TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/DS-ST Ngày: 06 – 02 – 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bạch Nhật Tuyến
Bà Nguyễn Thanh Thảo
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Nguyễn Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 292/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Trụ sở: Số B - 268, N, phường V, Quận C, Thành phố H.
Người đại diện pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc
Người đại diện ủy quyền: Bà Lương Trúc M – Trưởng Phòng G1
Người đại diện ủy quyền lại: Ông Bùi Minh Q – Chuyên viên khách hàng – Phòng G1 (theo văn bản ủy quyền ngày 31/7/2024)
Địa chỉ phòng giao dịch: Số A – A5 – A6, N, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ
Bị đơn: Chị Phạm Ngọc G, sinh năm 1988
Địa chỉ: Số E, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Tại phiên tòa: Có mặt ông Bùi Minh Q đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; vắng mặt bị đơn chị Phạm Ngọc G (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa ông Bùi Minh Q, đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S trình bày:
Ngân hàng TMCP S chi nhánh Đ – Phòng giao dịch S (viết tắt S1) có chị Phạm Ngọc G vay vốn thông qua hình thức phát hành thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1398683 ngày 31/12/2019, hạn mức tín dụng là 40.000.000đồng, thời hạn thẻ từ tháng 12/2019 đến tháng 12/2022, lãi suất trong hạn tại thời điểm ký là 2,6/tháng (thay đổi theo từng thời kỳ).
Sau khi vay (nhận thẻ) chị G thực hiện giao dịch rút tiền, thanh toán 04 lần và thực hiện nghĩa vụ trả gốc, lãi, phí đúng thời hạn thỏa thuận. Tuy nhiên, từ ngày 22/02/2024 chị G vi phạm nghĩa vụ nên S1 đã chuyển toàn bộ số dư nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn từ ngày 01/4/2024.
S1 cũng đã thường xuyên đôn đốc, yêu cầu chị Giàu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn nhưng chị G chưa thanh toán. Đồng thời hiện nay chị G cũng đã bỏ địa phương đi đâu không rõ, không thông báo với S1 về nơi ở mới.
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu chị Phạm Ngọc G trả cho Ngân hàng tổng số nợ tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 44.715.393đồng (nợ gốc là 42.538.646đồng; nợ lãi 2.176.747đồng); Yêu cầu chị G tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 30/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày số 1398683 ngày 31/12/2019.
Ngoài ra, S1 không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn chị Phạm Ngọc G: Không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc chị Phạm Ngọc G trả cho S1 tổng số nợ tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 44.715.393đồng (nợ gốc là 42.538.646đồng; nợ lãi 2.176.747 đồng); tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 30/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1398683 ngày 31/12/2019.
- Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật (có bài phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thì bị đơn có nơi cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp theo khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Phạm Ngọc G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc yêu cầu chị Phạm Ngọc G trả tổng số nợ tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 44.715.393đồng (nợ gốc là 42.538.646đồng; nợ lãi 2.176.747đồng), Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1398683 ngày 31/12/2019, Ngân hàng TMCP S đã cấp thẻ tín dụng hạn mức cho chị G số tiền là 40.000.000đồng, thời hạn thẻ từ tháng 12/2019 đến tháng 12/2022, hình thức vay không có tài sản bảo đảm.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng (sử dụng thẻ), từ ngày 22/02/2024 chị G đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập nhưng chị G không đến Toà án; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không có ý kiến phản bác về tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Toà án nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.
Như vậy, căn cứ vào Giấy đề nghị tcấp hẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1398683 ngày 31/12/2019 xác định giữa Ngân hàng và chị Giàu C xác lập hợp đồng vay tài sản. Theo đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, nên việc Ngân hàng yêu cầu chị G trả số tiền nợ gốc 42.538.646đồng là có căn cứ chấp nhận.
[2.2]. Về lãi suất vay: Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1398683, lãi suất hai bên thỏa thuận là 2,6%/tháng. Sự thỏa thuận của các bên về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Nên Buộc chị G trả cho Ngân hàng số tiền lãi 2.176.747đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 30/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày số 1398683 ngày 31/12/2019.
[4] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận như đã phân tích, nhận định trên.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị G chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
- Buộc chị Phạm Ngọc G trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số nợ tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 44.715.393đồng (nợ gốc là 42.538.646đồng; nợ lãi 2.176.747đồng); tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 30/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1398683 ngày 31/12/2019.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Phạm Ngọc G phải chịu 2.236.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.118.000đồng theo biên lai số 0007950 ngày 21/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 06/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: buộc bên a trả số tiền vay
