|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
Bản án số: 03/2025/DSST
Ngày: 27/02/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng
Sử dụng thẻ tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Quang Khánh
2. Bà Đào Thị Kim Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên toà: Bà Nguyễn
Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên;
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 162/2023/TLST- DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 04/2025/QĐST-HPT ngày 13/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 13/2025/QĐST-HPT ngày 12/02/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á (A);
Địa chỉ trụ sở: D N, phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P - Chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Thị T – Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ (Theo giấy ủy quyền số 2118/UQ-QLN.23 ngày 13/11/2023)
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Đào Thị L - Chức vụ: Nhân viên xử lý nợ (Theo Giấy ủy quyền số 2749/UQ-CNTL.24 ngày 24/7/2024); Có mặt
Bị đơn: Ông Đỗ Trọng T1, sinh năm 1983; ĐKHKTT: Tập thể A45, tổ E (nay là tổ A), phường N, quận C, thành phố Hà Nội; Hiện cư trú tại: Nhà A tập thể học viện đường H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội; Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/3/2020, ông Đỗ Trọng T1 gửi Ngân hàng TMCP Á (sau đây viết tắt là A) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông T1, A đã đồng ý cấp thẻ Visa Vàng (Thẻ tín dụng quốc tế) số thẻ 4791392550514xxx với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Hiệu lực thẻ từ tháng 03/2023; Lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A – là một phần không tách rời của Giấy đề nghị không cấp thẻ tín dụng. Ngày 09/3/2023 ông Đỗ Trọng T1 đã thực hiện đổi từ thẻ số 479139550514xxx sang thẻ 4791392552330xxx với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 164.285.931 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Đỗ Trọng T1 đã thanh toán cho Ngân hàng với số tiền 156.263.043 đồng. (Thứ tự thanh toán áp dụng theo khoản 9.4 Điều 9 của Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng).
Ông T1 sử dụng thẻ từ tháng 03/2020 đến tháng 10/2023 và có thanh toán cho Ngân hàng nhưng đến kỳ thanh toán ngày 09/11/2023 thì ngưng thanh toán. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 9 của Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng), ngày 10/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 34.008.335 đồng (Trong đó nợ gốc là 29.139.461 đồng; lãi trong hạn là 4.868.874 đồng) sang nợ quá hạn gọi là dư nợ gốc (Điều 10; Điều 11 của Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng). Cụ thể như sau: Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 29.139.461 đồng. Lãi quá hạn là 4.05%/tháng (150% lãi suất trong hạn) - Theo Thông báo số 343/NVQD-TTT.20 ngày 28/9/2020 của Ngân hàng TMCP Á – Trung tâm thẻ. Sau đó ông T1 tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng 999 đồng vào ngày 08/01/2024 nên Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 29.138.462 đồng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đỗ Trọng T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 10 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á), ngày 09/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu tại thời điểm này là 29.138.462 đồng sang dư nợ quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 4.05%/tháng = (lãi suất trong hạn là 2.7%/tháng x 150%) (Điều 10 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á).
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của A, Ngân hàng đề nghị Tòa giải quyết những vấn đề:
- Buộc ông Đỗ Trọng T1 phải thanh toán số tiền nợ tạm tính đến ngày 12/02/2025 là: Nợ gốc: 29.138.462 đồng, nợ lãi trong hạn: 4.868.874 đồng, nợ lãi quá hạn: 17.626.850 đồng. Tổng cộng: 51.634.186 đồng;
- Buộc ông Đỗ Trọng T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 13/02/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng.
Bị đơn – ông Đỗ Trọng T1 vắng mặt tại nơi cư trú. Ngày 13/11/2024 Toà án đã xác minh tại Công an phường N và xác định: “ông Đỗ Trọng T1 có đăng ký HKTT tại địa chỉ: Tập thể A, tổ E (Nay là tổ A) phường N, quận C, thành phố Hà Nội tuy nhiên hiện đã không còn sinh sống tại đây. Hiện ông đang sinh sống ở đâu thì chính quyền địa phương không xác định được vì ông không báo cáo cho chính quyền địa phương”.
