TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2025/DS-ST
Ngày: 14 – 3 – 2025
“V/v tranh chấp đòi lại tài sản nhà và đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Tiến.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Chinh và ông Châu Khắc Thái.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thành, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phụng Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp Đòi lại tài sản nhà và đất.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 2 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Võ Thị X, sinh năm 1953; địa chỉ: A Ông Í, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương H, sinh năm 1981; địa chỉ: A N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Quang H1; địa chỉ: 2 T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Võ Anh T, sinh năm 1981; địa chỉ: D T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Võ Công H2; địa chỉ: B L, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H); Có mặt
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Dương Thị Phương T1, sinh năm 1985; địa chỉ: D T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); Có mặt.
- Ông Trần Văn K, sinh năm 1956; địa chỉ: D T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); Vắng mặt.
- Ông Võ P; địa chỉ: B Weatha Ave Watertown N; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Q; địa chỉ: B Weatha Ave Watertown N; Vắng mặt.
- Ông Võ K1, sinh năm 1949; địa chỉ: G O, B, C, USA. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Võ Thị X trình bày:
Nguồn gốc nhà và đất tại địa chỉ 2 T nay là D T, phường T, quận P, thành phố H là do bà được nhận từ vợ chồng anh trai bà là ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q. Năm 1986, vợ chồng anh trai bà mua nhà đất tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) theo bản vẽ khu nhà đất do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H lập ngày 28/11/1986. Ngày 11/9/1995, vợ chồng anh trai bà đã cho bà căn nhà đất tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) nói trên. Ông P bà Q cho đứt vĩnh viễn theo Giấy cho nhà ở ông P bà Q lập và ký ngày 11/9/1995. Sau khi được ông P bà Q cho nhà đất, bà đã tiếp nhận và ở đó từ năm 1995. Quá trình sinh sống, gia đình bà đã tự sửa, xây dựng thêm một số phòng trọ cho sinh viên thuê để kiếm thêm thu nhập. Năm 2022, ông Võ Anh T (con trai ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q) đang ở tại A Ông Í, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đến tranh chấp, tạo áp lực buộc gia đình bà phải đi chỗ khác để ông lấy nhà với lý do là nhà của bố ông. Bà X không chịu giao nhà vì nhà đó ông P bà Q đã cho bà ở gần 30 năm và đã xây dựng thêm một số công trình. Ông T gây áp lực gia đình bà, lo sợ sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng nên gia đình bà phải đi ở tạm tại nhà thờ họ tại A Ông Í, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông Võ Anh T buộc gia đình bà phải giao toàn bộ giấy tờ về nhà đất tại D T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế nên gia đình bà giao để đợi chính quyền giải quyết. Ông T đã ký nhận các giấy tờ gồm: Bản gốc Giấy cho nhà ở; tờ bản đồ nhà đất; đơn xin bán nhà của chủ nhà tại 26/5 Trần Quý C; đơn xin làm nhà năm 1983. Tranh chấp xảy ra, bà X đã làm đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày 05/10/2021, Ủy ban nhân dân phường tiến hành làm việc với hai bên đương sự. Ủy ban nhân dân phường kết luận: Các bên không đi đến thống nhất, buổi hòa giải không thành, các đương sự liên hệ cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Vậy nên, bà Võ Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà nhận lại nhà và đất tại 26/5 Trần Quý C (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn ông Võ K1 trình bày:
Cha mẹ ông sinh hạ 8 anh em gồm: Võ Khôi, Võ P, V, Võ H3, Võ L (đều định cư ở Mỹ), Võ Thị X, Võ Thị T2, Võ Thị Đ (đều ở Việt Nam). Năm 1986 gia đình em ông là Võ P đang ở nhà thuê mướn, nên ông đã cho tiền để mua căn nhà đất 2 T, phường T, thành phố H dưới tên em ông là Võ Phước. Trong thời điểm này, Võ P đang ở Việt Nam (hiện nay đang định cư tại Mỹ) vì lúc này việt kiều chưa được phép đứng tên. Việc này trong xóm mọi người đều rõ. Tất cả hồ sơ nhà đất do Võ Phước G cho đến năm 1995 giao lại cho Võ Thị X cất giữ. Năm 1995 ông và hai em là Võ H3, Võ L đã mua lại căn nhà số F Ông Í, phường T, thành phố H. Nay là 137 Ông Í, phường Đ, thành phố H để phụng lập T Võ Tá Tộc C mà thờ tổ tiên ông bà. Để tránh sự lạm dụng riêng tư nên ông đã đồng ý cho tất cả các em còn ở Việt Nam đồng đứng tên trong giấy mua căn nhà này gồm Võ P, Võ H4, Võ Thị X, Võ Thị T2, Võ Thị Đ1. Sau khi hoàn tất thủ tục mua bán, ông đã ủy quyền cho em kế ông là Võ P ở để trực tiếp hương khói tổ tiên, ông bà (trong ngày tân gia, cúng Tổ tiên nhập tự, thì Võ P đã đứng trước bàn thờ đọc giấy Ủy quyền của ông và giấy Xác nhận của P trước sự chứng kiến của những vị có thẩm quyền địa phương và gia tộc, video thu lại còn lưu giữ và đã sao chép qua. Trong giấy cam kết Võ P đã đọc và ký tên thì P hoàn toàn không được phép quyết định bất cứ việc gì, mà không qua sự đồng ý của ông K1). Trong thời gian này ngày 11/9/1995 Võ P đã viết giấy cho đứt nhà vĩnh viễn 26/5 Trần Quý C, nay là D T, phường T, quận P, thành phố H cho em gái ông là Võ Thị X, bà X đã ở từ đó đến nay (trên 28 năm) và đã làm đầy đủ nghĩa vụ công dân đối với xóm, phường và nhà nước. Trong thời gian này ông đã cố gắng giúp đỡ xây dựng thêm 5 phòng trọ cho sinh viên thuê để bà X có thêm thu nhập nhỏ mà sinh sống. Trong năm 2022 con trai Võ P là Võ Anh T tranh chấp, yêu cầu gia đình em gái ông là Võ Thị X phải dọn ra, để Võ A T sử dụng, quản lý và xây dựng căn nhà 40 T, phường T, thành phố H, T lấy lý do nhà này là của cha mẹ. Gia đình bà X không đồng ý vì nhà này do Võ P và Nguyễn Thị Q đã ký giấy cho đứt từ 11/9/1995 rồi mặc dù nhà này là ông Võ K1 bỏ tiền ra mua. Nên ông Võ Anh T không đủ tư cách pháp lý đòi lại sử dụng được. Vì biết rằng nhà này do ông K1 mua nên vợ chồng Võ P yêu cầu ông can thiệp nói với Võ Thị X viết giấy “Trả lại nhà” cho Võ Phước. Ông K1 không đồng ý, lý do là lúc gia đình P nghèo khó ông đã cho tiền mua để ở, nay đã định cư nước ngoài cuộc sống ổn định, con cái đầy đủ tiện nghi, thì phải giúp đỡ cho em mình đang nghèo khó và bệnh hoạn không đủ tiền thang thuốc, nếu giao nhà lại cho P, thì em Võ Thị X đi về đâu khi không có nơi che nắng che mưa. Ông Võ K1 đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn – ông Võ Anh T trình bày:
Nguồn gốc thửa đất và nhà ở tại địa chỉ 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) là của cha mẹ ông là ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q mua từ bà Lê Thị C1 vào năm 1986 (bà C1 mua lại từ ông Nguyễn X1).
Vào ngày 11/9/1995 cha ông là ông Võ P do thấy bà Võ Thị X (em gái ông P) không có nhà ở nên cho đến ở nhờ tại ngôi nhà riêng tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H). Để tiện việc chuyển đến ở và làm hợp đồng điện nước nên cha ông có viết giấy “cho nhà ở” có nội dung “là Võ Thị Xuân tiện việc trong khi làm giấy tờ nhà đất và khai báo chính quyền đổi hộ khẩu”. Sau khi bà X chuyển đến ở và bắt điện nước ổn định, đến ngày 08/9/1998 cha ông làm lại giấy ủy quyền chỉ cho vợ chồng bà X ở nhờ đến hết đời có nội dung “là Võ Thị X và chồng là Trần Văn K được quyền sử dụng và xây dựng căn nhà nói trên đến hết đời và không có quyền mua bán hay trao đổi”, thay cho tờ giấy cho nhà ở trước đây. Giấy ủy quyền này đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T xác nhận, nhằm tạo điều kiện cho bà X được ăn ở ổn định trong ngôi nhà của cha mẹ tôi.
Hiện nay vợ chồng cô Võ Thị X và ông Trần Văn K không muốn ở nhờ nhà của cha mẹ ông nữa. Hơn nữa do nhà cửa tại 26/5 Trần Quý C (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) xây dựng đã quá lâu, bị hư hỏng quá nhiều cần phải sửa chữa lại nên vợ chồng bà X đã chuyển đến ở tại A Ông Í, phường T, thành phố H (là ngôi nhà trước đây vợ chồng cha mẹ ông và ông T đang ở, ngôi nhà này có nguồn gốc là nhà chung của tất cả anh chị em trong gia đình giữa cha tôi cùng bà X và những người khác).
