Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/KDTM-ST

Ngày: 01/8/2024

Về tranh chấp hợp đồng tín dụng,

hợp đồng thế chấp.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Phú, bà Hoàng Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đ- Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2023/TLST-KDTM ngày 21/7/2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-DS ngày 09/5/2024 và các quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (B).

Địa chỉ trụ sở: Số C H, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T- Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Đỗ Khắc H- Giám đốc B chi nhánh H4.

Người được ông H ủy quyền lại:

  • - Ông Vũ Mạnh H1- Phó giám đốc B chi nhánh H4.
  • - Ông Lê Thanh H2- Giám đốc Phòng G- B chi nhánh H4.
  • - Ông Phạm Bá T1- Cán bộ quản lý khách hàng Phòng G- B chi nhánh H4.

* Bị đơn: Ông Phạm Hồng T2, sinh năm 1973- Chủ hộ kinh doanh Phạm Hồng T2.

Địa chỉ: Khu V, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Lưu Văn N, sinh năm 1972.
  • - Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1982.

Đều có địa chỉ: Tổ B phố V, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.

  • - Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ F, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Bà Đinh Thị H3, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ D, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.

Tại phiên tòa có mặt ông H2, ông T1, ông T2, ông N; vắng mặt bà M, bà Kim A, bà H3.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày: Trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, ông Phạm Hồng T2 với tư cách là đại diện Hộ kinh doanh Phạm Hồng T2 đã ký với Phòng G của B chi nhánh H4 Hợp đồng tín dụng (viết tắt: HĐTD) hạn mức số 01/2017/222086/HĐTD ngày 30/5/2017 với các nội dung chính như sau: B cấp cho ông T2 hạn mức tín dụng thường xuyên với số tiền 1.800.000.000đ (có bao gồm dư nợ vay từ các hợp đồng tín dụng trước chuyển sang). Thời hạn cấp hạn mức là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Thời hạn cho vay, lãi suất được xác định theo từng HĐTD cụ thể. Mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh. Ông T2 đã rút tiền vay theo từng HĐTD cụ thể như sau:

  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm HĐTD cụ thể số 02-01/2017/222086/HĐTD ngày 09/8/2017: Số tiền vay là 500.000.000đ; thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày 09/8/2017 đến ngày 09/02/2018; lãi vay trong hạn là 9,5%/năm và được điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi quá hạn = 150% lãi vay trong hạn. Tính đến ngày 10/4/2023, ông T2 còn nợ B tổng số tiền là 282.803.301đ gồm nợ gốc = 140.500.000đ; nợ lãi trong hạn = 97.037.817; nợ lãi quá hạn = 45.265.484đ.
  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm HĐTD cụ thể số 03-01/2017/222086/HĐTD ngày 10/8/2017: Số tiền vay là 500.000.000đ; thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày 10/8/2017 đến ngày 12/02/2018; lãi vay trong hạn là 9,5%/năm và được điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi quá hạn = 150% lãi vay trong hạn. Tính đến ngày 10/4/2023, ông T2 còn nợ B tổng số tiền là 851.190.412đ gồm nợ gốc = 500.000.000đ; nợ lãi trong hạn = 236.426.028đ; nợ lãi quá hạn = 114.764.384đ.
  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm HĐTD cụ thể số 06-01/2017/222086/HĐTD ngày 21/12/2017: Số tiền vay là 800.000.000đ; thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày 21/12/2017 đến ngày 21/6/2018; lãi vay trong hạn là 8,5%/năm và được điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi quá hạn = 150% lãi vay trong hạn. Tính đến ngày 10/4/2023, ông T2 còn nợ B tổng số tiền là 1.346.770.411đ gồm nợ gốc = 800.000.000đ; nợ lãi trong hạn = 375.815.890đ; nợ lãi quá hạn = 170.954.521đ.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của ông T2 với B thì ông Phạm Hồng T2, bà Đinh Thị H3, ông Lưu Văn N, bà NguyễnThị Kim A1 đã thế chấp tài sản của họ cho B theo các Hợp đồng thế chấp (viết tắt: HĐTC) gồm:

  • HĐTC tài sản số 01/2015/222086/HĐBĐ ngày 25/12/2015: Ông T2 và bà H3 thế chấp cho B xe ô tô tải ben BKS 14C-035.65; nhãn hiệu: CNHTC; số loại: HOWO; màu sơn: Trắng; chứng nhận đăng ký xe ô tô số 007062 do Công an tỉnh Q cấp ngày 28/11/2011 mang tên chủ xe ông Phạm Hồng T2.
  • HĐTC bất động sản số 01/2011/HĐTCBĐS-NH/LVN-NTKA/PHT ngày 09/11/2011: Ông N và bà Kim A1 thế chấp cho B quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, địa chỉ: Khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.

