|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
|
Bản án số: 03/2025/DSST Ngày: 13/3/2025 V/v: “Tranh chấp HĐ tín dụng” |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kình và ông Nguyễn Văn Hoà.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Cán bộ TAND quận Hoàn Kiếm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 209/2024/TLST- DS ngày 5 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST- DS ngày 5 tháng 2 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2025/QĐST-HPT ngày 26 tháng 2 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T3 (S); Địa chỉ: Tòa nhà G, số E L, phường L, quận H, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Olena K - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đinh Minh T - Giám đốc trung tâm hỗ trợ thanh toán khoản vay – Công ty T3.
Đại diện theo uỷ quyền: Công ty L; Địa chỉ: Số G – C3 khu tập thể Công ty T4, phường T, quận N, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc T1 – Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Thị T2 – nhân viên; (có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1969; Thường trú tại: Số B P, phường P, quận H, Hà Nội; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty T3 (S) đã ký Hợp đồng vay vốn số 112101142562937 ngày 11/1/2021 với bà Trần Thị N, (sinh năm 1969, CCCD số [...] do Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 21/3/2016; địa chỉ: Số B phố P, phường P, quận H, Hà Nội). Theo đó Hợp đồng vay vốn mà bà Trần Thị N đã ký với S, là: Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay giải ngân ngày 11/1/2021, S đã đồng ý cho bà Trần Thị N vay số tiền 54.860.000 đồng (số tiền giải ngân thực tế), thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất: 3%/tháng tương đương lãi suất quy đổi là 36%/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng mới thanh toán được 03 kỳ trả góp, lần thanh toán gần nhất là ngày 17/4/2021, với tổng số tiền đã thanh toán là 7.536.000 đồng, trong đó số tiền nợ gốc đã thanh toán là 2.735.861 đồng và số tiền lãi đã thanh toán là 4.800.139 đồng. Do khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng vay vốn đã ký nên đến ngày 13/9/2022 chuyển thành nợ quá hạn. Phía S đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho bà Trần Thị N thanh toán nhưng bà N cố tình né tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S. Tạm tính đến ngày 21/1/2023 bà Trần Thị N còn nợ SHB Finance các khoản sau: Nợ gốc: 52.124.139 đồng, nợ lãi: 59.464.108 đồng, tổng cộng: 111.588.247 đồng.
Nay S đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu: Buộc bà Trần Thị N phải trả ngay cho S số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 13/3/2025 là 152.010.514 đồng, trong đó nợ gốc: 52.124.139 đồng, nợ lãi quá hạn: 99.886.375 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 13/3/2025 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
* Bị đơn – bà Trần Thị N trình bày:
Tôi đã được Toà án tống đạt thông báo thụ lý vụ án cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ do S giao nộp cho Toà án, các tài liệu chứng cứ do Toà án thu thập cùng nội dung ý kiến trình bày của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn về việc vay nợ, quá trình trả nợ và số tiền còn nợ (nợ gốc, nợ lãi) tính đến thời điểm tranh chấp giữa S và tôi, tôi hoàn toàn nhất trí, xác nhận là đúng, không thắc mắc và có ý kiến gì khác. Đối với khoản tiền nợ gốc còn thiếu của nguyên đơn, tôi nhất trí thanh toán nhưng xin được trả dần hàng tháng với số tiền là 2.000.000 đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản tiền nợ gốc còn thiếu. Đối với số tiền nợ lãi theo yêu cầu của S thì xin được miễn toàn bộ do diều kiện kinh tế khó khăn. Tôi xin được xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tại phiên toà phát biểu ý kiến:
- - Về thời hiệu và thẩm quyền: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thời hiệu và thẩm quyền theo quy định.
- - Thẩm phán lập hồ sơ, xác minh, thu thập chứng cứ, tiến hành giao các văn bản tố tụng và tiến hành trình tự, thủ tục tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng tại phiên tòa đúng trình tự theo quy định của pháp luật.
- - Nguyên đơn, bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đây là lần thứ 2 bị đơn vắng mặt tại phiên toà và xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn.
