|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/DS-ST. Ngày: 28-11-2025 V/v: “Tranh chấp hụi họ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiến, Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hụi họ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-DS ngày 11/11/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh 1973 và ông Lê Văn Đ, sinh 1970
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Bà Trần Thị H, sinh 1973
- Cùng địa chỉ: Phố B, xã T, tỉnh Thanh Hóa
- - Bị đơn: ông Hồ Văn S, sinh năm 1970
- Địa chỉ: Tổ dân phố V, Phường Q, tỉnh Thanh Hóa
Tại phiên tòa có mặt bà H và ông S
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Do có quan hệ họ hàng với ông Hồ Văn S, vợ chồng ông bà có đóng góp phường họ cho ông S từ khoảng hơn 02 năm trước. Mỗi chân phường là 2.000.000 đồng mỗi tháng đóng 6.000.000 đồng, sau đó tăng lên 10.000.000 đồng/tháng, tương đương 3 chân đến 5 chân phường. Khi đóng tiền, ông bà thường nhờ con gái đóng hộ, lúc đóng bằng tiền mặt, lúc chuyển khoản. Mỗi lần đóng phường ông bà đều ghi chép, theo dõi đầy đủ. Đến khoảng tháng 3/2024 thì kết thúc các chân phường nên ông bà không tiếp tục nộp nữa, ông bà đã yêu cầu ông S thanh toán tiền phường thì ông S bảo chưa có thời gian tính được nên chưa giao tiền cho ông bà, vì ông bà ở xa và vì tình cảm anh em nên ông bà tin tưởng chấp nhận. Đến ngày 11/9/2024, bà H xuống nhà ông S, hai anh em cùng tính toán và thống nhất chốt số tiền ông S nợ ông bà là 242.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi hai triệu đồng). Cùng ngày, ông S viết giấy nhận nợ và cam kết phương án trả nợ cho ông bà. Vì tin tưởng nên ông bà đã đồng ý với phương án của ông S và cầm giấy nhận nợ. Do giữa ông bà và ông S đã thống nhất chốt nợ với nhau và ông S đã viết giấy nhận nợ nên ông bà chủ quan, không còn giữ các giấy tờ theo dõi việc đóng phường họ trước đây mà chỉ giữ lại giấy nhận nợ. Trong giấy nhận nợ, ông S hẹn ngày 25/9/2024 âm lịch (tức ngày 27/10/2024 dương lịch) sẽ thanh toán số tiền 150.000.000 đồng; đến ngày 20/02/2025 âm lịch (tức ngày 19/3/2025 dương lịch) sẽ thanh toán nốt 92.000.000 đồng cho ông bà. Tuy nhiên cho đến ngày 06/11/2024 ông S mới trả cho ông bà 33.000.000 đồng, số tiền còn lại là 209.000.000 đồng đến nay ông S vẫn chưa trả cho ông bà, mặc dù ông bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng không được.
Nay ông bà làm đơn đề nghị Tòa án buộc ông Hồ Văn S phải trả cho ông bà số tiền còn nợ là 209.000.000 đồng, ông bà không yêu cầu tính lãi.
- Tại bản tự khai và buổi hòa giải lần 1 Bị đơn trình bày:
Ông có quan hệ họ hàng với bà Trần Thị H. Ông là chủ phường họ, có thu tiền đóng họ của những người chơi phường họ, trong đó có nhận của bà H, cụ thể phường góp như sau:
- Họ 1: vào ngày 20/12/2021, kết thúc vào ngày 20/02/2024. Bà H đóng cho ông 01 chân 2.000.000 đồng, về 2.500.000 đồng, tổng được 27 chân. Như vậy gốc 54.000.000 đồng, lãi 25 tháng: 12.500.000 đồng, tổng cộng 66.500.000 đồng.
- Họ 2: vào ngày 20/10/2022, kết thúc vào ngày 20/3/2024. Bà H đóng cho ông 0 chân là 2.000.000 đồng về 2.500.000 đồng, tổng 12 chân. Như vậy gốc: 36.000.000 đồng, lãi: 8.000.000 đồng, tổng cộng: 44.000.000 đồng.
- Họ 3: vào ngày 20/6/2023, kết thúc vào ngày 20/3/2024. Bà H đóng cho ông 0 chân là 2.000.000 đồng về 2.500.000 đồng, tổng được 9 chân, Như vậy gốc: 18.000.000 đồng, lãi: 3.500.000 đồng, tổng cộng: 21.500.000 đồng.
- Họ 4: vào ngày 20/6/2023, kết thúc vào ngày 20/3/2024. Bà H đóng cho ông 0 chân là 2.000.000 đồng về 2.500.000 đồng, tổng được 9 chân, Như vậy gốc: 18.000.000 đồng, lãi: 3.500.000 đồng, tổng cộng: 21.500.000 đồng.
- Họ 5: vào ngày 20/10/2022, kết thúc vào ngày 20/3/2024. Bà H đóng cho ông 0 chân là 2.000.000 đồng về 2.500.000 đồng, trong đó tổng 18 chân, Như vậy gốc: 8.000.000 đồng, lãi: 36.000.000, tổng cộng: 44.000.000 đồng.
Tổng 5 chân phường cộng lại là 197.000.000 đồng (một trăm chín mươi bảy triệu đồng).
