TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC ---------------------------------- |
Bản án số: 03/2024/HSST. Ngày: 10/01/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Kim Liên. |
| Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Hành. |
| Ông Phạm Thế Ngọc. | |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa: | Bà Từ Ngọc Thuý – Cán bộ Tòa án. |
| Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: | Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên. |
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 256/2023/HSST ngày 12/2/2023 theo Quyết định đưa ra xét xử số 256/2023/QĐXXST- HS ngày 14/12/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T - sinh năm 1996; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn N, xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn Giáo: Không; Giới tính: Nam, Con ông: Hoàng Văn N, Con bà: Nông Thị G; A, chị, em ruột: Có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư. Có vợ là Mò Thị T1, sinh năm: 1995, có 02 con. Con lớn sinh năm: 2021, con nhỏ sinh năm: 2013. D chỉ bản số 592 ngày 24/10/2023 Công an huyện T lập; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
+Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1973. Vắng mặt tại phiên toà.
Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Trịnh Văn L, sinh năm 1983. Vắng mặt tại phiên toà.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
+ Chị Bùi Thị Y, sinh năm 1981. Vắng mặt tại phiên toà.
Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 04/8/2023, Hoàng Văn T đi bộ qua trung tâm C1, ở thôn B, xã V, huyện T, Hà Nội. Thấy ở vị trí giáp với đường đi, cửa sổ phòng chị Nguyễn Thị T2 (Sinh năm: 1973; HKTT: thôn C, xã M, huyện T, Hải Phòng) mở, T đi lại gần, nhìn vào trong thì thấy có 01 túi xách da màu đen kích thước khoảng (18x20) treo trên móc quần áo nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi về nhà trọ ở thôn B, xã V, huyện T, Hà Nội lấy 01 gậy nhựa dạng ống nước dài khoảng 02 m (đường kính khoảng 02cm) quay trở lại cửa sổ phòng chị T2 dùng tay phải cầm gậy nhựa khều móc lấy được chiếc túi xách da màu đen đang treo trên móc quần áo. Về phòng trọ, khi mở chiếc túi xách ra để kiểm tra, thấy trong túi có các tài sản, đồ vật gồm: 06 tờ tiền mệnh giá 100 nhân dân tệ (màu đỏ); số tiền 300.000 đồng 01 sợi dây chuyền màu vàng có mặt dây chuyền gắn đá màu xanh nhạt; 01 đôi hoa tai màu vàng; 02 sim điện thoại; 01 chiếc đồng hồ đeo tay nữ; 01 thẻ ngân hàng có chữ Trung Quốc và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T2. Sau đó, T đi tới cửa hàng V, ở thôn C, xã V, huyện T, Hà Nội bán 01 sợi dây chuyền màu vàng gắn đá màu xanh nhạt và 01 đôi hoa tai màu vàng cho chị Bùi Thị Y (sinh năm: 1981, HKTT: thôn C, xã V, huyện T, Hà Nội) nhưng chị Y không mua viên đá màu xanh nhạt mà chỉ đồng ý mua dây chuyền màu vàng và 01 đôi hoa tai màu vàng với giá 5.620.000 đồng. Đến ngày 06/8/2023, T đến của hàng vàng Kim A, ở thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh bán 06 tờ tiền mệnh giá 100 Nhân dân tệ cho anh Trịnh Văn L (Sinh năm: 1983, HKTT: xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình) với giá 1.910.000 đồng. Buổi tối cùng ngày, T gặp và nói với anh Lã Văn T3 (Sinh năm: 1994; HKTT: thôn C, xã V, huyện T, Hà Nội) là T nhặt được một chiếc túi nhưng không tiện trả vì T có quen với chủ sở hữu chiếc túi, nếu T3 đi trả lại thì người ta có thể sẽ cảm ơn tiền. Thấy T3 đồng ý nên T cho T3 thông tin của chị T2 và dặn khi gặp T3 nói là nhặt được tài sản trên tại sân bóng V thuộc xã V, huyện T, Hà Nội.
Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 07/8/2023, T đưa anh T3 01 sim điện thoại để liên lạc với chị T2 và các tài sản gồm 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T2, 01 thẻ ATM có chữ Trung Quốc, 01 đồng hồ màu vàng, 02 sim điện thoại. Khi nhận được điện thoại của T3 bảo ra lấy giấy tờ, chị T2 đã nhờ quản lý Trung tâm C1 là anh Hoàng Cao C (sinh năm: 1980, HKTT: thôn B, xã V, huyện T, Hà Nội) ra địa điểm hẹn nhận lại tài sản. Khi gặp T3, anh C kiểm tra tài sản và hỏi T3 về chiếc dây chuyền thì T3 bảo không biết, chỉ nhặt được những tài sản trên. Ngày 09/8/2023, anh C đã tới Cơ quan Công an trình báo vụ việc trên.
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Công an đã thu giữ các đồ vật, tài sản gồm:
- - Chị Nguyễn Thị T2 tự nguyện giao nộp: 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Lotusman 1983 (đã qua sử dụng).