Do có sự thống nhất giữa ông P và vợ chồng bà X, nên vợ chồng bà Võ Thị X, ông Trần Văn K tự nguyện trả lại toàn bộ nhà đất đã ở tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) cho ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q, kể cả những tài sản sửa chữa làm thêm trên thửa đất trong quá trình ở nhờ. Việc giao nhận nhà đất này do cha mẹ ông T hiện đang định cư tại Hoa Kỳ từ năm 2021 đến nay, nên ủy quyền cho vợ chồng ông Võ Anh T và Dương Thị Phương T1 trực tiếp giao nhận với vợ chồng bà Võ Thị X và ông Trần Văn K, để quản lý sửa chữa và chuyển gia đình đến ở tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H); còn ngôi nhà tại A Ông Í giao cho gia đình bà X đến ở.
Việc giao nhận giữa hai nhà diễn ra vào ngày 07/8/2022 có sự chứng kiến của ông Võ M (chú của ông T). Đồng thời sau khi giao nhà thì vợ chồng bà X ông K đã giao lại toàn bộ giấy tờ mà ông Võ P đã viết cho bà X và có lập “giấy ký nhận” hai bên cùng ký vào giấy ký nhận và có mời ông Võ Minh V làm chứng.
Sau khi gia đình ông T chuyển về sửa chữa lại ngôi nhà của cha mẹ ông T và ở ổn đinh, bà X và ông K không có tranh chấp hay ý kiến gì, đến ngày 19/11/2022 công an phường T đã xác nhận thông tin về cư trú cho gia đình ông T.
Ông T nhận thấy việc bà X tranh chấp đòi lại tài sản nhà đất với ông là không có cơ sở và không đúng thực tế; vì quyền sở hữu về ngôi nhà và quyền sử dụng đất này là của cha mẹ ông là ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q cho vợ chồng bà X ở nhờ (hiện nay cha mẹ ông đang định cư tại Hoa Kỳ). Còn ông T là người được cha mẹ ủy quyền nhận lại nhà để ở khi vợ chồng bà X giao lại.
Ông đề nghị Tòa án không chấp nhận và bác đơn yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị X.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – bà Dương Thị Phương T1 thống nhất ý kiến với bị đơn – ông Võ Anh T.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn ông Trần Văn K trình bày:
Bà Võ Thị X (vợ của ông K) là em gái của ông Võ Phước. Ông Võ Phước N đã xuất cảnh và cư trú ở Mỹ. Năm 1995 ông Võ P và vợ là bà Nguyễn Thị Q cho vợ chồng ông K khu nhà đất số B T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) theo Giấy cho nhà ở được vợ chồng ông Võ Phước K2 ngày 11/9/1995. Sau khi được vợ chồng ông P cho nhà ở, gia đình ông K bà X chuyển về sinh sống ở đó từ năm 1995. Hiện trạng nhà khi ông bà về ở là nhà cấp 4 ba gian đã xuống cấp. Điện câu từ nhà bà H4. Nước thì đi gánh ở trong xóm. Nên ông bà phải sửa chữa lại và bắt điện, nước bằng đồng hồ chính. Sau đó ông bà có xây dựng thêm một cái gác 05m x 07m để chống lũ lụt và 05 phòng nhỏ cho sinh viên thuê trọ được chính quyền địa phương đồng ý. Từ năm 1995 đến năm 2022 gia đình ông bà sống trong ngôi nhà vợ chồng ông P cho, yên ổn làm ăn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước và các quy định của chính quyền địa phương, không có ai khiếu nại, tranh chấp gì về nhà ở. Gần đây vào khoảng tháng 05/2022 năm đứa con rể của gia đình ông đã đóng góp tiền và công sức trong đó có ông Võ Minh Ở cùng xóm (là con chú bác) cũng sang làm giúp các con rể nhà ông K. Ông K đã mua tồn lợp lại toàn bộ nhà cửa, thay tồn cho 05 phòng trọ, thay tồn gác và lợp mái hiên toàn tồn mới. Ông K cho rằng lời khai của ông T nói khi dọn đến ở nhà xuống cấp và tồn bị dột hết là không đúng. Bởi vì nếu có dột thì chỉ có phía sau lưng nhà đường ra toilet bởi toàn tồn hạt mè. Còn phòng trọ cho sinh viên thuê và nhà lớn 5x7 mà gia đình ông K đang ở không có dột vì mới thay toàn bộ tồn. Ông Võ Anh T đã vào ở tại ngôi nhà ở D T đã tự ý tháo dỡ toàn bộ nhà cửa và một số tồn đem đi bán hết mà không báo cho ông K bà X biết. Buộc ông Võ Anh T phải bồi thường cho vợ chồng ông K bà X. Khoảng vào đầu tháng 08/2022, ông Võ Anh T (con trai ông Võ P) ở tại A Ông Í, phường Đ, thành phố H đến tranh chấp tạo mọi áp lực buộc gia đình ông K bà X phải đi chỗ khác để vợ chồng ông T vào ở. Với lý do đó là nhà của bố ông T (ông P). Gia đình ông K bà X không đồng ý vì vợ chồng ông P đã lập giấy cho vợ chồng ông K bà X. Vợ chồng ông bà đã ở từ năm 1995. Nhà cửa đã được ông bà sửa sang xây dựng lại và làm thêm 05 phòng trọ cho sinh viên thuê để kiếm thêm thu nhập. Vợ chồng ông T đã nhiều lần đến nhà gây áp lực và buộc gia đình ông K bà X phải giao nhà. Vợ chồng ông T đã liên lạc với ông P và anh trai của ông P là ông K1 (ông K1 là anh ruột của bà Võ Thị X) hiện đang ở Mỹ yêu cầu can thiệp. Ông T còn hăm dọa nếu bà X không ra khỏi nhà thì ông sẽ đập phá nhà thờ. Trước tình hình căng thẳng với nguy cơ xảy ra hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản nên ông K1 (anh bà X) đã bảo ông K bà X chuyển ra nhà thờ ở số A Ông Í, phường Đ, thành phố H ở tạm. Nếu hai bên không tự giải quyết được thì yêu cầu Nhà nước giải quyết theo quy định của pháp luật. Gia đình ông K bà X buộc phải chuyển về ở tại địa chỉ A Ông Í ở trên. Ông Võ Anh T đã buộc gia đình ông K bà X giao bản gốc về giấy tờ hồ sơ nhà đất tại D T, phường T, thành phố H gồm: Bản gốc Giấy cho nhà ở của vợ chồng ông P, bản gốc Đơn xin bán nhà, bản gốc Đơn xin làm nhà, bản gốc Hợp đồng điện đứng tên Trần Văn K, bản gốc Hợp đồng nước đứng tên Võ Thị X và một số hóa đơn tiền điện, tiền nước khác. Ông K nhận thấy nhà đất ở tại D T đã được vợ chồng ông P đã cho vợ chồng ông năm 1995 nên gia đình ông đã ở và xây dựng cải tạo lại. Vợ chồng ông T không có quyền buộc vợ chồng ông phải giao lại nhà. Việc ông T vào ở nhà ở D T là bất hợp pháp. Ông K là người đã đóng góp công sức và là người trực tiếp giao các hồ sơ tài liệu về nhà đất cho ông Võ Anh T.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn: Bà Dương Thị Phương T1 cùng thống nhất như ý kiến trình bày của bị đơn.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ P trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất và nhà ở tại địa chỉ: 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) nguyên trước đây được bà Lê Thị C1 mua lại từ ông Nguyễn Xệu .1 Đến năm 1986, bà Lê Thị C1 bán lại căn nhà trên cho ông và vợ là Nguyễn Thị Q (có giấy bán nhà, giấy cam kết, giấy cam đoan, biên bản nhận tiền bán nhà đính kèm). Sau đó, ông cùng vợ và các con sinh sống ổn định và không có ai tranh chấp. Đến ngày 11/9/1995, do thấy cô em gái là Võ Thị X làm dâu trong một gia đình có điều kiện sinh hoạt khó khăn, đông con, nhà ở chật chội nên ông cho gia đình cô X đến ở nhờ tại ngôi nhà riêng của mình tại số B T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H). Để tiện việc chuyển đến ở, ổn định việc học hành của các cháu và làm hợp đồng bắt điện nước nên ông có viết giấy “cho nhà ở”. Để cho bà X “khai báo chuyển đổi hộ khẩu”. Sau khi gia đình bà X chuyển đến ở và bắt điện nước ổn định, đến ngày 08/09/1998 ông làm lại giấy ủy quyền chỉ cho vợ chồng bà X ở nhờ đến hết đời, hủy giấy cho nhà ở ngày 11/9/1995, chỉ ủy quyền cho vợ chồng cô em ruột “là Võ Thị X và chồng là Trần Văn K được quyền sử dụng và xây dựng căn nhà nói trên đến hết đời và không có quyền mua bán hay trao đổi” và “để cho em tôi tiện việc trong khai báo và chuyển đổi hộ khẩu tại địa phương”. Giấy ủy quyền này được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T xác nhận. Đến giữa tháng 5/2021, vợ chồng ông sang định cư tại Hoa Kỳ. Do đó, vợ chồng ông mong muốn gia đình con trai Võ Anh T chuyển về ở tại căn nhà tại số B T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) và đây cũng là ước vọng của T. Hơn nữa do nhà cửa tại 26/5 Trần Quý C xây dựng đã quá lâu, xuống cấp cần phải sửa chữa lại nên ông đã thống nhất với vợ chồng bà X, để gia đình bà X chuyển đến ở tại A Ông Í, phường T, thành phố H (là ngôi nhà trước đây ông ở, ngôi nhà này có nguồn gốc là nhà chung của tất