Tòa án đã xác định địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của ông Đỗ Trọng T1 và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 06/01/2025, Tòa án nhận được đơn kiến nghị của ông Đỗ Trọng T1 đề ngày 02/01/2025. Ông T1 kiến nghị việc niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án tại nơi cư trú cuối cùng của ông là không đúng quy định đồng thời cũng kiến nghị về việc bảo mật thông tin khách hàng của A. Tại đơn ông đã cung cấp địa chỉ nơi ở hiện tại: nhà A, Tập thể học viện đường H, phường N, quận C, Hà Nội và số điện thoại liên hệ 0981236xxx. Tuy nhiên, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-DS ngày 13/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 13/2025/QĐST-HPT ngày 12/02/2025, đồng thời nhiều lần mời ông lên làm việc nhưng ông vẫn vắng mặt.
Ngày 11/02/2025, ông T1 đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án (Bản scan có chữ ký qua zalo).
Tại phiên tòa:
* Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông Đỗ Trọng T1 phải thanh toán cho A tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/02/2025 là 52.208.972 đồng trong đó:
- - Dư nợ gốc: 29.138.462 đồng
- - Lãi trong hạn: 4.868.874 đồng
- - Lãi quá hạn: 18.201.636 đồng
Buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 28/02/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế.
* Ông Đỗ Trọng T1 vắng mặt tại phiên tòa
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo, quyết định hợp lệ. Tại phiên tòa ông T1 vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á. Buộc ông T1 có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ gốc, lãi quá hạn cho Ngân hàng và chịu lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Xét nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á khởi kiện tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đến Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy là nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú của bị đơn ông Đỗ Trọng T1 tại địa chỉ Tập thể A, tổ E (Nay là tổ A), phường N, quận C, thành phố Hà Nội là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP Á khởi kiện ông Đỗ Trọng T1 yêu cầu Tòa án buộc ông T1 phải trả số tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết giữa các bên. Do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về thủ tục tố tụng:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn ông Đỗ Trọng T1 có địa chỉ tại Tập thể A45, tổ E (Nay là tổ A), phường N, quận C, thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh Công an phường N xác định: ông T1 có đăng ký khẩu thường trú tại địa chỉ trên nhưng hiện không còn sinh sống tại đây, hiện ông sinh sống tại đâu thì chính quyền địa phương không nắm được. Xét đây là trường hợp cố tình dấu địa chỉ và được xác định là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn nên Toà án lập biên bản không tống đạt được và tiến hành niêm yết bản chính các văn bản tố tụng (Thông báo thụ lý số 794/2024/TLST-DS ngày 25/10/2024; Giấy triệu tập ngày 07/11/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 07/11/2024; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ số 49/TB-TA ngày 16/12/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/QĐST-DS ngày 24/12/2024 và Giấy triệu tập ngày 24/12/2024) tại nơi cư trú cuối cùng, tại Trụ sở UBND phường nơi bị đơn cư trú và tại Trụ sở Toà án nhân dân để giải quyết vắng mặt bị đơn là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, không có việc vi phạm như đơn ông T1 kiến nghị. Tuy nhiên, tại Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ có nội dung “thông báo cho Công ty Cổ phần A1”, Nội dung này Toà xác nhận đây là lỗi sai sót do đánh máy của Toà án khi phát hành văn bản cần rút kinh nghiệm. Nội dung trên Toà án xác nhận là “thông báo cho ông Đỗ Trọng T1”.
Tại đơn ông T1 đã cung cấp địa chỉ nơi cư trú hiện tại nhà A, T, phường N, quận C, Hà Nội cùng số điện thoại, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1 về địa chỉ trên. Ngày 11/02/2025 ông T1 có đơn xin hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay ông vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đỗ Trọng T1 là có căn cứ và đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền gốc, lãi. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng G và tài liệu do Tòa án thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
[2]. Về nội dung và hiệu lực của Hợp đồng:
[2.1] Hiệu lực của Hợp đồng: Ngày 06/3/2020, ông T1 có Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng gửi đến Ngân hàng Á. Căn cứ thu nhập của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 479139550514xxx với hạn mức sử dụng là 30.000.000đ, mục đích tiêu dùng cá nhân. Đến ngày 09/3/2023 ông T1 thực hiện đổi từ thẻ 479139550514xxx sang thẻ 4791392552330xxx. Hai bên ký hợp đồng tự nguyện, người ký kết là người có thẩm quyền và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo pháp luật. Do vậy, xác định Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng như cam kết.
[2.2] Về việc thực hiện Hợp đồng: Theo các tài liệu do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 164.285.931 đồng. Tính đến ngày 09/11/2023 khoản nợ bị chuyển sang nợ quá hạn, tổng số tiền ông T1 thanh toán gốc, lãi, phí phạt cho ngân hàng là 156.263.043 đồng; Ngày 08/01/2024 ông T1 tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng 999 đồng; Nợ gốc còn lại là 29.138.462 đồng; Lãi trong hạn là 4.868.874 đồng. Tổng là 34.007.336 đồng.