Do ông quản lý tài chính kém, nhiều người chơi lấy tiền bỏ đi, ông bị bể phường họ nên mất khả năng thanh toán, tháng 3 năm 2024 ông đã tạm dừng và kết thúc các chân phường, tuy nhiên lúc đó ông không có tiền trả ngay cho bà H. Sau đó ông và bà H tính toán thống nhất chốt số tiền ông còn nợ bà H là 242.000.000 đồng và ngày 11/9/2024 ông có viết giấy nhận nợ cho bà H, trong giấy ông xác nhận nợ số tiền 242.000.000 đồng và cam kết ngày 25/9/2024 âm lịch ông sẽ trả trước cho vợ chồng bà H số tiền 150.000.000 đồng, còn lại 92.000.000 đồng ông hẹn trả vào ngày 20/02/2025 âm lịch. Ông xác nhận chữ viết chữ ký trong giấy nhận nợ bà H nộp cho Tòa án là chữ viết chữ ký của ông. Tuy nhiên do lúc đó ông không tỉnh táo nên việc tính toán có sự nhầm lẫn, thực tế ông chỉ nợ bà H 197.000.000 đồng.
Tại buổi hòa giải lần 2 ngày 04/11/2025, ông S thay đổi một phần quan điểm trình bày: đến nay ông chấp nhận chốt nợ bà H và ông Đại số tiền 242.000.000 đồng, không thắc mắc gì. Đến ngày 06/11/2024 ông đã trả 33.000.000 đồng cho bà H, số tiền hiện nay ông còn nợ bà H và ông Đ là 209.000.000 đồng.
Bà H và ông Đ khởi kiện ông đến Tòa án nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa, là anh em ông không muốn căng thẳng nên ông đồng ý với con số tiền nợ là 209.000.000 đồng. Ông nhận trách nhiệm sẽ trả hết số tiền đó cho bà H và ông Đ, nhưng do hoàn cảnh khó khăn, ông đề nghị cho ông trả dần theo phương án cụ thể: mỗi tháng 5.000.000 đồng vào ngày 30 hàng tháng bắt đầu từ ngày 30/11/2025 cho đến lúc hết số tiền nợ là 209.000.000 đồng.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: yêu cầu ông Hồ Văn S phải trả cho bà Trần Thị H và ông Lê Văn Đại S1 tiền còn nợ là 209.000.000 đồng, ông bà không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nói trên.
Bị đơn: Thống nhất còn nợ bà H ông Đại số tiền 209.000.000 đồng và sẽ có trách nhiệm trả hết số tiền đó, tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế hiện nay gặp khó khăn nên đề nghị nguyên đơn cho ông trả theo phương án mỗi tháng 5.000.000 đồng. Nếu nguyên đơn không đồng ý thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của Pháp luật
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 357, 468, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 19 /2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị H và ông Lê Văn Đ. Buộc ông Hồ Văn S phải trả cho bà H và ông Đại số tiền gốc còn nợ là 209.000.000 đồng.
Về án phí: Buộc anh Hồ Văn S phải chịu tiền án phí DSST theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho chị Trần Thị H, anh Lê Văn Đ đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị H và ông Lê Văn Đ khởi kiện yêu cầu ông Hồ Văn S, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ dân phố V, Phường Q, tỉnh Thanh Hóa trả số tiền mà đến nay ông S còn nợ ông bà có nguồn gốc là tiền ông bà đóng phường họ cho ông S là Tranh chấp hụi họ. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 81/2025/UBTVQH 15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1].Về nghĩa vụ trả tiền và xác định số tiền nợ: Trên cơ sở “giấy nhận nợ” ngày 11/9/2024 do ông Hồ Văn S viết, xác định nợ của bà Trần Thị H số tiền 242.000.000 đồng, số tiền đó là do bà Trần Thị H và ông Lê Văn Đ trước đó đã đóng tiền họ hằng tháng cho ông S. Đến ngày 06/11/2024 ông S đã trả 33.000.000 đồng, do vậy bà H và ông Đ khởi kiện yêu cầu ông S trả số tiền còn nợ hiện nay là 209.000.000 đồng. Ông S thừa nhận giấy nhận nợ bà H và ông Đ nộp kèm đơn khởi kiện là do ông viết và ký, đến nay ông còn nợ tiền như yêu cầu khởi kiện. Đủ cơ sở xác định ông S còn nợ số tiền 209.000.000 đồng và ông S phải có trách nhiệm trả số tiền còn nợ cho bà H và ông Đ. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H và ông Lê Văn Đ.
[2.2]. Do bà H và ông Đ không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Buộc ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho bà H và ông Đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 81/2025/UBTVQH 15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Điều 357, 468, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Nghị định số 19 /2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm b, tiểu mục 1.3 mục 1, phần II danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị H và ông Lê Văn Đ. Buộc ông Hồ Văn S phải trả cho bà H và ông Đại số tiền gốc còn nợ là 209.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí:
ông Hồ Văn S phải chịu 10.450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Trần Thị H và ông Lê Văn Đại S1 tiền tạm ứng án phí là 5.225.000 đồng đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001348 ngày 10/10/2025.
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ninh Thị Khánh Tân |
Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về tranh chấp hụi họ
- Số bản án: 03/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi họ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà H và chồng khởi kiện ông S