- - Chị Bùi Thị Y tự nguyện giao nộp: 01 USB bên trong có file video ghi nhận hình ảnh Hoàng Văn T đến cửa hàng V để bán tài sản; 02 hoa tai kim loại màu vàng trên hình chữ L (01 chiếc dài khoảng 1,2 cm, 01 chiếc dài khoảng 1cm; trong đó, 01 hoa tai có gắn 01 ngọc màu trắng);
- - Anh Trịnh Văn L tự nguyện giao nộp: 06 tờ tiền mệnh giá 100 nhân dân tệ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với các tài sản do Hoàng Văn T trộm cắp của chị Nguyễn Thị T2. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 145 ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện T kết luận:
- “01 dây chuyền kim loại màu vàng (1,16 chỉ) đã qua sử dụng trị giá 4.988.000 đồng (bốn triệu chín trăm tám mươi tám nghìn đồng);
- 01 mặt đá dây chuyền màu xanh nhạt (đã qua sử dụng) không định giá; 01 đồng hồ đeo tay nữ Lotusman 1893 (đã qua sử dụng) trị giá 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng);
- 01 đôi hoa tai bằng vàng 10K, 01 viên ngọc trai đã qua sử dụng trị giá 683.200 đồng (sáu trăm tám mươi ba nghìn hai trăm đồng;
- 01 túi da màu đen (đã qua sử dụng) không định giá”.
Căn cứ Bảng tỉ giá ngoại tệ của Ngân hàng N1, tại thời điểm trộm cắp, tỉ giá ngoại tệ giữa tiền Việt Nam đồng và tiền nhân dân tệ là 3.282,06. Qua quy đổi, 600 nhân dân tệ trị giá 1.969.236 đồng (một triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm ba mươi sáu đồng).
Như vậy, tổng giá trị tài sản T trộm cắp là 9.840.436 đồng (Chín triệu tám trăm bốn mươi nghìn bốn trăm ba mươi sáu đồng).
Quá trình điều tra, Hoàng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Điều tra thu thập được. Đối với mặt dây chuyền và túi xách da màu đen, T đã ném xuống sông H khu vực gần trụ sở Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Hà Nội nên không thu hồi được.
Đối với số tài sản do anh Nguyễn Văn L1, chị Bùi Thị Y, chị Nguyễn Thị T2 tự nguyện giao nộp, gồm 06 tờ tiền nhân dân tệ (mỗi tờ mệnh giá 100 nhân dân tệ), 02 bông tai kim loại màu vàng; 01 đồng hồ đeo tay nữ nhãn hiệu Lotusman 1893, qua điều tra xác định là tài sản của chị Nguyễn Thị T2. Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu, chị T2 đã nhận lại tài sản và yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại đối với những tài sản bị mất không thu hồi được với tổng số tiền là 20.000.000 đồng.
Đối với chị Bùi Thị Y và anh Trịnh Văn L, qua điều tra xác định khi mua tài sản của Hoàng Văn T không biết tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý. Về dân sự: Anh Trịnh Văn L yêu cầu T phải bồi thường cho anh L số tiền 1.910.000 đồng, là tiền mà anh L đã bỏ ra để mua lại 06 tờ tiền nhân dân tệ (mỗi tờ có giá trị 100 nhân dân tệ) của T; Chị Bùi Thị Y không yêu cầu về dân sự.
Đối với anh Lã Văn T3 qua điều tra xác định khi Hoàng Văn T nhờ anh T3 đi trả lại tài sản giấy tờ cho chị T2 để lấy tiền cảm ơn, anh T3 không biết các tài sản này do T trộm cắp được của chị T2 mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Tại bản cáo trạng: số 244/CT-VKS-TT ngày 6/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Hoàng Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 -Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà:
Bị cáo Hoàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, thừa nhận tội danh bị truy tố là đúng. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại là chị Nguyễn Thị T2 đã nhận đủ số tiền 20.000.000đồng và không yêu cầu gì về phần dân sự. Chị T2 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin vắng mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Văn L đã nhận đủ số tiền là 1.910.000đồng và không có yêu cầu gì về phần dân sự. Anh L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin vắng mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị Y có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì về dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 – Bộ luật hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
Về dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không buộc bị cáo bồi thường về dân sự.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Khoảng 20 giờ ngày 04/8/2023, trung tâm C1 địa chỉ thôn B xã V, huyện T, Hà Nội, Hoàng Văn T lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T2 01 túi xách da màu đen bên trong có 06 tờ tiền mệnh giá 100 nhân dân tệ (màu đỏ) có giá trị 1.969.236 đồng, số tiền 300.000đồng, 01 sợi dây chuyền màu vàng có mặt dây chuyền gắn đá mà xanh nhạt có giá trị 4.988.000đồng, 01 đôi hoa tai màu vàng có giá trị 683.200 đồng, 01 chiếc đồng hồ nữ đeo tay có giá trị 1.900.000đồng. Tổng giá trị tài sản do Hoàng Văn T trộm cắp của chị T2 là 9.840.236 đồng. Đối chiếu pháp luật hình sự Hoàng Văn T đã phạm tội "Trộm cắp tài sản", được quy định tại khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.
[2] Như vậy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Hoàng Văn T đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, do vậy cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng : trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự thể hiện bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có chú ruột Hoàng Ngọc Q là người có công với cách mạng. Bị cáo là người dân tộc Tày, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Các tình tiết giảm nhẹ giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 – Bộ luật hình sự năm 2015.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 7/9/2022 của TANDTC, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng khoan hồng, cải tạo ngoài xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.
Về phần dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136 Nghị quyết 326 về án phí.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 20, 22, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Về việc thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. |
Nguyễn Thị Kim Liên |
Bản án số 03/2024/HSST ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 03/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
