|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2025/DS-ST Ngày: 14/02/2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM - TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
2. Ông Lê Quí Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Không.
Ngày 14/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 182/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-DS ngày 30/12/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 05/2025/QĐĐST-DS ngày 16/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
Trụ sở: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Tổng Giám đốc
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Huỳnh Minh T - Giám đốc Phòng G thuộc Ngân hàng N Chi nhánh huyện C. (Theo Giấy uỷ quyền số 1223/NHNo.CL.UQ ngày 19/7/2024); Địa chỉ: Quốc lộ A, thôn Đ, xã S, huyện C, Khánh Hòa. (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Đinh T1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện C, Khánh Hòa. (Vắng mặt)
Đại diện theo uỷ quyền ông Huỳnh Kim Đ, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện C, Khánh Hòa. (Theo Giấy uỷ quyền ngày 13/02/2025) (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 10/10/2024, Bản tự khai của đại diện theo uỷ quyền bà Nguyễn Huỳnh Minh T trình bày:
1. Quá trình cấp tín dụng:
A Chi nhánh huyện C Khánh Hòa - Phòng giao dịch KCN S và bà Huỳnh Thị Đinh T1 đã ký kết hợp đồng tín dụng số 4706-LAV-202200830 ngày 06/05/2022 với số tiền vay trên hợp đồng là 200.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng), mục đích vay: Đầu tư cải tạo vườn xoài, lãi suất vay tại thời điểm ký hợp đồng là 10%/năm, lãi suất tại thời điểm khởi kiện 10,2%/năm, dư nợ tại thời điểm khởi kiện là 101.400.000 đồng, lãi đã trả đến ngày 31/03/2024
2. Biện pháp bảo đảm:
Hình thức cho vay tín chấp có giữ hộ tài sản (theo khoản 3 Điều 9 - Cơ chế bảo đảm tiền vay được nêu tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015). Theo đó A Chi nhánh huyện C - Phòng giao dịch KCN S đã giữ hộ 02 tài sản của bà Huỳnh Thị Đinh T1 cụ thể như sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DA 256766, số vào số cấp GCN: CS03916, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 14/01/2021, thửa đất số 188, tờ bản đồ 15; Địa chỉ đất: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DA 256767, số vào số cấp GCN: CS03917, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 14/01/2021, thửa đất số 844, tờ bản đồ 15; Địa chỉ đất: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
3. Việc vi phạm nghĩa vụ:
Quá trình trả nợ đến ngày 29/4/2024 bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi của kỳ thứ 2. Trước khi đến kỳ trả nợ Ngân hàng đã gửi văn bản trước, sau khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp với bà T1, tới ngày 26/8/2024 bà T1 đã trả thêm được 31.600.000 đồng, còn nợ lại gốc quá hạn là 35.400.000 đồng, nợ lãi không đóng. Tạm tính đến hết ngày 06/11/2024 bà T1 đã trả cho Ngân hàng 98.600.000 đồng tiền gốc và 35.409.522 đồng tiền lãi, tổng nợ quá hạn của bà T1 là: 108.880.876 đồng (Bằng chữ: Một trăm lẻ tám triệu, tám trăm tám mươi ngàn, tám trăm bảy mươi sáu đồng); Trong đó: Nợ gốc: 101.400.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 6.511.572 đồng; Nợ lãi quá hạn: 961.321 đồng; Lãi chậm trả lãi: 7.983 đồng.
A chi nhánh huyện C đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu bà Huỳnh Thị Đinh T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng số 4706-LAV-202200830 ngày 06/05/2022.
Tuy nhiên, đến nay bà Huỳnh Thị Đinh T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, lãi cho A, không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với A, không chủ động và không phối hợp xử lý tài sản để trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A, gây khó khăn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của A.
Ngân hàng N đề nghị bà Huỳnh Thị Đinh T1 tất toán khoản vay trong đó gốc: 101.400.000 đồng, lãi (tạm tính đến ngày 06/11/2024): 7.480.876 đồng và các khoản lãi (phí phát sinh nếu có) đến thời điểm bà Huỳnh Thị Đinh T1 trả hết nợ.
Ngân hàng N có nghĩa vụ trả lại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã giữ hộ của bị đơn khi bị đơn đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Theo bản tự khai ngày 14/11/2024 bị đơn Huỳnh Thị Đinh T1 trình bày:
Tôi và Ngân hàng N - Phòng G ký kết hợp đồng tín dụng số 4706-LAV-202200830 ngày 06/05/2022 với số tiền vay trên Hợp đồng là 200.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng), mục đích vay: Đầu tư cải tạo vườn xoài, lãi suất vay tại thời điểm ký Hợp đồng là 10%/năm, với thời hạn là 03 năm. Ngân hàng N đang giữ hộ của tôi 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng như ngân hàng trình bày.
Tôi đã trả được 99.000.000 đồng tiền gốc, lãi trả đủ hàng tháng, đến tháng 05/2024 tôi đã vi phạm hợp đồng với số tiền phải trả là 67.000.000 đồng, số nợ gốc hiện còn nợ là 101.000.000 đồng, và lãi phát sinh. Tôi có phương án trả nợ như sau: Ngày 30/12/2024 sẽ trả số nợ còn lại của kỳ 2. Đến ngày 06/5/2025 sẽ tất toán hết số nợ của kỳ 3. Mong Ngân hàng cho tôi thêm thời gian (trong 03 năm) để trả hết số tiền nợ vì gia đình tôi đang khó khăn.
Tuy nhiên Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn để tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định, thì bị đơn cố tình vắng không có lý do, không có thiện chí hợp tác. Do đó, vụ án không thể tiến hành hòa giải được và phải đưa ra xét xử.
Tại phiên toà:
- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Số nợ gốc và lãi tạm tính đến thời điểm xét xử (ngày 14/02/2024) là 112.210.000 đồng, cụ thể: Nợ gốc 101.400.000 đồng, lãi trong hạn 9.345.216 đồng, lãi quá hạn 1.455.951 đồng, phí phạt chậm trả lãi 7.983 đồng.
Ngân hàng N đề nghị bà Huỳnh Thị Đinh T1 tất toán khoản vay với số tiền gốc lãi tạm tính và các khoản lãi (phí phát sinh nếu có) đến thời điểm bà Huỳnh Thị Đinh T1 trả hết nợ.
Ngân hàng N có nghĩa vụ trả lại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã giữ hộ của bị đơn khi bị đơn đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
- Đại diện uỷ quyền của bị đơn: Số tiền nợ như ngân hàng trình bày là đúng, bị đơn xin sẽ trả hết gốc lãi của hợp đồng vay nợ khi gia đình thu hoạch xoài vào tháng 5/2025.
- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không đồng ý với phương án trả nợ đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đưa ra, vì trước đó bị đơn nhiều lần hứa nhưng không thực hiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án dân sự tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức có đăng ký kinh doanh, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn hiện có địa chỉ và cư trú tại thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm thụ lý và giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về nợ gốc: Ngày 06/05/2022 Ngân hàng N đã cho bà Huỳnh Thị Đinh T1 vay tổng số tiền 200.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng), theo hợp đồng tín dụng số 4706-LAV-202200830. Thực hiện đúng hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay trên cho bà T1. Bà T1 đã nhận đủ tiền và quá trình thực hiện hợp đồng cũng đã thanh toán cho ngân hàng tính đến ngày 14/02/2025 số tiền là: 98.600.000 đồng tiền gốc và 35.409.522 đồng tiền lãi.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hợp đồng tín dụng được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của pháp luật tại khoản 7 Điều 4, khoản 2 Điều 100, điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết.
[3.2.] Về số tiền nợ lãi: Căn cứ vào khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 “... Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng.”. Theo hợp đồng tín dụng thì lãi suất cho vay là từ 10%/năm, được điều chỉnh khi có thay đổi theo thông báo của Ngân hàng N trong từng thời kỳ và lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn trên số nợ gốc thực tế chưa thanh toán. Xét thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng trên không trái với quy định của Bộ luật dân sự 2015 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 cũng như quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng tại thời điểm ký kết hợp đồng nên có hiệu lực.
Quá trình trả nợ đến ngày 29/4/2024 bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi của kỳ thứ 2. Trước khi đến kỳ trả nợ Ngân hàng đã gửi văn bản trước cho bị đơn, sau khi vi phạm Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp với bị đơn, tới ngày 26/8/2024 bà T1 đã trả thêm được 31.600.000 đồng, còn nợ lại gốc quá hạn là 35.400.000 đồng, nợ lãi không đóng. Tạm tính đến ngày đến ngày xét xử (ngày 14/02/2025) tổng nợ quá hạn của bà T1 112.210.000 đồng, trong đó: gốc 101.400.000 đồng, lãi trong hạn 9.345.216 đồng, lãi quá hạn 1.455.951 đồng, phí phạt chậm trả lãi 7.983 đồng.
Việc bà T1 không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, lãi cho A, không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với A, không chủ động và không phối hợp xử lý tài sản để trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, gây khó khăn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của nguyên đơn, vì vậy Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bà T1 phải tất toán khoản vay tạm tính đến thời điểm xét xử như trên và các khoản lãi (phí phát sinh nếu có) đến thời điểm bà Huỳnh Thị Đinh T1 trả hết nợ là có căn cứ.
Từ những nhận định trên, cần buộc bà Huỳnh Thị Đinh T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh, tạm tính đến ngày ngày 14/02/2025 là 112.210.000 đồng, cụ thể: Nợ gốc 101.400.000 đồng, lãi trong hạn 9.345.216 đồng, lãi quá hạn 1.455.951 đồng, phí phạt chậm trả lãi 7.983 đồng.
Theo điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019. Kể từ ngày 01/12/2023 bà T1 còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền phải thanh toán trả Ngân hàng theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Ngân hàng N giữ hộ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn theo cơ chế bảo đảm tiền vay được nêu tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015. Tuy nhiên do không có hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho khoản vay nên không có giá trị ràng buộc về tài sản giữa hai bên, vì vậy Ngân hàng N có nghĩa vụ trả lại cho bị đơn 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang giữ hộ.
[3] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 70; Điều 91; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 100; Điều 103, Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bà Huỳnh Thị Đinh T1 trả cho Ngân hàng N số tiền tạm tính đến ngày 14/02/2025 là 112.210.000 đồng, cụ thể: Nợ gốc 101.400.000 đồng, lãi trong hạn 9.345.216 đồng, lãi quá hạn 1.455.951 đồng, phí phạt chậm trả lãi 7.983 đồng.
Bà Huỳnh Thị Đinh T1 còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ sau ngày 14/02/2025 đối với số tiền chưa thi hành cho đến khi thanh toán hết nợ theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 4706-LAV-202200830 ngày 06/05/2022.
Ngân hàng N có nghĩa vụ trả lại cho bà Huỳnh Thị Đinh T1 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T1 cụ thể như sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DA 256766, số vào số cấp GCN: CS03916, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 14/01/2021, thửa đất số 188, tờ bản đồ 15; Địa chỉ đất: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DA 256767, số vào số cấp GCN: CS03917, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 14/01/2021, thửa đất số 844, tờ bản đồ 15; Địa chỉ đất: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Huỳnh Thị Đinh T1 phải chịu 5.610.000 (Năm triệu sáu trăm mười ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 2.535.000 (Hai triệu năm trăm ba lăm ngàn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008089 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hoà.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Huệ |
Bản án số 03/2025/DS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM - TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