[3]. Xét cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Số tiền nợ gốc: Như đã nhận định ở trên, số tiền gốc ông T1 còn nợ lại là 29.138.462 đồng. Tại Điều 9 Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng các bên thống nhất: Ưu tiên thanh toán phí lãi trước, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau. Ngày 09/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T1 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 10, 11 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á). Do đó, có cơ sở xác định số tiền nợ gốc ông T1 còn nợ Ngân hàng là 29.138.462 đồng và tiền Lãi trong hạn là 4.868.874 đồng.
[3.2]. Về số tiền lãi: Theo thỏa thuận giữa các bên: Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc là 2.7%/tháng (150% lãi suất trong hạn là 4.05%). Tiền lãi quá hạn kể từ ngày 10/11/2023 đến ngày 08/01/2024 là 59 ngày nên số tiền lãi phải chịu là 2.260.902 đồng; Tiền lãi quá hạn kể từ ngày 09/01/2024 đến ngày 27/02/2025 là 415 ngày nên số tiền lãi phải chịu là 15.902.415₫.
Căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên tại thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng, có cơ sở xác nhận số tiền lãi ông T1 phải trả tính đến ngày 27/02/2025 theo cách tính lãi của Ngân hàng T2 là 18.163.317 đồng.
Từ những nhận định ở trên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Đỗ Trọng T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền tính đến ngày 27/02/2025 là 52.170.653 đồng (Bằng chữ: Năm mươi hai triệu một trăm bảy mươi nghìn sáu trăm lăm mươi ba đồng), trong đó:
- - Dư nợ gốc: 29.138.462 đồng
- - Lãi trong hạn: 4.868.874 đồng
- - Lãi quá hạn: 18.163.317 đồng
Ngoài số tiền gốc và lãi tính đến ngày 27/02/2025 như trên, ông T1 còn phải trả tiền lãi quá hạn tính từ ngày 28/02/2025 đến khi tất toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế.
Về án phí: Buộc ông T1 phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 3 điều 173; Điều 179; khoản 2 Điều 184; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 429; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 99; Điều 100; Điều 103; Điều 107 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Điều 2; Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với bị đơn là ông Đỗ Trọng T1.
- - Buộc ông Đỗ Trọng T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Á tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 27/02/2025 là: 52.170.653 đồng (Bằng chữ: Năm mươi hai triệu một trăm bảy mươi nghìn sáu trăm lăm mươi ba đồng). Trong đó:
- - Dư nợ gốc: 29.138.462 đồng
- - Lãi trong hạn: 4.868.874 đồng
- - Lãi quá hạn: 18.163.317 đồng
- Ngoài ra, ông T1 còn phải trả tiền lãi quá hạn trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế kể từ ngày 28/02/2025 cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí:
- + Ông Đỗ Trọng T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.608.500 đồng (Hai triệu sáu trăm linh tám nghìn năm trăm đồng).
- + Trả lại Ngân hàng TMCP Á 2.164.031 đồng (Hai triệu một trăm sáu mươi tư nghìn không trăm ba mươi mốt đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0016556 ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Đỗ Trọng T1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thụ |
Bản án số 03/2025/DSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 03/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 06/3/2020, ông Đỗ Trọng T1 gửi Ngân hàng TMCP Á (sau đây viết tắt là A) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông T1, A đã đồng ý cấp thẻ Visa Vàng (Thẻ tín dụng quốc tế) số thẻ 4791392550514xxx với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Hiệu lực thẻ từ tháng 03/2023; Lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A – là một phần không tách rời của Giấy đề nghị không cấp thẻ tín dụng. Ngày 09/3/2023 ông Đỗ Trọng T1 đã thực hiện đổi từ thẻ số 479139550514xxx sang thẻ 4791392552330xxx với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 164.285.931 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Đỗ Trọng T1 đã thanh toán cho Ngân hàng với số tiền 156.263.043 đồng. (Thứ tự thanh toán áp dụng theo khoản 9.4 Điều 9 của Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng). Ông T1 sử dụng thẻ từ tháng 03/2020 đến tháng 10/2023 và có thanh toán cho Ngân hàng nhưng đến kỳ thanh toán ngày 09/11/2023 thì ngưng thanh toán. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ
