Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/DS-ST

Ngày: 20/02/2025

Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lã Hoàng Giáp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Duy Quyết.

Ông Hà Xuân Ninh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Mơ - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 08/2024/TLST- DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST – DS, ngày 13 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-DS, ngày 19 tháng 12 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 06/TB-TA, ngày 09 tháng 12 năm 2024 và 01/TB-TA, ngày 06 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-DS, ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Thôn D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (Bà L ủy quyền toàn bộ cho ông H tham gia tố tụng).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Huy B, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn 4 Liên Huy, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

(xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình nay là thị trấn Thịnh Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).

- Người làm chứng: ông Nguyễn Huy L1; bà Nguyễn Thị L2; ông Trần Văn H1; ông Nguyễn Đình T.

Tại phiên tòa có mặt ông H, bà L, bà C. Vắng mặt ông B và những người làm chứng không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai, các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ngày 19/12/1998 vợ chồng ông được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 429751 đối với thửa đất số 2, tờ bản đồ PL4, diện tích 130 m² đất ở tại thôn D L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Do chưa có nhu cầu sử dụng đất nên năm 2005, vợ chồng ông B và bà C có mượn đất của nhà ông bà để chăn nuôi, trồng cấy hoa màu trên đất và nói khi nào vợ chồng ông sử dụng thì sẽ trả lại. Đến năm 2021, gia đình ông bà có ý định sử dụng đất nên đòi lại nhưng gia đình ông B không trả lại mà còn đe doạ, chửi bới. Ngay sau đó, ông bà có làm đơn đề nghị UBND xã G giải quyết, UBND xã G đã nhiều lần làm việc và thông báo thửa đất này là của gia đình ông bà, nhưng ông B và bà C vẫn cố tình không tháo dỡ tài sản trên thửa đất để trả lại đất. Mỗi lần ông bà làm gì trên thửa đất này, ông Nguyễn Huy B đều cản trở, chửi bới, đe doạ. Từ năm 2021 đến nay gia đình ông bà đã đi lại nhiều lần, UBND xã G tổ chức hoà giải nhưng không thành. Vì vậy ông bà đã khởi kiện yêu cầu Toà giải quyết buộc ông Nguyễn Huy B và bà Nguyễn Thị C phải trả lại cho ông bà thửa đất số 2, tờ bản đồ PL4, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ông B bà C xác định chỉ sử dụng một phần thửa đất nêu trên với diện tích là 23,1m2 là phần đất mà gia đình ông B đã sử dụng vì cho rằng đây là phần đất của gia đình ông B; phần đất còn lại của thửa đất 106,9m2 ông B không sử dụng và công nhận phần đất này là của gia đình nhà ông H, bà L; do vậy tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và tại phiên tòa, ông H, bà L xác định chỉ yêu cầu Tòa án buộc ông B, bà C trả lại phần đất lấn chiếm là 23,1m2; đồng thời yêu cầu ông B, bà C phải di dời toàn bộ tài sản trên đất trả lại mặt bằng cho ông bà.

Ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị L đồng ý với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, không có ý kiến gì khác; tự nguyện chịu toàn bộ các chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, không yêu cầu ai khác phải thanh toán.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các bị đơn trình bày: Năm 1993, ông nội của ông B là cụ Nguyễn Huy R, sinh năm 1919 (đã mất năm 2000) có gọi vợ chồng ông và nói cho 5 gian nhà ngói làm nơi thờ tổ tiên là nhà ông bà hiện nay đang ở ; Ngoài ra, cụ R có chỉ cho ông B 1 miếng đất lối đi nói là mua của cụ Nguyễn Huy H2 “3,5 ngũ” và bảo là cho vợ chồng ông B miếng đất đó, việc mua đất của cụ R, ông B chỉ được nghe cụ nói lại chứ không có tài liệu chứng cứ gì về việc mua bán, việc cụ R nói cho ông bà cũng là nói miệng. Năm 1998, vợ chồng ông bà đã san lấp và đặt cống, mở cổng trên miếng đất đó và sử dụng ổn định đến nay. Đến năm 2021, ông H và bà Lưu T1 đến đo đạc và nhận miếng đất là của ông H, bà L. Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, ông B, bà C xác định phần đất tranh chấp là 23,1 m2, trên phần đất này ông bà hiện đang xây dựng lán mái tôn để chăn nuôi và trồng 01 cây Sanh, 01 cây Bơ trên diện tích đất này; ông B, bà C cho rằng phần đất này là của gia đình nhà ông nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà L về việc đòi 23,1 m2 mà

ông bà đang sử dụng. Đối với phần đất còn lại của thửa đất là 106,9 m2 ông B, bà C xác định thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông H, bà L, vợ chồng ông B, bà C không tranh chấp. Tại phiên Tòa bà C giữ nguyên quan điểm như vợ chồng ông bà đã trình bày trước đây.

