|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 03/2024/KDTM-ST
Ngày 08-5-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đường.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung và bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ý Tưởng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 38/2023/KDTM - ST ngày 22 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QÐST- KDTM ngày 22 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Ngân hàng N; địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội do ông Phạm Toàn V – Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu B – Giám đốc Ngân hàng N
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Việt H – Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh Ngân hàng N, chi nhánh thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc;
Địa chỉ: Số E đường H, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Bị đơn:
Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Khu H, phường Đ, thành phố V (vắng mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1949;
- Địa chỉ: Khu H, phường Đ, thành phố V (vắng mặt);
- Bà Lê Thị Y, sinh năm 1958;
- Địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 10 năm 2023 và các lời khai tiếp theo ông Nguyễn Việt H là đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N trình bày: Ngày
04/11/2020, Ngân hàng N (viết tắt A), chi nhánh thành phố V và bà Nguyễn Thị Tuyết M ký Hợp đồng tín dụng số 2810- LAV- 202000812, số tiền vay là 1,245.000.000đ, mục đích sử dụng: kinh doanh đồ điện gia dụng, đồ dùng gia đình, bia bánh kẹo các loại với thời hạn là 12 tháng. Theo giấy nhận nợ ngày 05/11/2020, số tiền nhận nợ là 630.000.000đ, thời hạn cho vay là 12 tháng tính từ ngày 05/11//2020 đến ngày 05/11/2021, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 8.7%/ năm; giấy nhận nợ ngày 09/11/2020, số tiền nhận nợ là 615.000.000đ, thời hạn vay 11 tháng tính từ ngày 09/11/2020 đến ngày 09/10/2021, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 8.7%/ năm.
Để bảo đảm khoản vay trên ông Nguyễn Mạnh H1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 205A, tờ bản đồ 63, diện tích 65,2m²; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số CH 00218- TT- TNMT do ủy ban nhân dân thành phố V cấp ngày 10/5/2010, mang tên ông Nguyễn Mạnh H1 và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên (theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 08/2019/HĐTC ngày 31/01/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/PLHĐTC ngày 24/9/2020. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng đến nay chị M đã trả được số tiền gốc là 280.000.000đ, tiền lãi là 102.096.242đ. Sau đó chị M nhiều lần vi phạm không trả được đầy đủ gốc lãi khi đến hạn, kể từ ngày 16/9/2021 khoản vay đã bị chuyển quá hạn.
Nay Ngân hàng N đề nghị Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên buộc chị Nguyễn Thị Tuyết M phải trả số tiền gốc, tiền lãi tính đến hết ngày 08/5/2024 là 1.323.231.722đ, trong đó tiền gốc là 965.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 236.724.853đồng, tiền lãi quá hạn là 121.506.870đ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/5/2024) chị Nguyễn Thị Tuyết M phải trả tiền lãi theo lãi suất nợ quá hạn trên dư nợ gốc với lãi suất là 13,05%/năm theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2810- LAV- 202000812 ngày 04/11/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu chị M không thanh toán số tiền nêu trên cho A thì A được đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất hợp pháp theo diện tích đo đạc thực tế là 64,7 m² và công trình gắn liền với đất tại thửa đất số theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa số 205A, tờ bản đồ 63; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số CH 00218- TT- TNMT do ủy ban nhân dân thành phố V cấp ngày 10/5/2010, mang tên ông Nguyễn Mạnh H1 (theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 08/2019/HĐTC ngày 31/01/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/PLHĐTC ngày 24/9/2020).
Trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí cho việc bán tài sản, các khoản phải nộp cho nhà nước (nếu có) không đủ để trả hết cho nghĩa vụ thanh toán nợ cho A thì chị Nguyễn Thị Tuyết M vẫn phải có trách nhiệm trả hết nợ cho A
Bị đơn chị Nguyễn Thị Tuyết M tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai chị M trình bày:
Chị xác nhận thời gian ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N, thời gian ký giấy nhận nợ 630.000.000đ và số tiền 615.000.000đ, mục đích để bổ sung kinh doanh đồ điện gia dụng, đồ dung gia đình, bia bánh kẹo các loại. Để đảm bảo khoản vay ông Nguyễn Mạnh H1 (là bố đẻ chị) đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 205A, tờ bản đồ 63, diện tích 65,2m²; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số CH 00218- TT- TNMT do ủy ban nhân dân thành phố V cấp ngày 10/5/2010, mang tên ông Nguyễn Mạnh H1 và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên cho Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng chị đã trả được cho Ngân hàng số tiền là 235.000.000đ. Từ tháng 9/2021 do chị bị ốm không kinh doanh được nên không có tiền để trả cho Ngân hàng. Nay A yêu cầu chị phải trả cho A số tiền gốc, tiền lãi, tiền lãi chị đồng ý trả khoản nợ cho Ngân hàng nhưng xin trả dần tiền gốc còn tiền lãi đề nghị Ngân hàng cho miễn giảm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Mạnh H1 tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai và hòa giải ông H1 trình bày: Chị Nguyễn Thị Tuyết M có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N, chi nhánh thành phố V để vay số tiền là 1.245.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, mục đích để chị M kinh doanh. Để đảm bảo khoản vay ông đã thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 205A, tờ bản đồ 63, diện tích 65,2m²; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CH 00218- TT- TNMT do ủy ban nhân dân thành phố V cấp ngày 10/5/2010, mang tên ông Nguyễn Mạnh H1 (theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 08/2019/HĐTC ngày 31/01/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/PLHĐTC ngày 24/9/2020. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng do chị M không trả được tiền cho Ngân hàng ông phải trả tiền gốc và tiền lãi thay cho chị M. Nay Ngân hàng yêu cầu chị M phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc, tiền lãi, tiền lãi ông đồng ý trả tiền thay cho chị M nhưng ông đề nghị cho ông thời gian để ông thu xếp tiền. Về tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là của vợ chồng ông. Đối với tài sản này nếu chị M không trả được tiền cho Ngân hàng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Bà Lê Thị Y tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai bà Y trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Mạnh H1. Ông H1 có thửa đất số 205A, tờ bản đồ số 63, diện tích 65,2m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Mạnh H1. Khoảng năm 2019 ông H1 có ký hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để đảm bảo khoản vay cho chị Nguyễn Thị Tuyết M là con gái của ông bà. Năm 2019 bà có ký văn bản cam kết quyền về tài sản bà xác nhận thửa đất và tài sản trên đất là tài sản riêng của ông H1. Nay đối với tài sản thế chấp trên bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn, không chấp hành quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 299; Điều 303; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về áp phí, lệ phí Tòa án
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N;
Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết M phải thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến hết ngày 08/5/2024 1.323.231.964đ, trong đó tiền gốc là 965.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 236.724.853 đồng, tiền lãi quá hạn là 121.506.870đ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/5/2024) bà Nguyễn Thị Tuyết M còn phải trả tiền lãi theo lãi suất nợ quá hạn trên dư nợ gốc chưa thanh toán với lãi suất là 13,05%/năm theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2810- LAV- 202000812 ngày 04/11/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
2. Trường hợp chị Nguyễn Thị Tuyết M không thanh toán số tiền nêu trên thì Ngân hàng N có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế là 64,7m² và các công trình xây dựng trên thửa đất số số 205A, tờ bản đồ 63; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc(có sơ đồ kèm theo) đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00218- TT- TNMT cấp ngày 10/5/2010, mang tên ông Nguyễn Mạnh H1 (theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 08/2019/HĐTC ngày 31/01/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/PLHĐTC ngày 24/9/2020).
3. Về chi phí thẩm định tại chỗ và án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần 2 không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết vụ án và lấy lời khai của bà Lê Thị Y (vợ ông H1), bà Y trình bày, ngày 31/01/2019, bà có ký cam kết quyền về tài sản, bà cam kết quyền sử dụng đất tại thửa số 205A, tờ bản đồ 63, diện tích 65,2m² và tài sản gắn liền với đất là của ông Nguyễn Mạnh H1. Tuy nhiên tài sản trên đất là ngôi nhà 4 tầng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của ông H1 và bà Y. Do đó để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Tòa án đưa bà Lê Thị Y vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[2] Về quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn chị Nguyễn Thị Tuyết M có giấy phép đăng ký kinh doanh nên Tòa án thụ lý loại án là kinh doanh thương mại.
[3] Về pháp luật áp dụng: Năm 2023 các đương sự xảy ra tranh chấp nên pháp luật áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng năm 2011; nghị quyết số 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Chị Nguyễn Thị Tuyết M ký kết hợp đồng tín dụng số số 2810- LAV- 202000812 với A để vay số tiền 1.245.000.000đ. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân cho bà M số tiền 1,245.000.000đ (theo giấy nhận nợ ngày 05/11/2020, số tiền nhận nợ là 630.000.000đ; giấy nhận nợ ngày 09/11/2020, số tiền nhận nợ là 615.000.000đ). Để bảo đảm khoản vay ông Nguyễn Mạnh H1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 205A, tờ bản đồ 63, diện tích 65,2m²; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số CH 00218- TT- TNMT do ủy ban nhân dân thành phố V cấp ngày 10/5/2010, mang tên ông Nguyễn Mạnh H1 và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên (theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 08/2019/HĐTC ngày 31/01/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/PLHĐTC ngày 24/9/2020). Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm cho việc vay vốn, hai bên đã tiến hành ký kết theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng chị M đã vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi cho Ngân hàng, kể từ ngày 16/9/2021
