|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/DS-ST Ngày 14/2/2025 V/v: T/c hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Kim Phượng
bà Quách Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Quang Minh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư : Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 86/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST- DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư tỉnh Ninh Bình; Thông báo thay đổi lịch xét xử số 02/2025/TB-TA ngày 02/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 02/2025/QĐST ngày 21/01/2025, giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: B - B N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H- Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh N2 (Văn bản uỷ quyền số 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP S). Người được ủy quyền lại: Ông Lê Khắc H1 và ông Đỗ Huy T; địa chỉ: Số H T, phường T, thành phố H tỉnh Ninh Bình (Văn bản uỷ quyền số 01/2025/UQ-CNNB ngày 03/2/2025 của Giám đốc Ngân hàng S1 chi nhánh N2)
1
- Bị đơn: anh Phan Xuân N, sinh năm 1986 và chị Trần Thị H2, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: Số nhà E, ngõ D, đường P, Phố T, phường B, thành phố N ( nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình.
(Tại phiên tòa có mặt ông T, chị H2; vắng mặt ông H1, anh N)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền lại, ông Đỗ Huy T, trình bày:
Ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 (dưới đây gọi là khách hàng) có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh N2 (S1) như sau:
1.1 Hợp đồng cấp tín dụng số [...] ký ngày 15/12/2022 Số tiền vay: 600.000.000 đồng (bằng chữ: Sáu trăm triệu đồng chẵn) đã nhận nợ vay theo Giấy nhận nợ số LD2234900226 ngày vay 15/12/2022 ngày đến hạn 15/12/2028. Thời hạn vay: 72 tháng, lãi suất: 03 tháng đầu tiên kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng dẫn chiếu nêu trên là: 18%/năm. Tại thời điểm bắt đầu tháng thứ 04 trở đi, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay sẽ được S1 điều chính theo định kỳ 03 tháng/lần và bằng lãi suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay được S1 niêm yết tại www.S1.com.vn thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 8%/năm. Mục đích vay vốn của khách hàng là mua xe ô tô. Biện pháp bảo đảm tiền vay: 01 chiêc xe ô tô, Nhãn hiệu: FORD, Số loại: TERRITORY, Số chỗ ngồi: 5, Màu sơn: đỏ, Số máy: N9G079513, Số khung: RL0SCYD7MNRR30761; Biển kiểm soát: 35A-323.07. Giấy tờ pháp lý: Chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 35013918 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 09/12/2022 mang tên Trần Thị H2.
Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân đầu tiên đến ngày khởi kiện, khách hàng là ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi và gốc 300.016.644 đồng (Lãi là 150.016.644 đồng; Gốc 150.000.000 đồng). Tháng 12/2023, khách hàng bắt đầu chậm thanh toán, đến tháng 8 năm 2024, do khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh N2 đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn và bắt đầu tính lãi phạt chậm trả.
Tính đến ngày 14/02/2025, khách hàng ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 còn nợ Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng này là: 488.166.233 đồng trong đó: tiền gốc là 450.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn chưa trả là 33.981.769 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.475.171 đồng, lãi phạt quá hạn 709.293 đồng.
1.2 Thẻ tín dụng
2
a) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng số 2463845 ngày 20/12/2022 mang tên ông Phan Xuân N.Loại thẻ: Visa platinum C1, hạn mức: 100.000.000 đồng, món vay hiện đang quá hạn nhóm 3 (Nợ xấu). Tài sản bảo đảm: gắn theo Tài sản bảo đảm của khoản vay Hợp đồng tín dụng/hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 15/12/2022
Trong quá trình giao dịch thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay khách hàng ông Phan Xuân N đã giao dịch số tiền 119.456.000 đồng và thanh toán cho Ngân hàng số tiền (gốc/lãi) 55.051.409 đồng. Qua nhiều lần nhắc nợ nhưng khách hàng vẫn không trả nợ. Tháng 12/2023, do khách hàng ông Phan Xuân N vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh N2 đã chuyển toàn bộ số nợ vay thẻ tín dụng sang nợ quá hạn:
Tính đến ngày 14/02/2025, khách hàng ông Phan Xuân N còn nợ Ngân hàng số tiền 128.337.071 đồng, trong đó tiền gốc là 110.970.995 đồng, tiền lãi quá hạn là 17.366.076 đồng.
b) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiểm hợp đồng số 2458128 ngày 15/12/2022 mang tên Trần Thị H2, loại thẻ: Visa platinum C1, hạn mức : 50.000.000 đồng, món vay hiện đang quá hạn nhóm 3 (Nợ xấu)
Trong quá trình giao dịch thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay khách hàng bà Trần Thị H2 đã giao dịch số tiền 55.000.000 đồng và thanh toán cho Ngân hàng số tiền (gốc/lãi) 26.601.455 đồng. Qua nhiều lần nhắc nợ nhưng khách hàng vẫn không trả nợ. Tháng 12/2023, do khách hàng Bà Trần Thị H2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP S2 - Chi nhánh N2 đã chuyển toàn bộ số nợ vay thẻ tín dụng sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 14/02/2025, khách hàng Trần Thị H2 còn nợ Ngân hàng S1 số tiền là: 69. 854.955 đồng, trong đó: tiền gốc là 56.356.728 đồng, tiền lãi quá hạn là:13.498.227 đồng.
Trong quá trình vay, từ khi bắt đầu giao dịch với S1, khách hàng trả nợ bình thường, thỉnh thoảng có chậm trả 4 đến 6 ngày. Từ kỳ trả nợ tháng 12/2023, khách hàng không đủ khả năng trả nợ, Ngân hàng đã đôn đốc nhắc khách hàng nhiều lần nhưng hiện nay khách hàng không thanh toán cho Ngân hàng. Qua tìm hiểu của Ngân hàng, hiện tại hoạt động kinh doanh của khách hàng không còn nguồn thu không đủ đề trả nợ. Xét thấy khách hàng hiện nay hoạt động kinh doanh suy giảm, khó khăn, đồng thời không còn thiện chí hợp tác trả nợ cho Ngân hàng.
3
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Toà án buộc anh N và chị H2 có nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền còn nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền là 686.358.259 đồng, trong đó: tiền gốc là 617.327.723 đồng, tiền lãi trong hạn: 33.981.769 đồng, tiền lãi quá hạn là: 34.339.474 đồng, tiền lãi chậm trả là 709.293 đồng.
Và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Trong trường hợp ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 không trả được nợ, S1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mại ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
Trường hợp sau khi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền vốn gốc nợ vay, tiền lãi vay, chi phí tòa án, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.
Bị đơn là chị Trần Thị H2 trong bản tự khai thể hiện: Chị và chồng chị là anh Phan Xuân N có ký 01 hợp đồng đề nghị vay tiền của ngân hàng Thương mại cổ phần S theo hợp đồng tín dụng số202226907466 ngày 15/12/2022 số tiền là 600.000.000 đồng, thời hạn vay 72 tháng lãi suất 18%/năm và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng số 2463845 ngày 20/12/2022 mang tên Phan Xuân N. Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng số 2458128 ngày 15/12/2022, hạn mức 50.000.000 đồng. Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân mang tên Phan Xuân N có hạn mức 100.000.000 đồng. Tài sản thế chấp cho các khoản vay của vợ chồng chị là : 01 xe ô tô con nhãn hiệu Ford 05 chỗ ngồi màu đỏ, sản xuất năm 2022, biển kiểm soát 35A-32307 mang tên Trần Thị H2.Quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng chị đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 300.016.644 đồng trong đó lãi là 150.016.644 đồng, tiền gốc là 150.000.000 đồng. Đối với hợp đồng cấp thẻ tín dụng mang tên anh Phan Xuân N đã giao dịch số tiền 119.456.000 đồng, đã thanh toán 55.051.409 đồng. Đối với thẻ tín dụng mang tên chị là Trần Thị H2 đã giao dịch số tiền 55.000.000 đồng, đã trả cho ngân hàng số tiền 26.601.455 đồng ( cả gốc và lãi).
Tính đến ngày 07/8/2024, vợ chồng chị còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 617.743.247 đồng và chị thừa nhận khoản tiền này là tiền vợ chồng chị còn nợ ngân hàng S1. Chị H2 có đưa ra phương án trả nợ và thoả thuận với Ngân hàng, nhưng đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng S1 không nhất trí phương án chị H2 đưa ra.
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện quy định về ra thông báo việc thụ lý vụ án, đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử, xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng, việc xác minh thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, trình tự tố tụng tại phiên toà theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung : Áp dụng 299, 303, 317, 318, 319, 320, 322, 323 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 BLTTDS năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Buộc ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày xét xử 14/02/2025 là 686.358.259 đồng, trong đó: tiền gốc là 617.327.723 đồng, tiền lãi trong hạn: 33.981.769 đồng, tiền lãi quá hạn là: 34.339.474 đồng, tiền lãi chậm trả là 709.293 đồng.
- Trường hợp ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại TERRITORY, số chỗ ngồi 5; màu sơn: đỏ; số máy N9G079513; số khung RL05CYD7MNRR30761; BKS: 35A – 323.03. Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 35013918 do Phòng CSGT Công an tỉnh N cấp ngày 09/12/2022 mang tên Trần Thị H2.
- Về chi phí xem xét thẩm định: ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 5.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng TMCP S không phải nộp án phí đối được trả lại số tiền tạm ứng án phí 14.300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002334 ngày 07/10/2024 tại Chi cục THADS thành phố H.Ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
5
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: ngày 15/12/2022, bà Trần Thị H2 và ông Phan Xuân N có ký hợp đồng tín dụng để vay số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn vay là 72 tháng, lãi suất vay 03 tháng đầu tiên là 18%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150%. Phương thức trả nợ là trả nợ theo kỳ và kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 20/3/2023, các kỳ tiếp theo vào ngày 20 hàng quý. Bà H2 và ông N đã trả được 6 kỳ tổng số tiền gốc là 150 triệu và tiền lãi là 156.322.808 đồng, sau đó thì không trả nữa nên phát sinh tranh chấp. Bị đơn là ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 có địa chỉ tại phường B thành phố N (nay là thành phố H) tỉnh Ninh Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.
[2] Xét hợp đồng tín dụng: bà Trần Thị H2 và ông Phan Xuân N đã ký Giấy đề nghị vay vốn và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân với Ngân hàng Thương mại cổ phần S ( S1) để vay số tiền 600.000.000 đồng mua ô tô nhãn hiệu Ford, bà H2 thừa nhận vợ chồng bà có vay tiền theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thẻ tín dụng. Quá trình vay, ông bà đã trả nợ gốc và nợ lãi được một phần trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thẻ tín dụng. Số tiền là: tiền gốc 150.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 33.981.769 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.475.171 đồng.
Xét thấy: Giấy đề nghị vay vốn và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân do ông N và bà H2 ký sau đó có hợp đồng tín dụng và hợp đồng cấp thẻ tín dụng giữa đại diện ngân hàng S1 và ông N bà H2 cùng ký kết; có hình thức hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự, các điều khoản và điều kiện của hợp đồng. Các bên tham gia ký hợp đồng đều tự nguyện và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự không bị ai ép buộc, nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Mức lãi suất các bên thoả thuận ký kết là 18% không vượt quá lãi suất theo quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng: sau khi số tiền vay được giải ngân, bà H2 và ông N đã thực hiện được một phần nghĩa vụ trả nợ (tính đến ngày 14/02/2025) đối với số tiền gốc trong hợp đồng tín dụng là 306.322.808 đồng trong đó có 150.000.000 đồng tiền gốc và 156.322.808 đồng tiền lãi trong hạn. Đến ngày 20/8/2024, ông N và bà H2 không thanh toán được số tiền nào nên chuyển nợ quá hạn. Đối với thẻ hạn mức tín dụng của ông Phan Văn N1 đã thanh toán được số tiền 55.051.409 đồng, thẻ tín dụng của bà Trần Thị H2 thanh toán được 26.601.455 đồng. Như vậy, ông N1 và bà H2 đã tự nguyện ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thẻ tín dụng, đã thanh toán được một phần gốc, lãi sau đó thì không trả nữa là đã vi
6
phạm nghĩa vụ trả nợ, không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng. Tại phiên toà, bà H2 đề nghị vợ chồng bà sẽ cùng có trách nhiệm thu xếp trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng S1.
[3] Xét hợp đồng thế chấp: Ngày 15/12/2022, ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 đã thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại: TERRITORY, số chỗ ngồi:5, Màu sơn: đỏ, Số máy: N9G079513, Số khung: RL0SCYD7MNRR30761; Biển kiểm soát: 35A-323.07, giấy tờ pháp lý: Chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 35013918 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 09/12/2022 mang tên Trần Thị H2 để đảm bảo cho khoản vay của ông bà. Tài sản này đã được Ngân hàng đăng ký giao dịch bảo đảm. Hợp đồng thế chấp là hợp pháp, nên khi ông N và bà H2 không trả được tiền thì Ngân hàng có quyền đề nghị phát mại tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi vốn.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S xác định: tính đến ngày 14/2/2025, ông Phan Xuân N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền của cả hợp đồng tín dụng và hợp đồng thẻ tín dụng của ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 là 686.358.258 đồng, trong đó nợ gốc là 617.327.723 đồng, nợ lãi trong hạn là 33.981.769 đồng và lãi quá hạn là 34.339.474 đồng, lãi phạt quá hạn là 709.293 đồng. Việc cho vay, cách tính lãi của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật và hợp đồng mà các bên đã ký kết. Như vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Trần Thị H2 và ông Phan Xuân N phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền là 686.358.258 đồng và các khoản lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ. Nếu ông N và bà H2 không thanh toán được số tiền nợ trên thì Ngân hàng S1 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng : Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là bà Trần Thị H2 và ông Phan Xuân N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 phải trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 5.000.000 đồng (là tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 điều 30, khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39, điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 91, điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều
7
8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán, Toà án nhân dân tối cao. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Về nghĩa vụ trả nợ: buộc bà Trần Thị H2 và ông Phan Xuân N phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 14/02/2025 là: 686.358.258 đồng, trong đó nợ gốc là 617.327.723 đồng, nợ lãi trong hạn là 33.981.769 đồng và lãi quá hạn là 34.339.474 đồng, lãi phạt quá hạn là 709.293 đồng; theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thẻ tín dụng ngày 15/12/2022 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Phan Xuân N, bà Trần Thị H2.
- Về án phí: ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 phải chịu 20.000.000 đồng + 4% x (686.358.258 đồng – 400.000.000 đồng) = 31.454.330 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.300.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0002334 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình (nay là thành phố H) tỉnh Ninh Bình.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Nếu ông N và bà H2 vi phạm nghĩa vụ không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô Ford, số loại Territory, 05 chỗ ngồi màu đỏ, biển kiểm soát 35A-323.07 mang tên Trần Thị H2. Theo hợp đồng thế chấp số [...]/HĐTC1 ngày 15/12/2022 ký giữa ông Phan Xuân N, bà Trần Thị H2 và Ngân hàng TMCP S.
Ông Phan Xuân N và bà Trần Thị H2 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành
8
án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Phương |
9
Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về vay nợ ngân hàng