Quá trình xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ tại chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G cung cấp:

Thửa đất số 2 tờ bản đồ PL 4 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình đã được cấp cho ông Nguyễn Huy H, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 429751 có diện tích 130m2.

Tại Thông báo số 17/TB-UBND ngày 26/8/2021 của UBND xã G xác định thửa đất 02, tờ bản đồ PL 4 thuộc toàn quyền sử dụng của gia đình ông Nguyễn Huy H ; ông Nguyễn Huy B không có quyền sử dụng thửa đất nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng trình bày:

Bà Nguyễn Thị L2 (cô ruột ông B), ông Trần Văn H1 (chú rể ông B) ông Nguyễn Huy L1 (bố đẻ ông B) trình bày: ông bà có được nghe bố của ông bà là cụ Nguyễn Huy G (ghi theo văn bản của người làm chứng) mua của ông Nguyễn Huy H2 “3 ngũ” chiều ngang, “8 ngũ” chiều dài làm lối đi để vào nhà, các ông bà xác định phần đất ông B đang sử dụng không phải của ông H. Ngoài trình bày trên các ông bà không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ gì khác.

Ông Nguyễn Đình T trình bày ông Nguyễn Huy R mua của ông Nguyễn Huy H2 3 ngũ chiều ngang, 8 ngũ chiều dài làm lối đi để vào nhà vì trước đây không có đường đi. Ngoài các lời trình bày trên ông không có tài liệu chứng cứ nào khác.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn trình bày ý kiến việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Các Điều 26, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 170 Luật đất đai năm 2013; Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q.

Đề nghị: 1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huy H và bà Nguyễn Thị Lưu . Buộc ông Nguyễn Huy B và bà Nguyễn Thị C phải trả lại phần diện tích đất 23,1m2 tại thửa đất số 2, tờ bản đồ PL4, địa chỉ tại thôn D L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (nay là thôn D L, thị trấn T, huyện G, tỉnh Ninh Bình).

Buộc ông B bà C phải di dời toàn bộ tài sản, cây trồng và vật nuôi trên đất (nếu có) để trả lại mặt bằng đất cho ông H, bà L.

2. Án phí: Ông Nguyễn Huy B và bà Nguyễn Thị C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất; có địa chỉ tại xã G (nay là thị trấn T), huyện G, tỉnh Ninh Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn.

1.2. Về thời hiệu khởi kiện: theo quy định tại Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 158 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tranh chấp về quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu.

1.3. Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị L; có mặt bị đơn bà Nguyễn Thị C; bị đơn ông Nguyễn Huy B vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do, do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.4. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và áp dụng pháp luật:

  • - Về quan hệ pháp luật: ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị L khởi kiện, yêu cầu gia đình ông Nguyễn Huy B, bà Nguyễn Thị C trả lại phần đất đã lấn chiếm, tháo dỡ di dời công trình xây dựng và cây trồng trên đất nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  • - Về tư cách đương sự: Xác định ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị L là nguyên đơn; ông Nguyễn Huy B, bà Nguyễn Thị C là bị đơn;
  • - Về áp dụng pháp luật: áp dụng Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết.

[2]. Về nội dung

[2.1]. Về quyền sử dụng đất tranh chấp:

Thửa đất số 2, tờ bản đồ PL4, diện tích 130 m² đất ở, thời hạn sử dụng lâu dài, địa chỉ tại thôn D L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình đã được UBND huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I429751 ngày 19/12/1998 cho gia đình ông Nguyễn Huy H.

Ông Nguyễn Huy B, bà Nguyễn Thị C đang sử dụng một phần thửa đất nêu trên, có diện tích là 23,1m2 để xây dựng nhà mái tôn mục đích chăn nuôi diện tích là 23,1m2; trồng 01 cây bơ, 01 cây Sanh.

[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện trả lại đất lấn chiếm của nguyên đơn

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và đo vẽ hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 16/8/2024 thể hiện, phần diện tích 130m2 của thửa đất số 02 đã theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình ông Nguyễn Huy H được xác định bởi các điểm mốc (1, 2, 3, 4, 5, 6); Phần đất gia đình ông Nguyễn Huy B đang sử dụng xây dựng nhà mái tôn, trồng cây trong phạm vi thửa đất được xác định bởi các điểm mốc (A1, A2, 4, 5) có diện tích 23,1m2.