Các khoản nợ đều đã quá hạn thanh toán, B nhiều lần đôn đốc nhưng ông T2 chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:

  • - Buộc ông Phạm Hồng T2- Chủ hộ kinh doanh Phạm Hồng T2 phải thanh toán cho B tổng số tiền nợ tính đến ngày 10/4/2023 là 2.480.764.124đ (gồm: Nợ gốc = 1.440.500.000đ; nợ lãi trong hạn = 709.279.735đ; lãi quá hạn = 330.984.389đ) và tiền lãi phát sinh từ ngày 10/4/2023 cho đến khi tranh chấp được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo mức lãi suất quá hạn quy định trong HĐTD.
  • - Trường hợp ông T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì B được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho B thì ông T2 phải thanh toán phần còn thiếu cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/6/2024, bị đơn là ông Phạm Hồng T2- Chủ hộ kinh doanh Phạm Hồng T2 trình bày thống nhất với đại diện nguyên đơn về quá trình ký kết và nội dung các HĐTD, các giấy đề nghị giải ngân kiêm HĐTD cụ thể, các HĐTC và về số tiền vay B đã giải ngân cho ông. Hộ kinh doanh Phạm Hồng T2 chỉ có hai thành viên là ông và vợ ông khi đó là bà H3 (hiện ông và bà H3 đã ly hôn). Tất cả các khoản vay từ trước tới nay tại B đều được sử dụng để phục vụ việc kinh doanh chung của hộ gia đình. Các HĐTC được ký ngày 09/11/2011 và ngày 25/12/2015 vì quan hệ tín dụng giữa ông với B được xác lập từ thời điểm đó và duy trì cho đến nay. Tại thời điểm ký HĐTC thì B đã định giá nhà đất của ông N, bà Kim A1 là 660.000.000đ và có thông báo miệng với các bên là với giá trị nhà đất như vậy thì chỉ có thể đảm bảo cho khoản vay 400.000.000đ. Hiện việc kinh doanh của ông gặp khó khăn nên ông chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho B. Ngày 28/5/2024, giữa ông với ông N và đại diện của B đã có buổi làm việc với nhau để chốt về số tiền còn nợ, phương án trả nợ. Cụ thể: Tính đến ngày 28/5/2024, tổng số tiền ông còn nợ B là 2.683.691.140đ gồm nợ gốc = 1.440.500.000đ; nợ lãi trong hạn = 844.564.390đ; nợ lãi quá hạn = 398.626.750đ. Ông N sẽ thay ông trả cho B số tiền nợ gốc là 400.000.000đ và B sẽ giải chấp tài sản của ông N, bà Kim A1. Ông sẽ có trách nhiệm trả cho B số tiền nợ còn lại. Ông đề nghị B xem xét miễn, giảm cho ông khoản tiền nợ lãi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:

Ông Lưu Văn N trình bày: Nhà đất thuộc thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, địa chỉ: Khu V, M, Đ, Quảng Ninh là do bố mẹ ông để lại. Ngày 29/12/2009, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 335821, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H 11466 đứng tên ông và bà Nguyễn Thị Kim A; diện tích đất là 99,5m2 đất ở; công trình xây dựng trên đất có 01 nhà hai tầng kiên cố. Ngày 09/11/2011, ông và bà Kim A thế chấp nhà đất nói trên cho Phòng G- B chi nhánh H4 để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của ông Phạm Hồng T2 phát sinh từ các HĐTD ông T2 ký với B. HĐTC được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đ. Năm 2017- 2018 thì ông và bà Kim A làm thêm mái lợp tôn chống nóng ở phía trước, phía sau nhà và xây thêm tường rào xung quanh. Năm 2021, ông và bà Kim A ly hôn; ông và bà Trần Thị Tuyết M trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất nói trên. Ông biết các khoản vay của ông T2 tại B đều được sử dụng vào việc kinh doanh chung của vợ chồng ông T2. Giữa ông T2 với B đã ký những HĐTD nào thì ông không biết. Tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp thì B định giá nhà đất của ông là 660.000.000đ và có thông báo miệng với ông là nhà đất của ông chỉ có thể đảm bảo cho khoản vay 400.000.000đ. Khoảng năm 2022, B mời ông đến làm việc và thông báo cho ông biết khoản nợ của ông T2 đã quá hạn thanh toán. Nếu ông trả nợ thay cho ông T2 số tiền 580.000.000đ thì sẽ được giải chấp tài sản thế chấp là nhà đất của ông. Tuy nhiên thời điểm đó ông chưa có điều kiện trả nợ hộ ông T2 và sau đó ông T2 lại cam kết, thỏa thuận với B sẽ trả nợ dần mỗi tháng 15.000.000đ nên ông không để ý đến việc này. Ngày 28/5/2024, giữa ông với ông T2 và đại diện của B đã làm việc với nhau để chốt về số tiền còn nợ, phương án trả nợ. Cụ thể ông sẽ thay ông T2 trả cho B số tiền nợ gốc là 400.000.000đ, B sẽ giải chấp nhà đất của ông và ông T2 sẽ có trách nhiệm trả cho B số tiền nợ còn lại. Ông đề nghị B xem xét chấp nhận phương án nói trên.

Bà Nguyễn Thị Kim A trình bày thống nhất với ông Lưu Văn N về quá trình ký kết và nội dung HĐTC bất động sản ngày 09/11/2011. Bà không biết việc vay nợ giữa ông T2 với Ngân hàng N1. Ông T2 là bạn bè với ông N nên đã mượn tài sản của ông N để thế chấp cho Ngân hàng. Bà tham gia ký HĐTC vì thời điểm đó bà là vợ của ông N, là đồng sở hữu tài sản. Bà đề nghị Tòa án hòa giải để các bên thống nhất phương án trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm để bảo vệ quyền lợi cho bà và ông N. Trường hợp ông T2 không hợp tác làm việc thì bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng bà Đinh Thị H3, bà Trần Thị Tuyết M đều vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản ghi quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 01/8/2024 là 2.724.182.624 (gồm nợ gốc = 1.440.500.000đ; nợ lãi trong hạn = 872.458.736đ, nợ lãi quá hạn = 411.223.888đ), tiền lãi phát sinh từ ngày 02/8/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ và giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện khác.

Ông T2 và ông N đề nghị B chấp nhận để ông N trả nợ hộ ông T2 số tiền nợ gốc 400.000.000đ theo phương thức trả dần mỗi tháng 7.000.000đ. Sau khi trả đủ số tiền 400.000.000đ thì B giải chấp tài sản thế chấp của ông N, bà Kim A. Số tiền nợ gốc còn lại ông T2 sẽ có trách nhiệm trả dần cho B mỗi tháng từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ và đề nghị B miễn, giảm tiền lãi cho ông T2.

Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xem xét, thẩm định đối với tài sản thế chấp là xe ô tô tải ben BKS 14C-035.65; làm rõ việc ông T2 cho ông L thuê xe ô tô tải ben BKS 14C-035.65 và làm việc với bà H3 để xác định rõ người có trách nhiệm trả nợ cho B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Kim A, bà Đinh Thị H3, bà Trần Thị Tuyết M được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nói trên.

[1.2] Tuy bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện K, tỉnh Hải Dương nhưng đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng và các bên đã tự nguyện thỏa thuận tại điểm b mục 5 HĐTD hạn mức ngày 30/5/2017: “ ...Hai bên thống nhất Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương”. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

[1.3] Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 01/8/2024 là 2.724.182.624đ do phát sinh số tiền lãi từ ngày 10/4/2023 đến ngày xét xử vụ án. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử nhận thấy việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận.

[1.4] Đối với yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 04/4/2024, Tòa án ban hành Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ số 08/2024/QĐ-XXTĐTC đối với các tài sản thế chấp trong vụ án và đã yêu cầu ông Phạm Hồng T2 di chuyển xe ô tô tải ben BKS 14C-035.65 đến địa điểm tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ được ấn định. Tuy nhiên tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ, ông T2 vắng mặt và không di chuyển xe ô tô tải ben BKS 14C-035.65 đến địa điểm được ấn định nên Tòa án không tiến hành thẩm định được đối với tài sản này. Tại phiên tòa, ông T2 trình bày cho ông L thuê xe ô tô nói trên và hiện xe ô tô vẫn do ông L quản lý, sử dụng nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh nội dung này và cũng không cung cấp được địa chỉ hiện nay của ông L. Qua xác minh, Phòng C- Công an tỉnh Q phản ánh xe ô tô tải ben BKS 14C-035.65 hiện vẫn đứng tên chủ sở hữu là Phạm Hồng T2, trạng thái xe đang lưu hành. Đối với bà Đinh Thị H3 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản ghi quan điểm về các nội dung liên quan đến vụ án. Mặt khác nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T2 với tư cách chủ hộ kinh doanh Phạm Hồng T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ phù hợp với HĐTD đã ký giữa ông T2 và B. Vì vậy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[2] Về áp dụng pháp luật: Các HĐTD được xác lập tại thời điểm Bộ luật dân sự 2015 đang có hiệu lực pháp luật. Các HĐTC bất động sản được xác lập tại thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực pháp luật nhưng có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Hiện các bên tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng trên nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết.

[3] Xét thấy các bên tham gia HĐTD, HĐTC đều có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết hợp đồng; nội dung và mục đích của các hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Tài sản thế chấp được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên thế chấp; hợp đồng thế chấp được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Vì vậy các HĐTD, HĐTC đều hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia.

[4] Về số tiền nợ:

[4.1] Trình bày của đại diện nguyên đơn và bị đơn phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu do nguyên đơn cung cấp nên có căn cứ xác định B đã giải ngân cho ông Phạm Hồng T2- Chủ hộ kinh doanh Phạm Hồng T2 tổng số tiền vay là 1.800.000.000đ. Quá trình thực hiện HĐTD, B nhiều lần điều chỉnh lãi vay trong hạn đối với khoản vay của ông T2. Hiện thời hạn vay theo thỏa thuận đã kết thúc, B không cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khoản vay của ông T2 nên yêu cầu được thanh toán tiền nợ của nguyên đơn là có căn cứ. Từ trình bày của các bên, đối chiếu với tài liệu do nguyên đơn cung cấp có đủ căn cứ xác định số tiền vay, số tiền đã thanh toán và số tiền còn nợ tính đến hết ngày 01/8/2024 theo từng HĐTD cụ thể như sau:

  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm HĐTD cụ thể số 02-01/2017/222086/HĐTD ngày 09/8/2017: Số tiền vay = 500.000.000đ; số tiền nợ gốc đã thanh toán = 359.500.000đ; số tiền lãi trong hạn đã thanh toán = 14.738.356đ. Tổng số tiền còn nợ = 308.363.035đ gồm: Nợ gốc = 140.500.000đ; nợ lãi trong hạn = 114.977.640đ, nợ lãi quá hạn = 52.885.395đ.
  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm HĐTD cụ thể số 03-01/2017/222086/HĐTD ngày 10/8/2017: Số tiền vay = 500.000.000đ; số tiền nợ gốc đã thanh toán = 0đ; số tiền lãi trong hạn đã thanh toán = 17.308.219đ. Tổng số tiền còn nợ = 932.541.781đ gồm: Nợ gốc = 500.000.000đ; nợ lãi trong hạn = 290.660.274đ; nợ lãi quá hạn = 141.881.507đ.
  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm HĐTD cụ thể số 06-01/2017/222086/HĐTD ngày 21/12/2017: Số tiền vay = 800.000.000đ; chưa thanh toán được số tiền nợ gốc, nợ lãi nào. Tổng số tiền còn nợ = 1.483.277.808đ gồm: Nợ gốc = 800.000.000đ; nợ lãi trong hạn = 466.820.822đ, nợ lãi quá hạn = 216.456.986đ.

[4.2] Như vậy tổng số tiền ông T2 chưa thanh toán cho B tính đến hết ngày 01/8/2024 là 2.724.182.624 gồm nợ gốc = 1.440.500.000đ, nợ lãi trong hạn = 872.458.736đ, nợ lãi quá hạn = 411.223.888đ. Ông T2 đề nghị được miễn, giảm toàn bộ tiền lãi nhưng B không chấp nhận. Vì vậy Hội đồng xét xử cần buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nói trên. Bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các HĐTD đã ký kể từ ngày 02/8/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán.

[5] Xử lý tài sản thế chấp: Ông Phạm Hồng T2 và bà Đinh Thị H3 thế chấp cho B xe ô tô tải ben BKS 14C-035.65 theo HĐTC tài sản ngày 25/12/2015; ông Lưu Văn N và bà Nguyễn Thị Kim A thế chấp cho B quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất gồm 99,5m2 đất ở, 01 nhà hai tầng thuộc thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 ở Khu V, trị trấn M, huyện Đ (nay là tổ B phố V, khu V, phường M, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ninh theo HĐTC bất động sản ngày 09/11/2011 đều để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của ông T2 với B. Ông T2, ông N trình bày tại thời điểm ký HĐTC thì B tuyên bố nhà đất của ông N, bà Kim A chỉ có thể đảm bảo cho khoản vay 400.000.000đ nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh nội dung này. Các ông đề nghị B chấp nhận cho ông N trả nợ thay ông T2 số tiền 400.000.000đ và giải chấp tài sản là nhà đất của ông N, bà Kim A nhưng B không chấp nhận. Trong khi đó các HĐTC ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên về những nội dung sau: Bên thế chấp đồng ý dùng toàn bộ tài sản thế chấp để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đã, đang và sẽ phát sinh trong tương lai từ toàn bộ các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh đã và sẽ ký giữa Ngân hàng với bên vay hoặc bên thế chấp hoặc bên được bảo lãnh. Trường hợp bên thế chấp đầu tư vào tài sản thế chấp thì phần tài sản tăng thêm do đầu tư cũng thuộc tài sản thế chấp. Giá trị tài sản thế chấp đã nêu tại các HĐTC không được áp dụng khi xử lý tài sản thế chấp. Đại diện B xác định các tài sản thế chấp nói trên chưa được xử lý để thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào của ông T2. Vì vậy nếu ông T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì B có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp nói trên để thu hồi nợ. Nếu giá trị tài sản thế chấp lớn hơn khoản nợ phải thanh toán thì phần chênh lệch được trả cho bên thế chấp. Nếu giá trị tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì ông T2 phải tiếp tục thanh toán phần còn thiếu cho B.

[6] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1 (B).

  1. Buộc ông Phạm Hồng T2- Chủ hộ kinh doanh Phạm Hồng T2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho B tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 01/8/2024 là 2.724.182.624đ (hai tỷ bẩy trăm hai mươi bốn triệu một trăm tám mươi hai nghìn sáu trăm hai mươi bốn đồng), bao gồm:
    • - Số tiền nợ phát sinh theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể số 02-01/2017/222086/HĐTD ngày 09/8/2017 là 308.363.035đ, gồm: Nợ gốc = 140.500.000đ, nợ lãi trong hạn = 114.977.640đ, nợ lãi quá hạn = 52.885.395đ.
    • - Số tiền nợ phát sinh theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể số 03-01/2017/222086/HĐTD ngày 10/8/2017 là 932.541.781đ, gồm: Nợ gốc = 500.000.000đ, nợ lãi trong hạn = 290.660.274đ, nợ lãi quá hạn = 141.881.507đ.
    • - Số tiền nợ phát sinh theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể số 06-01/2017/222086/HĐTD ngày 21/12/2017 là 1.483.277.808đ, gồm: Nợ gốc = 800.000.000đ, nợ lãi trong hạn = 466.820.822đ, nợ lãi quá hạn = 216.456.986đ.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Hồng T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng.

  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, B có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Phạm Hồng T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì B có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp gồm:
    • - Xe ô tô tải ben BKS 14C-035.65; nhãn hiệu: CNHTC; số loại: HOWO; màu sơn: Trắng (giấy tờ về tài sản thế chấp là Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 007062 do Công an tỉnh Q cấp ngày 28/11/2011 mang tên chủ xe Phạm Hồng T2) theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2015/222086/HĐBĐ ngày 25/12/2015.
    • - Quyền sử dụng 99,5m2 đất ở thuộc thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 và nhà 02 tầng, tài sản khác gắn liền với đất; địa chỉ nhà đất: Khu V, trị trấn M, huyện Đ (nay là tổ B phố V, khu V, phường M, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ninh (giấy tờ về tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 335821, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 11466, do UBND thị xã Đ cấp ngày 29/12/2009 đứng tên ông Lưu Văn N, bà Nguyễn Thị Kim A) theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2011/HĐTCBĐS-NH/LVN-NTKA/PHT ngày 09/11/2011

    Trường hợp số tiền bán tài sản thế chấp lớn hơn khoản nợ phải trả cho B thì phần chênh lệch sẽ trả lại cho bên thế chấp. Nếu số tiền bán tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho B thì ông Phạm Hồng T2 phải tiếp tục thanh toán phần còn thiếu cho B.

  3. Về án phí: Ông Phạm Hồng T2 phải chịu 86.483.700đ (tám mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

    Hoàn trả B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 40.808.000đ (bốn mươi triệu tám trăm linh tám nghìn đồng) theo biên lai số AA/2022/0000340 ngày 17/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

  4. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hải Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Văn phòng Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Thị Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp

  • Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐTD và HĐTC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger