|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/DS-ST
Ngày: 21/02/2025.
“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đoàn Hồng Thắng.
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Ngọc Lan và bà Hoàng Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Đức Long - Thư ký tòa án, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Mạc Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 12/2024/TLST-DS ngày 01/07/2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-DS ngày 27/12/2024; quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-DS ngày 24/01/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (viết tắt: Ngân hàng B1); địa chỉ: tòa nhà B, số A, T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Đức T - Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 - Chi nhánh C1 (theo Quyết định 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1); Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Trần Quốc B - chức vụ: Giám đốc, Phòng G - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 - Chi nhánh C1, căn cước công dân: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 07/8/2022 (theo Quyết định 0664/QĐ-BIDV.CP ngày 10/5/2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1- Chi nhánh C1). Có mặt
2. Bị đơn:
2.1. Ông Vũ Ngọc T1, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ A, khu E, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
2.2. Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ A, khu E, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt; người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị H: ông Vũ Ngọc T1 sinh năm 1979; địa chỉ: tổ A, khu E, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh (theo Biên bản về việc ủy quyền ngày 19/7/2024), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 20/05/2024 và các lời khai tại Toà án, Nguyên đơn trình bày: theo đề nghị vay vốn ngày 04/11/2022 của ông Vũ Ngọc T1 cùng vợ là bà Trịnh Thị H, Ngân hàng B1 – Chi nhánh C1 và ông Vũ Ngọc T1 - Bà Trịnh Thị H đã ký kết Hợp đồng tín dụng số: 02/2022/12696552/HĐTD ngày 04/11/2022 với nội dung thỏa thuận cụ thể như sau: Ngân hàng B1– Chi nhánh C1 đồng ý cho ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H vay số tiền: 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng); thời hạn vay: 240 tháng, kể từ ngày 04/11/2022; mục đích vay: sửa chữa nhà ở và mua sắm đồ dùng sinh hoạt; lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là: 9,0%/năm, áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân lần đầu, sau thời gian trên lãi suất được điều chỉnh 06 tháng/1 lần theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả 10%/năm.
Về biện pháp bảo đảm khoản vay: trước đó ngày 12/11/2021 ông Vũ Ngọc T1 và Ngân hàng B1 đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 03/2021/12696552/HĐBĐ: tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất tại thôn G, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 136388 do UBND huyện V cấp ngày 30/05/2011, số vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất: 3599. Hợp đồng thế chấp này đảm bảo cho các hợp đồng tín dụng được ký kết trong khoảng thời gian từ 12/11/2021 đến 12/11/2022.
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký mà ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp phải được xử lý bằng các biện pháp theo hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết để Ngân hàng B1 thu hồi nợ vay.
Thực hiện Hợp đồng, ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H đã thực hiện trả nợ gốc và lãi cho đến 26/02/2024. Từ đó cho đến nay ông T1, bà H không trả tiền lãi hàng tháng cho Ngân hàng, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc yêu cầu ông T1 và bà H tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả tiền đã cam kết. Tính đến nay (hết ngày 21/02/2025), ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H đang còn nợ Ngân hàng B1 – Chi nhánh C1 theo Hợp đồng tín dụng số: 02/2022/12696552/HĐTD ngày 04/11/2022 là: 3.541.365.197 đồng (Ba tỷ, năm trăm bốn mươi mốt triệu, ba trăm sáu mươi năm nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: tiền nợ gốc: 3.170.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn: 354.800.938 đồng; tiền nợ lãi quá hạn: 16.564.259 đồng.
Nay Ngân hàng B1 đề nghị Toà án: tuyên chấm dứt Hợp đồng tín dụng số: 02/2022/12696552/HĐTD ngày 04/11/2022 được ký kết giữa Ngân hàng B1 với ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H; buộc: Bị đơn là ông Vũ Ngọc T1 cùng vợ là bà Trịnh Thị H trả toàn bộ số tiền còn nợ tính đến hết ngày 21/02/2025 là: 3.541.365.197 đồng (Ba tỷ, năm trăm bốn mươi mốt triệu, ba trăm sáu mươi năm
nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng) và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng, với mức lãi suất quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số 02/2022/12696552/HĐTD ngày 04/11/2022.
Về tài sản bảo đảm đề nghị Toà án tuyên Ngân hàng B1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng quyền sử dụng đất số BE136388, số vào sổ GCN: 3599 do UBND huyện V cấp ngày 30/5/2011 để thi hành án, thu hồi nợ vay. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ gốc và lãi vay thì Bị đơn phải tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán hết số tiền nợ gốc và lãi vay còn thiếu cho Ngân hàng. Về số cây trồng trên đất ông T1 có thể di dời khỏi thửa đất.
Về chi phí tố tụng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp bị đơn phải hoàn lại số tiền chi phí tố tụng cho Ngân hàng B1 thì Ngân hàng B1 không yêu cầu bị đơn phải chịu khoản tiền lãi do chậm trả.
Bị đơn ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có trình bày tại bản tự khai ngày 19/7/2024 như sau: do cần sửa chữa nhà ở và mua sắm đồ dùng sinh hoạt, vợ chồng chúng tôi (Vũ Ngọc T1 -Trịnh Thị H) với Ngân hàng B1 – Chi nhánh C1- Phòng G có ký kết Hợp đồng tín dụng số: 02/2022/12696552/HĐTD với nội dung như sau: Chúng tôi (Vũ Ngọc T1h Thị H) vay của Ngân hàng B1 số tiền là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng); thời hạn vay: 240 tháng kể từ ngày 04/11/2022; mục đích vay: sửa chữa nhà ở và mua sắm đồ sinh hoạt; lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9,0%/năm áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân lần đầu (04/11/2022), sau thời gian trên lãi suất được điều chỉnh 06 tháng/1 lần theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; lãi suất nợ quá hạn áp dụng với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất vay trong hạn; lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả 10%/năm.
Để đảm bảo cho khoản vay này ngày 12/11/2021 chúng tôi có ký kết với Ngân hàng hợp đồng thế chấp số: 03/2021/12696552/HĐBĐ được công chứng tại Văn phòng C2, tỉnh Quảng Ninh. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng 926,2m² đất, tại thôn G, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE136388, số vào sổ GCN: 3599 do UBND huyện V cấp ngày 30/5/2011 mang tên Nguyễn Việt A và Phạm Thị C và đã được đăng ký biến động cho Vũ Ngọc T1 ngày 20/01/2021.
Thực hiện hợp đồng tín dụng, ngày 04/11/2022 Ngân hàng đã giải ngân cho chúng tôi số tiền 5.000.000.000đồng (Năm tỷ đồng). Về việc trả nợ, tính đến hết ngày 19/5/2024 chúng tôi đã trả cho Ngân hàng số tiền là 2.398.878.375 đồng (Hai tỷ ba trăm chín mươi tám triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng), trong đó: tiền gốc là 1.830.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm ba mươi triệu đồng); tiền lãi trong hạn là 566.179.260 đồng; tiền lãi quá hạn 2.699.115 đồng. Sau đó chúng tôi gặp khó khăn về tài chính nên chưa kịp trả tiền lãi cho Ngân hàng.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ:
thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB136388, số vào sổ GCN 3599 do UBND huyện V cấp ngày 30/5/2011 mang tên Nguyễn Việt A và Phạm Thị C và đã được đăng ký biến động cho Vũ Ngọc T1 ngày 20/01/2021 có vị trí như sau:
+ Phía Đông Nam giáp đất bà P và đất ông M; phía Tây Nam giáp đất bờ ruộng (rộng từ 1,5m đến 2m); phía Tây Bắc giáp đất ông T2; phía Đông Bắc giáp đường bê tông.
+ Tài sản gắn liền với đất gồm: 189 cây Đ có đường kính tán từ 1,5m đến 02m.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự: Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Về phía đương sự, Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Bị đơn nhiều lần vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, tài liệu, chứng cứ, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B1 là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: chấm dứt hợp đồng tín dụng được ký kết giữa ông T1, bà H với Ngân hàng B1; buộc ông T1, bà H trả cho Ngân hàng B1 số tiền là 3.541.365.197 đồng. Trường hợp ông T1 bà H không trả nợ vay, thì Ngân hàng B1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Ngân hàng B1 khởi kiện yêu cầu ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H trả các khoản nợ vay theo hợp đồng tín dụng. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án này được xác định là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng (với mục đích vay tiêu dùng) quy định khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H cư trú tại khu E, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
[1.2] Về sự tham gia tố tụng của các đương sự:
Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng.
Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án chỉ tham gia phiên hoà giải ngày 08/8/2024, còn trong quá trình xem xét thẩm định, hòa giải, công khai chứng cứ, các phiên tòa đều vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn
[2] Về nội dung
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chấm dứt hợp đồng tín dụng và thanh toán tiền nợ:
Xét hợp đồng tín dụng: theo các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp và đã được bị đơn thừa nhận thì: ngày 04/11/2022 ông Vũ Ngọc T1 cùng vợ là bà Trịnh Thị H có ký kết với Ngân hàng B1 – Chi nhánh C1, Hợp đồng tín dụng số 02/2022/12696552/HĐTD với nội dung thỏa thuận cụ thể như sau: Ngân hàng B1 cho ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H vay số tiền: 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng); thời hạn vay: 240 tháng, kể từ ngày 04/11/2022; mục đích vay: để sửa chữa nhà ở và mua sắm đồ dùng sinh hoạt; lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là: 9,0%/ năm áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân lần đầu, sau thời gian trên lãi suất được điều chỉnh 06 tháng/1 lần theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất đối với khoản lãi chậm trả là 10%/năm.
Các bên ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện. Nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó Hợp đồng tín dụng số 02/2022/12696552/HĐTD ngày 04/11/2022 được ký kết giữa ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H với Ngân hàng B1 có hiệu lực.
Thực hiện hợp đồng: về phía Ngân hàng B1 (bên cho vay) đã giải ngân cho ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H số tiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) vào ngày 04/11/2022; về phía ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H (bên vay) đã thanh toán trả nợ cho Ngân hàng B1 số tiền là 2.398.878.375 đồng (Hai tỷ ba trăm chín mươi tám triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng), trong đó: tiền gốc là 1.830.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 566.179.260 đồng; tiền lãi quá hạn 2.699.115 đồng. Kể từ ngày 26/02/2024 ông T1, bà H đã không tiếp tục trả nợ lãi cho Ngân hàng B1 theo như thỏa thuận. Tính đến nay (hết ngày 21/02/2025) ông T1, bà H còn nợ của Ngân hàng B1 số tiền là 3.541.365.197 đồng (Ba tỷ, năm trăm bốn mươi mốt triệu, ba trăm sáu mươi năm nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: tiền nợ gốc: 3.170.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn: 354.800.938 đồng; tiền nợ lãi quá hạn: 16.564.259 đồng.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của bản Điều khoản và điều kiện vay kèm theo hợp đồng tín dụng thì bên vay được coi là vi phạm hợp đồng tín dụng khi: “Bên vay vi phạm bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi, phí các cam đoan và
bảo đảm, các cam kết...”. như vậy, ông T1, bà H đã vi phạm Hợp đồng tín dụng số 02/2022/12696552/HĐTD.
Mặc dù thời hạn vay của hợp đồng là 240 tháng (kể từ ngày 04/11/2022) đến nay chưa hết thời hạn, nhưng theo quy định tại bản Điều khoản và điều kiện vay kèm theo hợp đồng tín dụng, thì Bên cho vay (Ngân hàng B1) “có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ tất cả các khoản cấp tín dụng chưa thanh toán, xử lý tài sản bảo đảm của bên vay” (khoản 4 Điều 8) và “khởi kiện, phát mại tài sản của khách hàng”(khoản 2 Điều 9).
Do vậy, căn cứ vào thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng tín dụng và Điều 103 của Luật Các tổ chức tín dụng, khoản 2 Điều 422, Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: chấm dứt Hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số 02/2022/12696552/HĐTD ngày 04/11/2022; ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng B1 số tiền 3.541.365.197 đồng (Ba tỷ, năm trăm bốn mươi mốt triệu, ba trăm sáu mươi năm nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: tiền nợ gốc: 3.170.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn: 354.800.938 đồng; tiền nợ lãi quá hạn: 16.564.259 đồng.
Về Hợp đồng thế chấp: để bảo đảm khoản vay, ông Vũ Ngọc T1 đã bảo đảm bằng tài sản là bất động sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 03/2021/12696552/HĐBĐ ngày 12/11/2021 giữa Ngân hàng B1 với ông Vũ Ngọc T1, cụ thể: Tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thôn G, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 136388 do UBND huyện V cấp ngày 30/05/2011, số vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất: 3599 người sử dụng đất là ông Vũ Ngọc T1.
Ông Vũ Ngọc T1 và Ngân hàng B1 ký hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không có sự lừa dối hay ép buộc. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C2 ngày 12/11/2021, bên thế chấp và bên nhận thế chấp đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện V (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V) ngày 15/11/2021 phù hợp với các quy định của Điều 119, Điều 320, Điều 298 của Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai 2013, do đó có giá trị bảo đảm thanh toán, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận và quy định của pháp luật.
[3] Về án phí:
do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận, nên Bị đơn phải chịu án phí tranh chấp về Dân sự sơ thẩm có giá ngạch, theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
[4] Về chi phí tố tụng:
do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận, nên Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) để tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, Tòa án đã chi phí hết số tiền này. Do vậy, Bị đơn phải hoàn trả lại số tiền này cho Nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 điều 157 và khoản 1 Điều 158 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải chịu tiền lãi của số tiển chi phí tố tụng chậm trả, ý kiến này của Nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, nên chấp nhận.
[5] Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 117; Điều 119; Điều 280; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 299; Điều 303; Điều 317; khoản 3 Điều 318; Điều 320; Điều 351, Điều 353, Điều 357; khoản 2 Điều 422; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013;
- Căn cứ Điều 100; Điều 103; Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng 2024;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.
- Chấm dứt hợp đồng tín dụng số 02/2022/12696552/HĐTD ngày 04/11/2022; được ký kết giữa ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (chi nhánh C1)
- Buộc ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (chi nhánh C1) số tiền tiền 3.541.365.197 đồng (Ba tỷ năm trăm bốn mươi mốt triệu, ba trăm sáu mươi năm nghìn, một trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: tiền nợ gốc: 3.170.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn: 354.800.938 đồng; tiền nợ lãi quá hạn: 16.564.259 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (22/02/2025) ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 02/2022/12696552/HĐTD ngày 04/11/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.
- Trường hợp Bị đơn ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nói trên thì Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 có quyền yêu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số: 03/2021/12696552/HĐBĐ ngày 12/11/2021 được ký kết
giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 với Vũ Ngọc T1, cụ thể: Quyền sử dụng thửa đất và tài sản gắn liền với đất tại thôn G, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 136388, số vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất: 3599, do UBND huyện V cấp ngày 30/05/2011, người sử dụng đất là ông Vũ Ngọc T1 (do nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Việt A và bà Phạm Thị C).
2. Về chi phí tố tụng:
ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng)
3. Về án phí:
ông Vũ Ngọc T1 và bà Trịnh Thị H phải liên đới chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 102.827.303 (Một trăm linh hai triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm linh ba đồng).
Trả lại cho Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (Chi nhánh C1) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 48.600.000 đồng (Bốn mươi tám triệu sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004138 ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đoàn Hồng Thắng |
Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng BIDV cho ông bà Vũ Ngọc Tiêu, Trịnh Thị Hiền vay 05 tỷ đồng từ 04/11/2022 . quá trình thực hiện hợp đồng ông Tiêu, ba Hiền đã vi phạm nghĩa vụ thang toàn tiền gốc và tiền lãi tỉnh đến ngày xét xử sơ thẩm ông Tiêu bà Hiền còn nợ của BIDV 3.541.365.197 đồng