cả anh chị em trong gia đình giữa cha ông cùng bà X và những người khác). Việc gia đình bà X trả lại toàn bộ nhà đất đã ở nhờ tại 2 T cho vợ chồng ông, kể cả những tài sản sửa chữa làm thêm trên thửa đất trong quá trình ở nhờ là hoàn toàn tự nguyện. Việc giao nhận nhà đất này do con trai và con dâu ông là Võ Anh T và Dương Thị Phương T1 trực tiếp giao nhận với vợ chồng bà X, ông K (có giấy ủy quyền) do hiện nay vợ chồng ông đang định cư tại Hoa Kỳ. Sau khi gia đình bà X chuyển ra ở tại A Ông Í, phường T, thành phố H thì gia đình con trai ông chuyển về sửa chữa lại ngôi nhà của vợ chồng ông và ở ổn định, bà X, ông K không có tranh chấp hay ý kiến gì, đến ngày 19/11/2022 Công an phường T đã xác nhận thông tin về cư trú cho gia đình ông Võ Anh T. Hiện nay, ông không hiểu tại sao cô X lại khởi kiện kiện đòi lại nhà và đất tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H), vì thực tế quyền sở hữu về ngôi nhà và quyền sử dụng đất trên là của vợ, chồng ông, chỉ cho vợ chồng bà X ở nhờ. Do đó, ông P đề nghị Tòa án không chấp nhận và bác đơn yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị X.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn bà Nguyễn Thị Q đồng quan điểm với ý kiến của ông Võ Phước.
Tại Biên bản định giá tài sản ngày 08/8/2023 và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản xác định:
- Giá trị đất theo giá thị trường là: Diện tích đất 150m², đơn giá 9.500.000đ/m². Thành tiền là: 1.425.000.000 đồng
- Tài sản trên đất gồm:
- - Nhà ở: thuộc nhóm nhà cấp 4, 01 tầng + gác lửng, diện tích xây dựng 114m², diện tích gác lửng 36,7m², đơn giá 3.869.908đ/m², chất lượng còn lại 55%. Có giá trị là: 305.134.506 đồng.
- - Mái cho, khung thép, mái lợp tôn, nền xi măng: diện tích 15m², đơn giá 562.396đ/m², chất lượng còn lại 80%. T3 tiền là: 7.949.000 đồng
- - Hàng rào xây gạch kết hợp với khung phép phía trên: diện tích 09m², đơn giá 779.492đ/m², chất lượng còn lại 50%. Thành tiền là: 3.507.714 đồng.
- - 02 lá cửa sắt có giá: 250.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản trên đất là: 316.841.220 đồng.
Quá trình giải quyết các bên đương sự thống nhất với biên bản Hội đồng đã định giá. Bị đơn đề nghị xem xét việc việc cải tạo, sửa chữa và xây 05 phòng trọ cho thuê và có ý kiến nếu không được chấp nhận thì yêu cầu công sức gìn giữ, cải tạo, đóng góp, sửa chữa là 2 tỷ đồng nhưng bị đơn không đồng ý.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và bị đơn trình bày luận cứ bảo vệ cho đương sự ( có luận cứ kèm theo ).
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự không vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục.
Về nội dung: Về nguồn gốc tài sản nhà và đất tranh chấp:
Ngôi nhà và đất tại địa chỉ số D T (trước đây là số B T), phường T, thành phố H (nay là quận P), tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), số thửa 237, tờ bản đồ số 26, diện tích 150m² do bà Lê Thị C1 mua lại của ông Nguyễn X1 và kê khai đăng ký chủ sở hữu.
Năm 1986 bà Lê Thị C1 viết Giấy bán nhà cho vợ chồng ông Võ P, bà Nguyễn Thị Q (có giấy bán nhà, giấy cam kết, cam đoan của bà C1). Việc mua bán có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T. Hai bên đã lập biên bản giao nhận tiền ngày 17/12/1986, theo đó bà C1 đã nhận đủ tiền và giao nhà ở cho ông P, bà Q sở hữu, quản lý.
Sau khi nhận chuyển nhượng nhà đất, ông Võ P, bà Nguyễn Thị Q sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai. Đến ngày 11/9/1995 do thấy em gái là bà Võ Thị X làm dâu trong gia đình có điều kiện sinh hoạt khó khăn, đông con, nhà ở chật chội nên ông P cho bà X đến ở nhờ tại số B T. Đồng thời để tiện cho việc khai báo hộ khẩu và bắt điện nước, ông P viết giấy cho nhà ở ghi ngày 11/9/1995 với nội dung: “Nay vợ chồng tôi là Võ P, Nguyễn Thị Q đồng thuận cho em gái tôi là Võ Thị X căn nhà số B T (cho đứt vĩnh viễn)”.