Quá trình giải quyết vụ án, hộ gia đình ông B bà C không xuất trình được căn cứ để xác định phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng, quản lý hợp

pháp của mình. Qua xem xét bản đồ, sổ mục kê, sổ địa chính xã G do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện G cung cấp thì xác định thửa đất số 2, tờ bản đồ PL4, địa chỉ tại thôn D L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình đã được UBND huyện G cấp cho gia đình ông Nguyễn Huy H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I429751 ngày 19/12/1998, có diện tích 130 m² đất ở, thời hạn sử dụng lâu dài.

Tại biên bản thẩm định 16/8/2024 và kết quả đo đạc, định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện G đối với diện tích thửa đất của hộ gia đình ông H bà L ngày 16/8/2024 thể hiện hộ gia đình ông B bà C thực tế đang sử dụng diện tích 23,1m2, phần diện tích này nằm trong thửa đất mà hộ gia đình ông H bà L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1998.

Do đó, việc ông Nguyễn Huy H và bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Huy B, bà Nguyễn Thị C trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 23,1m2 là có cơ sở để chấp nhận.

[2.3]. Đối với yêu cầu buộc tháo dỡ công trình, di chuyển cây trồng vật nuôi trên đất lấn chiếm:

Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đã ghi nhận hiện trạng tài sản, công trình trên đất: nhà hai mái không tường, lợp tôn thường, xà gồ hộp mạ kẽm, nền bê tông, dạng kết cấu đơn giản không phải công trình kiên cố có thể tháo dỡ được, do vậy cần buộc ông Nguyễn Huy B, bà Nguyễn Thị C phải tháo dỡ toàn bộ phần tài sản này.

Đối với yêu cầu di chuyển cây trồng trên đất, qua kết quả xem xét thẩm định, trên phần đất ông Nguyễn Huy B, bà Nguyễn Thị C lấn chiếm có 01 cây Xanh và 01 cây Bơ do gia đình ông bà chồng, đây là các loại cây có thể di chuyển do vậy cần buộc ông Nguyễn Huy B, bà Nguyễn Thị C phải di dời các cây trồng ra khỏi phần đất 23,1m2 mà ông bà đang sử dụng để hoàn trả lại mặt bằng đất cho ông H, bà L.

[2.4]. Đối với trình bày của ông Nguyễn Huy B, bà Nguyễn Thị C cho rằng phần đất ông bà đang sử dụng là tài sản do ông nội ông B là cụ Nguyễn Huy R mua của người khác để lại cho ông, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu ông B, bà C cung cấp các tài liệu, chứng cứ có giá trị pháp lý để chứng minh cho yêu cầu của mình tuy nhiên ngoài các tài liệu đã giao nộp và lời trình bày, ông B bà C không có bất cứ tài liệu chứng cứ nào chứng minh quyền sử dụng của gia đình ông đối với phần đất ông bà đang lấn chiếm.

Đối với lời khai của những người làm chứng là bà Nguyễn Thị L2 (cô ruột ông B), ông Trần Văn H1 (chú rể ông B) ông Nguyễn Huy L1 (bố đẻ ông B) và ông Nguyễn Đình T; ngoài lời trình bày những người này cũng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào chứng minh, không trực tiếp tham gia việc mua bán (nếu có) do vậy không đủ căn cứ để chấp nhận.

Đối với phần nhà mái tôn làm trên phần mương nước, đại diện UBND xã G tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ xác định không liên quan đến phần đất tranh chấp. UBND xã không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, sau khi vụ án được giải quyết thì UBND xã sẽ thực hiện các thủ tục xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

[3]. Về chi phí tố tụng:

Ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị L tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị Lưu K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Ông Nguyễn Huy B, bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 164, 166, 579 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 12; Điều 166; Điều 170; Điều 202; Điều 203 của Luật Đất đai 2013. Tương ứng các Điều 11; Điều 26; Điều 31; Điều 235; Điều 236 của Luật Đất đai 2024.
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huy H và bà Nguyễn Thị Lưu .

Buộc ông Nguyễn Huy B và bà Nguyễn Thị C phải trả lại cho ông Nguyễn Huy H và bà Nguyễn Thị Lưu P đất lấn chiếm được giới hạn bởi các điểm mốc (A1,A2,4,5, A1) trên sơ đồ, có diện tích 23,1m2 thuộc thửa đất số 2, tờ bản đồ PL4, địa chỉ tại thôn D L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (nay là thôn D L, thị trấn T, huyện G, tỉnh Ninh Bình). Buộc ông Nguyễn Huy B và bà Nguyễn Thị C phải tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình, vật kiến trúc xây dựng trên đất và di dời cây trồng trên đất.

[2]. Về án phí: ông Nguyễn Huy H và bà Nguyễn Thị Lưu K phải chịu án phí sơ thẩm.

Ông Nguyễn Huy B bà bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/02/2025. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án

dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

(Kèm theo Bản án là sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản trên đất)

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 03/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xx
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger