thích tại các văn bản hướng dẫn về chính sách thuế của cơ quan thuế đối với Công ty Đ. Thực tế tại giai đoạn kiểm tra thuế, Công ty Đ có thuê 03 kho hàng ngoài địa bàn thành phố R được tính vào chi phí sản xuất của Công ty. Do đó, việc Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1738/QĐ-XPHC ngày 23/9/2024 đối với Công ty Đ là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng các quyền cũng như nghĩa vụ được quy định trong của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính bác kháng cáo của người khởi kiện và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH Đ (người khởi kiện) đảm bảo về hình thức, về thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại Điều 205 và Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính.
[2] Xét kháng cáo của Công ty TNHH Đ:
Căn cứ Quyết định số 2112/QĐ-CCT ngày 15/12/2023 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R về việc kiểm tra thuế tại Công ty TNHH Đ (mã số thuế: 1702172770), Chi cục Thuế thành phố R đã tiến hành kiểm tra thuế giai đoạn 2019-2022 đối với Công ty. Sau khi kiểm tra, Đoàn kiểm tra của Chi cục T đã lập biên bản kiểm tra ngày 10/01/2024 và các phụ lục biên bản kiểm tra ngày 06/5/2024 và ngày 16/9/2024.
Công ty TNHH Đ được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu năm 2019 và các lần thay đổi có trụ sở chính trên địa bàn thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Đây là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thuộc địa bàn được ưu đãi theo quy định tại Phụ lục II danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư ban hành kèm theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Căn cứ khoản 4, khoản 6 Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 Bộ T4 hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Công ty Đ có dự án đầu tư mới tại địa bàn thành phố R được áp dụng thuế suất thuế TNDN ưu đãi là 17% trong thời hạn 10 năm đối với toàn bộ thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh trên địa bàn ưu đãi. Trường hợp Công ty có phát sinh thu nhập ngoài địa bàn ưu đãi thì phải áp dụng thuế suất thuế TNDN là 20%. Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi được tính liên tục từ năm đầu tiên Công ty Đ có doanh thu từ dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế.
Qua kết quả kiểm tra, từ năm 2020 đến năm 2022 Công ty Đ có phát sinh doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ tại địa bàn Rạch G (thuộc địa bàn được hưởng ưu đãi thuế TNDN) và địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (không thuộc địa bàn được hưởng ưu đãi thuế TNDN), nhưng Công ty không xác định thuế TNDN phải nộp từ khoản thu nhập tại địa bàn không được hưởng ưu đãi thuế TNDN. Vì vậy, biên bản kiểm tra của Đoàn kiểm tra thuế xác định doanh thu và tính thuế TNDN phải nộp từ khoản thu nhập tại địa bàn không được hưởng ưu đãi thuế TNDN là phù hợp, đúng với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ T4.
Căn cứ vào biên bản kiểm tra ngày 10/01/2024 của Đoàn kiểm tra Chi cục Thuế thành phố R và các phụ lục biên bản kiểm tra ngày 06/5/2024 và ngày 16/9/2024, Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố R đã ký ban hành Quyết định số 1738/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với Công ty Đ là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục được quy định tại khoản 2 Điều 44, Điều 66, 67 và 68 Luật Xử lý vi phạm hành chính; các điều 8, 16 và Điều 32 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Công ty Đ cho rằng kể từ khi đăng ký hoạt động cho đến cuối năm 2022 (giai đoạn kiểm tra thuế), Công ty đã hoạt động dựa trên cơ sở các chính sách và quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật thuế hiện hành. Công ty đã kê khai, nộp thuế một cách đầy đủ và đúng hạn dựa trên số liệu thực tế phát sinh trong quá trình hoạt động tại Công ty, trong đó toàn bộ doanh thu đều phát sinh tại địa bàn được ưu đãi thuế là thành phố R. Công ty không có chi nhánh hoặc kho hàng nào tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giai đoạn năm 2019 - 2022 là giai đoạn dịch Covid 19 đang bùng nổ dữ dội, để vượt qua giai đoạn này thì việc phát sinh tập kết, luân chuyển hàng hóa một cách linh động giữa Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Kiên Giang hoặc luân chuyển giao nhận hàng tay ba giữa Công ty, đại lý bán hàng và người mua cuối (các bệnh viện tại Kiên Giang) là việc làm linh động và gần như bắt buộc.
Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ T4 và theo tinh thần giải đáp tại các công văn liên quan đến chính sách thuế áp dụng đối với Công ty Đ (Công văn số 43/CCT-TTTBTK ngày 05/02/2024 của Chi cục Thuế thành phố R về việc ưu đãi thuế TNDN đối với hoạt động thương mại; Công văn số 320/CTKGI-TTHT ngày 01/3/2024 của Cục Thuế tỉnh K về việc ưu đãi thuế TNDN; Công văn số 1055/CTKGI-TTHT ngày 05/7/2024 của Cục Thuế tỉnh K về việc thuế suất thuế TNDN ưu đãi và Công văn số 3684/TCT-CS ngày 22/8/2024 của Tổng cục T5 về việc trả lời chính sách thuế) thì: Để xác định thu nhập phát sinh tại địa bàn được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì cần căn cứ vào hợp đồng mua bán, phương thức giao nhận hàng hóa, phiếu giao nhận hàng hóa, phiếu nhập xuất kho hàng hóa, chi phí và phương tiện vận chuyển hàng hóa mua vào bán ra, hóa đơn bán hàng... Theo đó, Công ty TNHH Đ cần phải chứng minh hàng hóa được vận chuyển, nhập kho tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang trước khi xuất bán, nhưng qua kết quả kiểm tra và qua các tài liệu, chứng từ do Công ty Đ cung cấp thì Công ty không chứng minh được hàng hoá đã được vận chuyển, tập kết về kho bãi ở thành phố R. Do đó, các khoản doanh thu phát sinh ngoài địa bàn thành phố R và xuất bán chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác ngoài địa bàn thành phố R được xác định là doanh thu phát sinh ngoài địa bàn được hưởng ưu đãi thuế TNDN và phải chịu thuế TNDN theo quy định.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các quy định nêu trên để bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ về yêu cầu hủy Quyết định số 1738/QĐ-XPHC ngày 23/9/2024 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện; chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2024/HC-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
[4] Do yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Đ không được chấp nhận nên căn cứ quy định tại Điều 32 và Điều 34 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, Công ty TNHH Đ phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm.
Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ các điều 44, Điều 66, 67 và 68 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn;
Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;
Căn cứ Nghị định 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế;
Căn cứ Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ T4 hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ T4;
Căn cứ Điều 32, và Điều 34 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
-
Bác kháng cáo của Công ty TNHH Đ, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2024/HC-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ về việc: Khởi kiện yêu cầu hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 1738/QĐ-XPHC ngày 23/9/2024 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố R, tỉnh Kiên Giang đối với Công ty TNHH Đ.
-
Về án phí:
Công ty TNHH Đ phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 đồng.
Công ty TNHH Đ được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007571 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008151 ngày 20/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang. Như vậy, Công ty TNHH Đ đã nộp xong.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Mai |
Bản án số 03/2025/HC-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế
- Số bản án: 03/2025/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