- - Về việc giải quyết nội dung vụ án: Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của S đối với bà Trần Thị N là có cơ sở, đúng pháp luật nên đề nghị HĐXX chấn nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào hồ sơ vụ án thể hiện: Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay ngày 11/1/2021, Bản điều khoản điều kiện (đính kèm Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay), Phiếu thông tin khách hàng ngày 11/1/2021 bà Trần Thị N đã ký với S, S đã đồng ý cho bà Trần Thị N vay số tiền 54.860.000 đồng (số tiền giải ngân thực tế), thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất: 3%/tháng tương đương lãi suất quy đổi là 36%/năm. Do bà Trần Thị Ngọc vi P nghĩa vụ hợp đồng nên xảy ra tranh chấp. Vì vậy xác định đây là vụ án dân sự về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 điều 26 BLTTDS.
Nguyên đơn - Công ty T3 (S) được thành lập theo Giấy phép số 21/GP-NHNN ngày 25/4/2023 của Ngân hàng N2 và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mã số doanh nghiệp: 0107779290, đăng ký lần đầu: ngày 28/3/2017, đăng ký thay đổi lần thứ 9: ngày 18/1/2024; Nội dung hoạt động theo Điều 4 của Giấy phép: Cho vay; bao gồm cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng. Bị đơn bà Trần Thị N có địa chỉ thường trú là số B P, phường P, quận H, Hà Nội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Hoàn Kiếm.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên toà nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
* Về nội dung:
Xét tính hợp pháp của hợp đồng: Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay ngày 11/1/2021, Bản điều khoản điều kiện đính kèm được các bên xác lập tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 4 BLDS. Về hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại điều 119 BLDS. Vì vậy Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay ngày 11/1/2021 xác định là hợp pháp và có hiệu lực theo quy định tại Điều 117, 118 của BLDS năm 2015 kể từ thời điểm hợp đồng được giao kết, là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 401 của BLDS.
Xét quá trình thực hiện hợp đồng của các bên: Nguyên đơn – SHB Finance đã thực hiện đúng hợp đồng, giải ngân đầy đủ số tiền cho vay là 54.860.000 đồng cho bà Trần Thị Ngọc . Bà Trần Thi N1 đã nhận đủ số tiền vay theo thoả thuận. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà N1 đã vi phạm nghĩa vụ, không thực hiện trả nợ gốc, nợ lãi theo đúng lịch trả nợ đã cam kết nên đến ngày 13/9/2022 S đã chuyển dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn nên khách hàng phải chịu lãi chậm trả, lãi quá hạn theo thoả thuận tại Điều 4, Điều 10 của Bản điều khoản điều kiện đính kèm Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay đã ký. Xét cách tính lãi, lãi suất của S tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay ngày 11/1/2021, Bản điều khoản điều kiện (đính kèm) mà các bên đã ký kết là phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của nguyên đơn đề nghị phía bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi chậm trả, nợ lãi quá hạn là hợp pháp.
Do vậy cần buộc các bị đơn có trách nhiệm trả nợ S số tiền nợ gốc, nợ lãi chậm trả, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 13/3/2023 là 152.010.514 đồng, trong đó nợ gốc là : 52.124.139 đồng, nợ lãi là: 99.886.375 đồng (nợ lãi quá hạn là: 27.840.501 đồng và nợ lãi chậm trả là 72.045.874 đồng) theo yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên cần được HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 4, Điều 117, Điều 118 và Điều 405, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 90, 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T3 (S) đối với bà Trần Thị N về việc thanh toán số tiền dư nợ còn thiếu theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay ngày 11/1/2021, và Bản điều khoản điều kiện đính kèm.
Buộc bà Trần Thị N phải có trách nhiệm trả cho Công ty T3 (S) số tiền tạm tính đến ngày 13/3/2025 là 152.010.514 đồng, trong đó nợ gốc là: 52.124.139 đồng, nợ lãi là: 99.886.375 đồng gồm nợ lãi quá hạn là: 27.840.501 đồng và nợ lãi chậm trả là 72.045.874 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị N còn có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 13/3/2025 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Công ty T3 (SHB Finance) theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng và được điều chỉnh phù hợp với lãi suất cho vay của công ty theo từng thời kỳ nhưng không trái quy định của pháp luật, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về án phí: Bà Trần Thị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).
Hoàn trả Công ty T3 (S) số tiền tạm ứng án phí là 2.700.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0069161 ngày 5/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, TP .
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Ngọc |
Bản án số 03/2025/DSST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị N - Công ty T3