khoản vay bị chuyển nợ quá hạn. Đến nay chị M đã trả cho A số tiền gốc là 280.000.000đ, số tiền lãi là 102.096.242đ. Do chị M vi phạm nghĩa vụ về việc trả tiền gốc, tiền lãi theo hợp đồng đã ký kết với A nên A yêu cầu chị M phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 08/5/2024 là 1.323.231.964đ, trong đó tiền gốc là 965.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 236.724.853đồng, tiền lãi quá hạn là 121.506.870đ là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về tiền lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ( ngày 09/5/2024), Ngân hàng yêu cầu chị Nguyễn Thị Tuyết M phải trả tiền lãi quá hạn trên dư nợ gốc theo mức lãi suất là 13,05%/năm theo thỏa thuận lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 2810- LAV- 202000812 ngày 04/11/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Xét thấy việc đề nghị về lãi suất nêu trên của Ngân hàng P với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về tài sản thế chấp là quyền sử dụng 65,2m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 205A, tờ bản đồ 63; diện tích 65,2m²; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số CH 00218 do ủy ban nhân dân thành phố V cấp ngày 10/5/2010 mang tên ông Nguyễn Mạnh H1. Ông H1 ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên cho Ngân hàng N để đảm bảo khoản vay của chị Nguyễn Thị Tuyết M (là con gái) theo hợp đồng thế chấp số 08/2019/HĐTC ngày 31/01/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/PLHĐTC ngày 24/9/2020. Về tài sản trên đất là ngôi nhà 4 tầng của ông H1 và bà Y được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của ông H1 và bà Y. Việc bà Y ký bản cam kết trong đó thể hiện quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là tài sản riêng của ông H1, nhưng ông H1 không ký vào bản cam kết này. Khi Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không cho bà Y ký vào hợp đồng thế chấp nêu trên là chưa đúng quy định. Tuy nhiên khi ông H1 ký hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất bà Y cũng biết và cùng ngày tại Văn phòng C bà Y đã có văn bản xác định tài sản ông H1 thế chấp cho Ngân hàng là tài sản riêng của ông H1, bà đồng ý để ông H1 thế chấp tài sản đó cho Ngân hàng để đảm bảo cho chị M con gái ông bà vay vốn tại Ngân hàng N. Từ khi ông H1 ký hợp đồng thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng đến khi Ngân hàng khởi kiện đến Tòa án thành phố V, quá trình giải quyết vụ án bà đều không có ý kiến thắc mắc hoặc đề nghị gì về tính có căn cứ và hợp pháp của hợp đồng thế chấp. Do đó Hợp đồng thế chấp nêu trên được các bên tham gia ký kết, công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật buộc các bên phải thực hiện.
Tòa án đã tiến hành đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa số 205A, tờ bản đồ 63; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V thì diện tích đất thực tế là 64,7m², thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 0,5 m². Tại phiên tòa
đại diện Ngân hàng đề nghị nếu chị Nguyễn Thị Tuyết M không thanh toán tiền gốc và tiền lãi cho Ngân hàng N thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo diện tích đo đạc thực tế của ông H1. Xét việc đề nghị xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng N phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định là 3.300.000đ để trả cho Ngân hàng N.
[8] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí được trả tiền tạm ứng án phí đã nộp, bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 299; Điều 303; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N
Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết M phải thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến hết ngày 08/5/2024 1.323.231.722đ, trong đó tiền gốc là 965.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 236.724.853 đồng, tiền lãi quá hạn là 121.506.870đ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/5/2024) chị Nguyễn Thị Tuyết M còn phải trả tiền lãi theo lãi suất nợ quá hạn trên dư nợ gốc chưa thanh toán với lãi suất là 13,05%/năm theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2810- LAV- 202000812 ngày 04/11/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu chị Nguyễn Thị Tuyết M không thanh toán số tiền nêu trên thì Ngân hàng N có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế là 64,7m² và các công trình xây dựng trên thửa đất số số 205A, tờ bản đồ 63; địa chỉ: Khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có sơ đồ kèm theo) đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00218- TT- TNMT cấp ngày 10/5/2010, mang tên ông Nguyễn Mạnh H1 (theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 08/2019/HĐTC ngày 31/01/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/PLHĐTC ngày 24/9/2020).
Trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí cho việc bán tài sản, các khoản phải nộp cho nhà nước (nếu có) không đủ để trả hết cho nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng N thì chị Nguyễn Thị Tuyết M vẫn phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N đến khi tất toán khoản vay.
2. Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.300.000đ (ba triệu ba trăm nghìn đồng) để trả cho Ngân hàng N.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/5/2024) nếu chị M không thanh số tiền nêu trên cho Ngân hàng N thì còn phải chịu tiền lãi chậm trả theo lãi suất là 10%/ năm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự và luật sửa đổi một số điều của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu số tiền 51.596.958đ (Năm mươi mốt triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm năm mươi tám đồng).
Trả lại Ngân hàng N số tiền 30.333.000đ (Ba mươi triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005558 ngày 20/11/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đã ký Nguyễn Thị Đường |
8
9
Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết Mai phải thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tổng số tiền tính đến hết ngày 08/5/2024 1.323.231.722đ, trong đó tiền gốc là 965.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 236.724.853 đồng, tiền lãi quá hạn là 121.506.870đ