Sau khi được ông Võ Phước V1 giấy cho nhà đất, bà Võ Thị X cùng chồng Trần Văn K và các con đến sinh sống tại nhà đất tại địa chỉ trên.
Ngày 08/9/1998, ông Võ Phước L1 lại Giấy ủy quyền (cho nhà ở) với nội dung bà Võ Thị X và ông Trần Văn K được quản lý, sử dụng và xây dựng căn nhà tại 26/5 Trần Quý C đến hết đời và không có quyền mua bán hay trao đổi. (Giấy ủy quyền này được UBND phường T xác nhận, đề nghị Sở điện quan tâm giải quyết việc hợp đồng điện).
Như vậy, quyền sở hữu nhà đất tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) là của ông Võ P, bà Nguyễn Thị Q. Mặc dù năm 1995 ông P đã lập Giấy cho nhà ở và năm 1998 lập Giấy ủy quyền với nội dung cho bà X quản lý, sử dụng đến hết đời, không được quyền mua bán hay trao đổi. Tuy nhiên xét thấy bản chất của việc viết giấy là ông P đồng ý cho vợ chồng bà X, ông K ở nhờ để thuận tiện cho việc kê khai đăng ký tạm trú và hợp đồng điện, nước. Mặt khác tại đơn xin tạm trú của ông Trần Văn K gửi Công an phường T ông K cũng xác nhận việc gia đình ông đến tạm trú tại nhà anh ruột vợ cho ở. Ngoài ra, khi ông Võ Phước V1 giấy và cho vợ chồng bà X đến ở tại 2 T thì ông không giao các giấy tờ mua bán nhà kèm theo mà vẫn quản lý các giấy tờ trên.
Đối với lời trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Võ K1 về việc nguồn gốc số tiền mua nhà đất tại 26/5 Trần Quý C là do ông K1 gửi tiền từ Hoa Kỳ về để ông P đứng tên mua nhưng ông không cung cấp được tài liệu chứng minh nên không có cơ sở xem xét.
Đối với việc ông Võ P, bà Nguyễn Thị Q ủy quyền cho vợ chồng con trai là Võ Anh T, Dương Thị Phương T1, nội dung ủy quyền là bên được ủy quyền ký kết và làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bên ủy quyền. Trên thực tế anh Võ Anh T chỉ tiến hành ký kết hợp đồng để cải tạo, sữa chữa lại căn nhà số B T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) để sử dụng còn quyền sở hữu ngôi nhà và quyền sử dụng đất nói trên vẫn thuộc về ông Võ P, bà Nguyễn Thị Q. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị X yêu cầu Tòa án tuyên buộc anh Võ Anh T trả lại tài sản nhà đất tại 2 T là không đúng đối tượng khởi kiện và không có cơ sở để chấp nhận.
Xét việc vợ chồng bà Võ Thị X, ông Trần Văn K, sau khi được ông P, bà Q cho ở nhờ tại ngôi nhà 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) từ năm 1995 đến 2022 là 27 năm đã có công sức quản lý, gìn giữ tài sản.
Tại phiên tòa sơ thẩm cả hai đương sự đều thừa nhận khi vợ chồng bà X ông T dọn về ở là nhà cấp 4 mái tôn, quá trình sử dụng vợ chồng bà X ông T xây thêm gác lửng và 05 phòng trọ cho sinh viên thuê và có sửa chữa thêm một số cửa ngõ.
Ngày 02/9/2022, sau khi lấy lại nhà và đất nói trên ông Võ Anh T đã phá dở để cải tạo, sữa chữa lại căn nhà và vợ chồng ông Võ Anh T, bà Dương Thị Phương T1 vào sinh sống từ đó cho đến nay.
Nên, cần xem xét trích công sức đóng góp, tôn tạo, quản lý, gìn giữ tài sản tranh chấp cho vợ chồng bà Võ Thị X, ông Trần Văn K là 70% giá trị tài sản trên đất tương ứng: 221.788.854 đồng (316.841.220đ x 70%) và từ 10% đến 15% giá trị đất cho vợ chồng bà Võ Thị X, ông Trần Văn K theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, đề nghi HĐXX căn cứ: Điều 26, Điều 37, 39, 469, 474, 475, 477, 476, 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 139 Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 31 Luật đất đai năm 1993, Điều 11 Pháp lệnh nhà ở năm 1991; Nghị quyết số 326/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án để giải quyết vụ án theo hướng:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Anh T trả lại nhà và đất tại D T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H).
- Buộc bị đơn ông Võ Anh T phải bồi thường cho vợ chồng bà Võ Thị X, ông Trần Văn K số tiền 221.788.854 đồng giá trị tài sản trên đất và công sức quản lý, gìn giữ, bồi đắp, tôn tạo từ 10% đến 15% giá trị đất tranh chấp.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng :
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q hiện đang ở nước ngoài nên thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q đã có bản tự khai và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu đòi lại nhà và đất tọa lạc tại 26/5 Trần Quý C, (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) thấy rằng :
Căn cứ lời khai của các bên đương sự đều thừa nhận nhà và đất tọa lạc tại 2 T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) có nguồn gốc do ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q mua lại từ bà Lê Thị C1 (bà C1 mua lại từ ông Nguyễn X1) và kê khai đăng ký chủ sở hữu.
Phía bà Võ Thị X và ông Trần Văn K cho rằng nhà và đất tại địa chỉ 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H), là do ông bà được nhận từ vợ chồng anh trai là ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q. Năm 1986, vợ chồng anh trai bà mua nhà đất tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) theo bản vẽ khu nhà đất do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H lập ngày 28/11/1986. Ngày 11/9/1995, vợ chồng anh trai bà đã cho bà căn nhà đất tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) nói trên. Sau khi được ông P bà Q cho nhà đất, bà đã tiếp nhận và ở đó từ năm 1995. Quá trình sinh sống, gia đình bà đã tự sửa, xây dựng thêm một số phòng trọ cho sinh viên thuê để kiếm thêm thu nhập. Năm 2022, ông Võ Anh T (con trai ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q) đang ở tại A Ông Í, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đến tranh chấp, tạo áp lực buộc gia đình bà phải đi chỗ khác để ông lấy nhà với lý do là nhà của bố ông. Bà X không chịu giao nhà vì nhà đó ông P bà Q đã cho bà ở gần 30 năm và đã xây dựng thêm một số công trình.
Phía bị đơn ông Võ Anh T cùng người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q cho rằng nguồn gốc thửa đất và nhà ở tại địa chỉ: 2 T (nay là D T, phường T, quận P. thành phố H) nguyên trước đây được bà Lê Thị C1 mua lại từ ông Nguyễn Xệu .1 Đến năm 1986, bà Lê Thị C1 bán lại căn nhà trên cho vợ chồng ông P. Đến ngày 11/9/1995, vợ chồng ông P do thấy cô em gái là Võ Thị X hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng ông cho gia đình bà X đến ở nhờ tại 2 T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H). Để tiện việc chuyển đến ở ổn định nên ông P có viết giấy “cho nhà ở”. Đến ngày 08/09/1998 ông làm lại giấy ủy quyền chỉ cho vợ chồng bà X ở nhờ đến hết đời, hủy giấy cho nhà ở ngày 11/9/1995, chỉ ủy quyền cho vợ chồng cô em ruột “là Võ Thị X và chồng là Trần Văn K được quyền sử dụng và xây dựng căn nhà nói trên đến hết đời và không có quyền mua bán hay trao đổi” và “để cho em tôi tiện việc trong khai báo và chuyển đổi hộ khẩu tại địa phương”. Giấy ủy quyền này được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T xác nhận. Đến giữa tháng 5/2021, vợ chồng ông sang định cư tại Hoa Kỳ. Do đó, vợ chồng ông mong muốn gia đình con trai Võ Anh T chuyển về ở tại căn nhà tại số B T (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) và đây cũng là ước vọng của T.
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cụ thể tại Giấy bán nhà năm 1986, Giấy cam đoan, Biên bản nhận tiền bán nhà của bà Lê Thị C1 thể hiện người mua nhà là ông Võ Phước. Ngoài ra, các tài liệu khác như: Đơn xin mua nhà vào ngày 28/9/1986, T4 khai nộp thuế đất vào ngày 11/12/1992, Thông báo nộp thuế ngày 20/8/1993, Biên lai thu thuế sử dụng đất ngày 6/4/1997 cùng các tài liệu, chứng cứ khác liên quan đến việc đóng thuế sử dụng đất từ năm 1992 – 1997 đều thể hiện người nộp là ông Võ Phước. Vậy nên có căn cứ cho rằng nguồn gốc nhà và đất tọa lạc tại 2 T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là D T, phường T, quận P, thành phố H) là do ông bà Võ P và bà Nguyễn Thị Q mua lại từ bà Lê Thị C1 và thuộc sở hữu của ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q. Việc mua bán có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T. Hai bên đã lập biên bản giao nhận tiền ngày 17/12/1986, theo đó bà C1 đã nhận đủ tiền và giao nhà ở cho ông P, bà Q sở hữu, quản lý.
Tại các bản tự khai của ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q đều thể hiện việc ông bà làm giấy cho nhà ở để tiện việc sinh hoạt ổn định cho gia đình bà Võ Thị X và sau khi ông P bà Q sang Mỹ mong muốn gia đình con trai mình sẽ về ở lại 26/5 Trần Quý C (nay là D T), phường T, quận P thành phố H.
Đối với việc ông Võ P, bà Nguyễn Thị Q ủy quyền cho vợ chồng con trai là Võ Anh T, Dương Thị Phương T1, nội dung ủy quyền là bên được ủy quyền ký kết và làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bên ủy quyền. Trên thực tế anh Võ Anh T chỉ tiến hành ký kết hợp đồng để cải tạo, sữa chữa lại căn nhà số B T (nay là D T) để sử dụng, còn quyền sở hữu ngôi nhà và quyền sử dụng đất nói trên vẫn thuộc về ông Võ P, bà Nguyễn Thị Q. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị X yêu cầu Tòa án tuyên buộc anh Võ Anh T trả lại tài sản nhà đất tại 2 T là không đúng đối tượng khởi kiện và không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với lời khai của ông Võ K1 về việc nguồn gốc số tiền mua nhà đất tại 26/5 Trần Quý C là do ông K1 gửi tiền từ Hoa Kỳ về để ông P đứng tên mua nhưng ông không cung cấp được tài liệu chứng minh nên không có cơ sở xem xét.
[2.2] Xét công sức tôn tạo, gìn giữ tài sản của bà Võ Thị X thấy rằng:
Trong thời gian bà X cùng gia đình nhận nhà đất tại 2 T (nay là 40 T) từ ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q, bà X đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà và đất nêu trên qua các tài liệu biên lai thu thuế đất,... Quá trình sinh sống, gia đình bà đã tự sửa, xây dựng thêm một số phòng trọ cho sinh viên thuê để kiếm thêm thu nhập. Ngoài ra, còn xây dựng thêm một cái gác để chống lũ lụt.
Qua xem xét thẩm định định giá thì xác định hiện nay tài sản trên đất gồm: Nhà ở: thuộc nhóm nhà cấp 4, trong có 01 tầng gác lửng, có kết cấu tường xây gạch, nhà lợp tôn, nền lát gạch men xi măng; mái che khung thép, mái lợp tôn, nền xi măng; Hàng rào xây gạch, kết hợp với khung thép phía trên; 02 lá cửa sắt. Các bên thừa nhận sau khi gia đình anh T vào ở đã cải tạo lại như hiện trạng hiện nay, Hội đồng xác định không thể tách các phòng trọ trước đây để xem xét mà định giá chung như hiện trạng và xem xét công sức cải tạo sửa chữa cho bà X.
Xét công sức giữ gìn và tôn tạo của bà X, ông K : Đây là tài sản mà bà X và ông K đã tôn tạo, giữ gìn và sửa chữa ở trong thời gian từ năm 1995 đến năm 2022, nên cần xem xét công sức, tuy nhiên quá trình sử dụng gia đình bà X cũng có hưởng lợi từ việc kinh doanh phòng trọ nên xét cho gia đình bà được hưởng 60% phần tài sản trên đất và 10% giá trị tài sản quyền sử dụng đất.
Như vậy vợ chồng ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q có nghĩa vụ thanh toán phần công sức, gìn giữ và tôn tạo cho vợ chồng bà X, ông K số tiền là : (316.841.220 đồng x 60%) + (1.425.000.000đồng x 10% ) = 332.604.132đồng.
[3] Về chi phí định giá tài sản là 4.500.000đồng, do yêu cầu không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu, nguyên đơn đã nộp 5.000.000đồng, đã nhận lại số tiền 500.000 đồng chi phí còn lại sau định giá.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên bà Võ Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đồng.
Ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán công sức là : 332.604.132đồng x 5% = 16.630.206đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 273 Điều 26, Điều 37, 39, 469, 474, 475, 477, 476, 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 139 Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 31 Luật đất đai năm 1993, Điều 11 Pháp lệnh nhà ở năm 1991; Nghị quyết số 326/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị X về việc đòi lại nhà đất cho ở nhờ.
- Buộc vợ chồng ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q có nghĩa vụ thanh toán phần công sức, gìn giữ và tôn tạo cho vợ chồng bà X, ông K số tiền là : 332.604.132đồng.
- Về án phí: Bà Võ Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
Ông Võ P và bà Nguyễn Thị Q phải chịu án phí 16.630.206đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản lãi, theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Những đương sự đang cư trú tại nước ngoài và vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Vũ Tiến |
Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp đòi lại tài sản nhà và đất
- Số bản án: 03/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản nhà và đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản nhà và đất (có yếu tố nước ngoài)
