Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HSST

Ngày: 03/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

Thẩm phán: Ông Bùi Đức Bằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thu Hạnh
  2. Bà Trần Thị Dung
  3. Bà Vũ Thị Cự

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký viên chính Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Lương Thế Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 03/01/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 565/2023/TLST-HS ngày 08/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 717/2023/QĐXXST-HS ngày 06/12/2023; Thông báo mở lại phiên toà số 425/2023/HS-TA ngày 27/12/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Thị Bích N, sinh năm 1988 tại Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: Số nhà 48, ngõ 89, phố Quan N, phường Nhân C, quận Thanh X, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Phòng 2306, toà nhà Rainb, phường Văn Q, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lưu Lương T (đã chết); Con bà: Đặng Thị T; Chồng: Vũ Văn T; Con: Có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam ngày 26/9/2022; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

* Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Đức H - Công ty Luật TNHH Viên T - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

  1. Anh Hy K, sinh năm 1980; Nơi ở: Ngách 209/31 đường An D V, phường Phú T, quận Tây Hồ, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên toà).
  2. Chị Bùi Thị P, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Số nhà A24TT11, khu đô thị Văn Q, phường Văn Q, quận Hà Đông, Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
  3. Chị Phạm Thị N, sinh năm 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 267, phố Tôn Đức T, phường Hàng B, quận Đống Đa, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
  4. Chị Nguyễn Bích H, sinh năm 1979 và anh Nguyễn Thành P, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số nhà 14, ngõ 108/3 Trần P, Mộ L, HÀ Đông, Hà Nội. (Có mặt anh Nguyễn Thành P, Chị H uỷ quyền cho anh Nguyễn Thành P).
  5. Anh Trịnh Ngọc B, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Số nhà 33, ngõ 31 Lương Ngọc Q, phường Văn Q, quận Hà Đông, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên toà).
  6. Chị Trần Diệu T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn Thuận Q, xã D X, huyện Gia Lâm, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên toà).
  7. Ông Lê Văn P, sinh năm 1952; Nơi cư trú: Căn 8/4 Tiểu khu Evel, KĐT Parkcity, phường La K, quận Hà Đông, Hà Nội. (Có mặt tại phiên toà).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Phòng 2306, tòa nhà Rainb, phường Văn Q, quận Hà Đông, Hà Nội. (Chồng bị cáo N). (Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Thị Bích N (sinh năm 1988; trú tại số nhà 48/89, phố Quan N, phường Nhân C, quận Thanh X, thành phố Hà Nội) là đối tượng không nghề nghiệp ổn định, không có quan hệ quen biết với những người có chức vụ, quyền hạn để có thể làm thủ tục xin chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất ở lâu dài; không mua được các loại xe ô tô, điện thoại di động, máy tính xách tay với giá rẻ; không mua được các căn biệt thự với giá ngoại giao; không xin được trúng thầu dự án cung cấp trang thiết bị y tế...do có ý định chiếm đoạt tiền của người khác nên trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2021, N đã đưa ra các thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tiền của 07 người bị hại, với tổng số tiền là 7.006.330.000 đồng. Cụ thể như sau:

1. Vụ thứ nhất: Khoảng cuối năm 2015, thông qua các quan hệ xã hội, Lưu Thị Bích N quen biết anh Hy K (sinh năm 1980; trú tại tổ 22, cụm 3, phường Phú T, quận Tây Hồ, Hà Nội). Trong thời gian quen biết nhau, anh K nói với N là có 02 thửa đất nông nghiệp có diện tích 1.114 m² tại tổ dân phố Đại Đồng, phường Thụy P, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, thời hạn sử dụng đất 20 năm và muốn làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Do có ý định chiếm đoạt tiền của anh K nên N đã nói với anh K là có quan hệ quen biết với lãnh đạo Sở Tài nguyên môi trường thành phố Hà Nội và có thể làm được sổ đỏ cho đất của anh K, có thể giúp anh K làm thủ tục chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất ở lâu dài. N và anh K thỏa thuận nếu N làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh K thì N hưởng 1/2 giá trị thửa đất ở thời điểm bán. Anh K đồng ý nên đã đưa toàn bộ giấy tờ gốc thửa đất trên cho N gồm: Chứng nhận của Uỷ ban nhân dân huyện Từ Liêm đối với hộ gia đình bà Hoàng Thị Tuất được sử dụng đất nông nghiệp và Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa bà T và anh Nguyễn Trung K (sinh năm 1976; trú tại phường Thụy P, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội; là người được anh Hy K nhờ đứng tên). Đến khoảng đầu năm 2016, do chờ lâu nhưng N vẫn không làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên

anh Hy K yêu cầu N trả lại giấy tờ hồ sơ đất. N không trả lại giấy tờ đất mà nói với anh Hy K nếu muốn làm số nhanh thì chuyển tiền cho N để đi quan hệ. Anh Hy K tin tưởng nên đã 03 lần đưa tiền mặt cho N, với số tiền là 600.000.000 đồng, 500.000.000 đồng và 368.500.000 đồng (tổng số tiền là 1.468.500.000 đồng). Đến tháng 6/2016, N vẫn không làm được thủ tục chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất ở lâu dài cho anh Hy K nên anh Hy K yêu cầu N trả lại toàn bộ tiền và giấy tờ đất. Sau đó, N đã trả lại anh K giấy tờ đất nhưng không trả lại số tiền 1.468.500.000 đồng cho anh K.

Ngày 15/7/2016, N viết 01 Giấy cam kết và 01 Giấy nhận tiền, nội dung nhận của anh Hy K số tiền 1.468.500.000 đồng và cam kết đến ngày 27/5/2017 sẽ đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh K. Ngoài ra ngày 22/12/2016, N hỏi vay riêng của anh K 1.141.000.000 đồng để đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những người khác, anh K đồng ý cho N vay số tiền 1.141.000.000 đồng (N có viết giấy vay tiền đưa cho anh K), số tiền N vay của anh K đến nay chưa trả.

Số tiền Lưu Thị Bích N chiếm đoạt của anh Hy K thông qua thủ đoạn lừa dối anh K để chiếm đoạt là 1.468.500.000 đồng.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ do anh Hy K giao nộp 01 Giấy cam kết và 01 Giấy nhận tiền cùng ghi ngày 15/7/2016; 01 Giấy vay tiền và 01 bản cam kết cùng ghi ngày 22/12/2016 do Lưu Thị Bích N viết.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với các tài liệu đã thu giữ của Lưu Thị Bích N. Tại bản Kết luận giám định số 2576/KLGĐ ngày 27/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“... 1. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Lưu Thị Bích N dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2; Chữ viết phần nội dung, chữ ký, chữ viết dòng họ tên Lưu Bích N dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu A3, A4 với chữ ký, chữ viết đứng tên Lưu Thị Bích N trên các mẫu so sánh ký hiệu M1,M2 là chữ do cùng một người ký và viết ra.

2. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Hy K dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 với chữ ký, chữ viết đứng tên Hy K trên các mẫu so sánh ký hiệu M3, M4 là chữ do cùng một người ký và viết ra.”

Trách nhiệm dân sự: Anh Hy K yêu cầu bị can Lưu Thị Bích N phải trả lại số tiền 2.609.500.000 đồng và đề nghị xử lý N theo pháp luật.

2. Vụ thứ hai: Khoảng cuối năm 2019, Lưu Thị Bích N quen biết chị Bùi Thị P (sinh năm 1982; trú tại số nhà A24TT11, khu đô thị Văn Q, phường Văn Q, quận Hà Đông, Hà Nội). Đến khoảng tháng 10/2020, N nói dối với chị P có mối quan hệ quen biết với Lãnh đạo Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (Cục C03) - Bộ Công an nên N có thể nhập xe ô tô từ cảng Hải Phòng, và cảng thành phố Hồ Chí Minh về thành phố Hà Nội và nhập được điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, máy tính bảng Macbook với giá rẻ so với thị trường. N rủ chị P có tiền thì mua xe ô tô, điện thoại, máy tính bảng để đầu tư rồi bán ra thị trường kiếm lời. Do tin tưởng N nên chị P đồng ý góp vốn. Từ ngày 11/10/2020 đến ngày 25/02/2021, chị P đã nhiều lần chuyên tổng số tiền là 335.000.000 đồng vào tài khoản số 19028552646668 của N hàng Techcombank để đặt cọc mua xe ô tô và làm thủ tục cấp biển kiểm soát đối với 02 xe ô tô nhãn hiệu Lexus, 01 xe ô tô nhãn hiệu Range Rover, 01 xe ô tô nhãn hiệu Camry. N

cam kết với chị P sau khi đặt cọc tiền từ 01 - 03 tháng thì chị P sẽ nhận được tất cả các xe ô tô trên và thanh toán nốt số tiền còn lại.

Thời gian này, chị P quen biết với chị Trần Võ Huệ T(sinh năm 1992; trú tại ngõ 43, phố Triều Khúc, phường Thanh X Nam, quận Thanh X, Hà Nội) là Giám đốc Công ty TNHH Giải Pháp phần cứng (công ty kinh doanh về máy tính có trụ sở tại thị trân Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Hà Nội). Do tin lời N nói về việc sẽ mua được 150 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max với giá 5.400.000 đồng/01 chiếc và 30 chiếc máy tính Macbook với giá 12.800.000 đồng/01 chiếc nên chị P thỏa thuận với chị T sẽ lấy cho Công ty của chị T máy tính macbook và điện thoại Iphone 12 Promax với giá rẻ, chị T đồng ý. Ngày 26/12/2020, chị Thường đã bảo anh Đặng Chí Minh (sinh năm 1990; trú tại xã Hồng Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội) là Phó Giám đốc Công ty TNHH Giải pháp phần cứng chuyển số tiền 60.000.000 đồng tiền đặt cọc vào tài khoản số 19028552646668 của N mở tại N hàng Techcombank. Ngày 27/12/2020, chị P ký Hợp đồng kinh tế với chị T bán cho Công ty TNHH Giải pháp phần cứng 30 chiếc Macbook Pro và 12 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax dung lượng 512gb. Ngày 28/12/2020, chị P chuyển tiếp cho N tiền đặt cọc 35.000.000 đồng. Ngày 18/2/2021, theo yêu cầu của N, chị P đã chuyển tiếp số tiền đặt cọc là 180.000.000 đồng vào tài khoản số [...] của anh Nguyễn Cao Cường (sinh năm 1991; trú tại xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, Hà Nội; là em rể của N) với nội dung: “Chuyển khoản tiền đặt hàng cho N qua Cường”. Anh C nhận tiền đã chuyển khoản lại cho N. Tổng số tiền chị P và công ty của chị T đã chuyển cho N để đặt cọc mua điện thoại và máy tính là 275.000.000 đồng. Sau đó, N không nhập được lượng máy tính và điện thoại như đã hứa hẹn nên chị P đã lấy tiền của mình trả lại cho chị T 60.000.000 đồng.

Do không thực hiện được cam kết nhập xe ô tô, máy tính, điện thoại cho chị P và sợ chị P tố giác đến Cơ quan Công an nên ngày 13/5/2921, N đã ký xác nhận với chị P tự nguyện bồi thường số tiền 2.450.000.000 đồng. Trong đó 1.000.000.000 đồng là bồi thường uy tín cho chị P về việc không thực hiện được Hợp đồng kinh tế với Công ty Giải Pháp phần cứng và N dùng số tiền này để đi đặt cọc hộ cho chị P để mua 03 biệt thự là căn L31, L32 dãy D03 và L48 dãy C01 mặt hồ Thiên Văn tại khu đô thị An Hưng, phường D Nội, quận Hà Đông, Hà Nội và tự nguyện bồi thường 1.450.000.000 đồng là tiền chị P đặt cọc mua xe ô tô, máy điện thoại Iphone, máy tính bảng Macbook nhưng không thành. Đến khoảng tháng 11/2021, N đưa chị P 01 bản phô tô Hợp đồng mua bán nhà ở giả số 1526 - 2021, biệt thự số 29, lô đất D03-L29, khu đô thị An Hưng giữa N và Công ty cổ phần tập đoàn Nam Cường Hà Nội. N thỏa thuận với chị P đợi hoàn tất thủ tục để làm sổ đỏ căn biệt thự thì N sẽ chuyển nhượng lại cho chị P và trừ đi số tiền 2.450.000.000 đồng. Chị P đồng ý nhưng yêu cầu N phải viết giấy xác nhận cho chị P. Ngày 26/11/2021, N viết 01 giấy xác nhận về việc bán lô đất D02-L24, tờ bản đồ số 3, khu đô thị Nam Cường, phường D Nội, quận Hà Đông, Hà Nội cho chị P. Khoảng tháng 12/2021, N đưa cho chị P 01 bản phô tô Hợp đồng đặt cọc giả căn biệt thự An Quý số 12/2021, biệt thự số F01, lô đất L32, khu đô thị D Nội giữa chị Bùi Thị P và Công ty Cổ phần tập đoàn Nam Cường. Ngày 25/12/2021, N đưa cho chị P 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CL275241 của căn biệt thự D01-L24 An Vượng, khu đô thị mới D Nội, quận Hà Đông, Hà Nội mang tên Bùi Thị P do N đặt mua trên mạng Internet của 01 người không quen biết để cấn trừ khoản nợ 2.450.000.000 đồng.

Tổng số tiền Lưu Thị Bích N chiếm đoạt của chị Bùi Thị P là 610.000.000 đồng. Ngày 05/4/2022 chị P có đơn tố giác hành vi trên của N gửi đến Công an thành phố Hà Nội.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ do chị Bùi Thị P giao nộp: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL275241; 01 Giấy xác nhận đứng tên Lưu Thị Bích N đề ngày 26/11/2021; 01 Giấy nhận tiền bên nhận Lưu Thị Bích N đề ngày 13/5/2021 và các tin nhắn trao đổi giữa chị Bùi Thị P và Lưu Thị Bích N.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Lưu Thị Bích N khai nguồn gốc bản Hợp đồng mua bán nhà ở giả số 1526 - 2021, biệt thự số 29, lô đất D03-L29, khu đô thị An Hưng giữa N và Công ty cổ phần Tập đoàn Nam Cường Hà Nội, bản Hợp đồng đặt cọc giả căn biệt thự An Quý số 12/2021, biệt thự số F01, lô đất L32, khu đô thị D Nội giữa chị Bùi Thị P và Công ty Cổ phần Tập đoàn Nam Cường mang tên Bùi Thị P là do N đặt mua trên mạng Internet của 01 người không quen biết, do đã lâu N không nhớ số tiền bỏ ra để đặt mua bản Hợp đồng đặt cọc nhà đất trên, N thanh toán tiền nhận các tài liệu giả trên thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh.

Còn đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CL275241 của căn biệt thự D01-L24 An Vượng, khu đô thị mới D Nội, quận Hà Đông, Hà Nội, N khai do đối tượng Lê Anh T – Lâm ở Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội làm và đưa cho N. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có đối tượng Lê Tuấn Anh như N khai.

Tại bản Kết luận giám định số 3933/KLGĐ ngày 22/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“... 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL275241 cần giám định (ký hiệu A1) là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả.

2. Chữ viết, chữ ký đứng tên Lưu Thị Bích N trên mẫu cần giám định (ký hiệu A2), Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Lưu Thị Bích N dưới chữ ký trên mẫu cần giám định (ký hiệu A3) với chữ viết, chữ ký đứng tên Lưu Thị Bích N trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là chữ do cùng một người viết và ký ra.”

Tại bản Kết luận giám định số 1632/KLGĐ ngày 22/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

“... 1. Phôi “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CL275241, hình dấu tròn “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI - SỞ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A được tạo ra bằng phương pháp in màu kỹ thuật số.

2. Chữ ký đứng tên Lê Thanh N trên mẫu cần giám định ký hiệu A được tạo ra bằng phương pháp ký trực tiếp.”

Trách nhiệm dân sự: Ngày 24/5/2022, anh Vũ Văn T (là chồng của bị can Lưu Thị Bích N) đã tự nguyện thay N chuyển khoản cho anh Đỗ Trọng Tấn (là chồng chị Bùi Thị P) để trả chị P số tiền 1.500.000.000 đồng (trong đó có 610.000.000 đồng do N chiếm đoạt của chị P, số tiền còn lại N tự nguyện bồi thường cho chị P vì không thực hiện đúng cam kết) nội dung ghi “Anh Toàn trả nợ cho Lưu Thị Bích N”. Cùng ngày, chị P có đơn đề nghị xin rút đơn yêu và xin giảm nhẹ hình phạt cho Bích N.

3. Vụ thứ ba: Cuối năm 2019, Lưu Thị Bích N quen biết chị Phạm Thị N (sinh năm 1992; trú tại số nhà 267, phố Tôn Đức T, phường Hàng B, quận Đống Đa, Hà Nội). Trong thời gian quen biết, Bích N giới thiệu với chị Phạm Thị N là đang công tác tại Thanh tra Chính Phủ. Đến khoảng tháng 02/2020, Bích N gọi điện thoại cho chị Phạm Thị N nói dối là vừa phối hợp với Tổng cục Hải quan bắt được lô hàng điện tử gồm điện thoại di động Iphone, máy tính bảng Macbook, sẽ bán phát mại ra thị trường với đầy đủ giấy tờ thuế, hóa đơn hợp pháp và rủ chị N mua với giá rẻ để sử dụng. Do tin là thật nên từ tháng 02 - 4/2020, chị Phạm Thị N đã nhiều lần chuyển tiền qua tài khoản N hàng cho Bích N để mua 108 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax 64gb; 07 chiếc máy tính Macbook đời mới và 10 Ipad đời mới, Bích N hẹn sau khi chuyển tiền từ 15 - 30 ngày là sẽ được nhận đủ toàn bộ số hàng trên bao gồm giấy tờ hóa đơn hợp pháp. Đến gần ngày phải bàn giao hàng, Bích N tiếp tục gọi điện thoại cho chị Phạm Thị N nói là Cơ quan của Bích N và Tổng cục Hải Quan vừa bắt được lô hàng nữa gồm xe máy nhãn hiệu SH, xe ô tô, nếu có nhu cầu mua thì chị Phạm Thị N chỉ cần đặt cọc tiền, sau 10 ngày đến 01 tháng sẽ nhận được xe và đầy đủ giấy tờ hợp pháp và sẽ thanh toán đầy đủ sau. Chị Phạm Thị N tin tưởng nên tiếp tục chuyển thêm tiền cho Bích N để đặt cọc mua 05 xe máy nhãn hiệu SH đời mới nhất, 02 xe ô tô nhãn hiệu Meredes S400 cùng 03 xe ô tô nhãn hiệu Mercedes S500, 01 xe ô tô hiệu Mercedes 600 và 02 xe ô tô nhãn hiệu Lexus RX 350 sport. Để chị Phạm Thị N tin tưởng, Bích N mua sim điện thoại số 0936.433.xxx và sử dụng ứng dụng chuyển đổi giọng nữ sang nam rồi giả giọng gọi điện thoại cho chị Phạm Thị N tự xưng là Mai Xuân T - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan và hẹn ngày lấy hàng, địa điểm giao hàng, kiểm hàng. Đến tháng 5/2022, N báo khoảng các ngày 24, 25, 26/5/2020 do anh T bị bắt vì tội buôn lậu vũ khí và tội phạm chính trị nên phải đợi anh T về mới xử lý được số hàng trên, và bảo chị Phạm Thị N đợi nhưng chị Phạm Thị N không đồng ý và yêu cầu Bích N phải trả lại tiền.

Tiếp đó khoảng tháng 11/2020, Bích N nói với chị Phạm Thị N về việc có mối quan hệ với ông Lê Thanh N - Phó giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Hà Nội nên Bích N có nhiều xuất căn biệt thự ngoại giao và Bích N sẽ bán rẻ cho chị Phạm Thị N 01 căn biệt thự liền kề ở dự án khu đô thị An Hưng, dự án Nam Cường gần Công viên Thiên Văn Học với giá khoảng 7.000.000.000 đồng để trừ vào số tiền do chị Phạm Thị N đã chuyển cho Bích N để mua điện thoại, máy tính, xe máy, xe ô tô trước đó và bảo chị Phạm Thị N chuyển tiền đặt cọc để giữ căn biệt thự. Để chị Phạm Thị N tin tưởng, Bích N tiếp tục sử dụng điện thoại số 0936.433.xxx và giả giọng ông Lê Thanh N nói với chị Phạm Thị N về quan hệ giữa Bích N với ông Lê Thanh N. Chị Phạm Thị N tin tưởng nên tiếp tục chuyển 340.000.000 đồng qua chuyển khoản N hàng cho Bích N để đặt cọc mua 01 xuất biệt thự liền kề. Bích N hẹn tháng 5/2021 sẽ đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao nhà, lúc đó chị Phạm Thị N sẽ đóng nốt số tiên thiếu còn lại.

Đến tháng 7/2021, Bích N kể với chị Phạm Thị N là đã chuyển công tác đến Phòng 10, Cục C03 - Bộ Công an. Bích N sẽ dùng mối quan hệ của mình để giúp chị Phạm Thị N trúng thầu dự án cung cấp trang thiết bị y tế tại các Bệnh viện ở Việt Nam với 02 gói thầu là 1.000 tỷ và 3.000 tỷ và để trúng thầu dự án này thì phải nộp tiền để đấu thầu. Chị Phạm Thị N tin tưởng nên từ tháng 7/2021 đến tháng 10/2021 đã chuyển khoản cho Bích N và nhờ bạn là Nguyễn Đình D

(sinh năm 1992; trú tại số nhà 730, phố Tôn Đức T, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng) chuyển khoản cho Bích N có ghi nội dung: “Đấu thầu y tế”, “Việc của D”, “Việc của N”, “Em D chuyển khoản” và khoảng tháng 6 - 7/2021, chị Phạm Thị N đưa 400.000.000 đồng tiền mặt cho Bích N tại nhà của Bích N ở chung cư Seasonnenvenu, ngõ Dậu, phường Mộ L, quận Hà Đông, Hà Nội. Trong quá trình chị Phạm Thị N chuyển khoản, để chị Phạm Thị N tin tưởng, Bích N tiếp tục giả giọng, giả danh ông Mai Xuân T gọi điện thoại cho chị Phạm Thị N nói việc ông Thành bị bắt và Bích N đang lo việc chạy án cho ông Thành.

Tháng 8/2021, chị Phạm Thị N có kể với Bích N việc năm 2020, chị Phạm Thị N có đầu tư tiền ảo vào sàn ELD trên mạng Internet thì bị 01 đối tượng tên Nguyễn Minh T lừa mất hết tiền. Nghe xong, Bích N nói là việc này để Bích N giúp chị Phạm Thị N, chỉ cần gửi tiền và Đơn tố giác tội phạm cho Bích N là sẽ lấy lại được tiền. Chị Phạm Thị N tin tưởng nên đưa Đơn tố giác tội phạm và chuyển khoản tiền ghi nội dung: “tiền đơn ELD” và đưa tiền mặt cho Bích N, cụ thể: Tháng 8/2021, chị Phạm Thị N đưa tiền mặt cho Bích N 80.000.000 đồng tại cổng A1 chung cư Mullery, ngõ Dậu, phường Mộ L, quận Hà Đông, Hà Nội. Cùng thời gian này, chị Phạm Thị N giới thiệu với Chị Trần Diệu T (sinh năm 1985; trú tại thôn Thuận Q, xã D X, huyện Gia Lâm, Hà Nội) và ông Lê Văn P (sinh năm 1952; trú tại tổ 38, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội) là 02 người cũng bị mất tiền ở sàn ELD biết về việc Bích N có thể giúp lấy lại tiền. Chị Phạm Thị N đã tạo 01 nhóm chat ở ứng dụng Telegram tên ELD đê chị Thúy và chị Phạm Thị N nói chuyện với Bích N trong nhóm. Ngày 12/10/2021, ông Phác đã chuyển vào tài khoản N hàng của Bích N số tiền 27.000.000 đồng với nội dung "ELD Thang”; ngày 02/8/2021, chị Thúy đã chuyển vào tài khoản N hàng của Bích N số tiền 29.200.000 đồng và ngày 02/8/2021, chị Phạm Thị N bảo bạn tên T chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản N hàng Techcombank số 19028552646668 của chị Lưu Thanh H (sinh năm 1991; là em ruột của Lưu Thị Bích N) nội dung chuyển khoản “Việc của T”. Chị Hà nhận hộ tiền và chuyển lại cho Bích N. Sau khi nhận tiền của chị Phạm Thị N, ông Phác và chị Thúy, N hứa hẹn là sau 04 tháng sẽ đòi được tiền từ Nguyễn Minh T để trả cho mọi người.

Tháng 9/2021, Bích N bảo chị Phạm Thị N mua hộ 01 máy tính bảng Ipad và 01 máy tính xách tay để Bích N làm hồ sơ mật cho Mai Xuân Thành, sau 01 tuần thì Bích N sẽ trả lại tiền. Chị Phạm Thị N tin tưởng nên đã mua 01 máy tính bảng Ipad Pro 11 (số Imei SPR2L24FWFL) cùng 01 máy tính nhãn hiệu Dell Inspiron 750 i5 (số Imei 68WWPV93) tại siêu thị Big C (địa chỉ: Số 110 Trần P, quận Hà Đông, Hà Nội) hết số tiền 57.260.000 đồng và đưa cho Bích N. Sau khi có được máy, Bích N đem bán 02 chiếc máy tính bảng và máy tính xách tay trên qua mạng Internet cho 01 người không quen biết để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng tháng 12/2021, Bích N đến nhà chị Phạm Thị N tại cổng chung cư Mulbery Lane và đưa cho chị Phạm Thị N 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả, mã số CL289155 đối với thửa đất ở khu đô thị mới D Nội, quận Hà Đông, Hà Nội, diện tích 175.3 m² mang tên chị Phạm Thị N để cấn trừ số tiền Bích N nợ của chị Phạm Thị N là 3.118.630.000 đồng và nói dối chị Phạm Thị N chờ đến tháng 7/2022 thì Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất này mới hiển thị trên hệ thống của mạng Internet.

Căn cứ kết quả sao kê tài khoản N hàng Techcombank số 19029012514025 của chị Phạm Thị N; kết quả sao kê tài khoản N hàng Techcombank số 1902855264668 của Lưu Thị Bích N và kết quả đối chất giữa N và chị Phạm Thị N, xác định Lưu Thị Bích N đã chiếm đoạt của chị Phạm Thị N tổng số tiền là 3.118.630.000 đồng, chiếm đoạt của ông Lê Văn P 27.000.000 đồng và chiếm đoạt của Chị Trần Diệu T 29.200.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ do chị Phạm Thị N giao nộp: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL289155 và thu giữ tin nhắn cuộc nói chuyện và File ghi âm cuộc nói chuyện giữa chị Phạm Thị N và Lưu Thị Bích N.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Lưu Thị Bích N khai nguồn gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả, mã số CL289155 đối với thửa đất ở khu đô thị mới D Nội, quận Hà Đông, Hà Nội, diện tích 175.3 m² mang tên chị Phạm Thị N là do N đặt mua trên mạng Internet của 01 người không quen biết, do đã lâu N không nhớ số tiền bỏ ra để đặt mua Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất trên, N thanh toán tiền nhận các tài liệu giả trên thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh.

Tại bản Kết luận giám định số 1854/KLGĐ ngày 31/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL289155, kết luận:

“... 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL289155 cần giám định ký hiệu A là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả.

2. Chi tiết in phôi, hình dấu tròn: SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI trên mẫu giám định ký hiệu A được tạo ra bằng phương pháp in màu kỹ thuật số. Chữ ký đứng tên Lê Thanh N trên mẫu giám định ký hiệu A là chữ ký được ký trực tiếp. 3. Con dấu đóng ra hình dấu tròn: SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI trên mẫu so sánh ký hiệu M không đóng ra hình dấu tròn SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI trên mẫu cần giám định ký hiệu A.”

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, anh Vũ Văn T (là chồng bị can N) đã tự nguyện thay bị can Bích N trả lại chị Phạm Thị N số tiền 60.000.000 đồng. Chị Phạm Thị N yêu cầu Bích N tiếp tục trả lại số tiền 3.058.630.000 đồng.

Ông Lê Văn P yêu cầu bị can Bích N trả lại 27.000.000 đồng và chị Trần Diệu Thuý yêu cầu Bích N trả lại 29.200.000 đồng.

4. Vụ thứ tư: Năm 2018, Lưu Thị Bích N có quan hệ quen biết với chị Nguyễn Bích H (sinh năm 1979; trú tại số nhà 48, đường Vạn Phúc, tổ dân phố Chiến Thắng, phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, Hà Nội) thông qua chồng N là anh Vũ Văn T (sinh năm 1972, trú tại căn hộ 2306 chung cư Rainb phường Văn Q, quận Hà Đông, Hà Nội) là bạn học cũ với anh Nguyễn Thành P (sinh năm 1973, nơi cư trú tổ 7, phường Mộ L, quận Hà Đông, Hà Nội - là chồng chị Hồng), từ đó gia đình Bích N và gia đình Chị H thường quan hệ qua lại với nhau.

Tháng 7/2020, do có ý định chiếm đoạt tiền của Chị H nên Bích N nói dối với Chị H việc N đang kết hợp làm ăn với chị Phạm Thị N (sinh năm 1992; trú tại

số nhà 267, phố Tôn Đức T, phường Hàng B, quận Đống Đa, Hà Nội) là 01 chuyên gia trong lĩnh vực “chạy thị trường” cho các sản phẩm làm đẹp và đồ gia dụng, và là một chuyên gia trong lĩnh vực chơi chứng khoán nên Bích N rủ Chị H cùng góp vốn đầu tư và sau 01 tháng sẽ quyết toán và hoàn trả lại cho Chị H cả tiên gốc và lãi. Chị H tin tưởng nên đã chuyển khoản qua N hàng và đưa tiền mặt cho Bích N số tiền 735.000.000 đồng. Đến hạn thanh toán, Bích N không chuyển tiền trả lại cho Chị H mà thỏa thuận sẽ nhập hết vào tiền đóng tiến độ của căn biệt thự ký hiệu C01-L48 ở khu An Vượng dự án khu đô thị D Nội, quận Hà Đông cho chị Hồng. Bích N nói dối đây là căn ngoại giao của anh Lê Thanh N (là Phó giám đốc Sở tài nguyên Môi trường Hà Nội) để lại cho Bích N và Bích N sẽ bán lại cho vợ chồng Chị H với giá ưu đãi. Chị H tin tưởng nên đồng ý. Đến tháng 12/2020, vợ chồng Chị H chuyển tiếp tiền cho Bích N thêm 115.000.000 đồng nữa. Ngoài căn biệt thự C01-L48, Bích N còn nói với Chị H là có thêm các căn giá ưu đãi khác là xuất ngoại giao, giảm hơn so với thị trường khoảng 2.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng/căn và bảo Chị H nếu biết ai có nhu cầu đầu tư thì giới thiệu. Tin lời Bích N nên Chị H đã giới thiệu anh Trịnh Ngọc B (sinh năm 1970; trú tại số nhà 33, ngõ 31, đường Lương Ngọc Q, phường Văn Q, quận Hà Đông, Hà Nội; là bạn của anh trai chị Hồng) biết. Sau đó, Bích N trao đổi với Chị H và anh Biên thống nhất mua giúp anh Biên căn biệt thự ký hiệu L33-D01 với giá ưu đãi là 12.800.000.000 đồng. Bích N yêu cầu anh Biên đặt cọc nên anh Biên đã chuyển khoản 100.000.000 đồng cho Chị H và Chị H đã chuyển khoản 100.000.000 đồng cho Bích N. Sau đó từ ngày 04/12/2020 đến ngày 04/01/2021, anh Biên nhiều lần trực tiếp chuyển tiền vào tài khoản N hàng của N tổng số tiền là 821.000.000 đồng. Để Chị H tin tưởng, Bích N đã mua sim điện thoại rác số 0962.418.xxx và giả giọng người có tên là Tuấn công tác tại Phòng tài nguyên và môi trường quận Hà Đông để nhắn tin cho Chị H và gọi điện thoại cho Chị H giục đóng tiền theo tiến độ. Bích N hứa hẹn với Chị H là đến ngày 15/3/2021, chủ đầu tư sẽ bàn giao Hợp đồng mua bán nhà, khi đó Chị H và anh Biên mới phải thanh toán 95% giá trị căn hộ.

Đến tháng 03/2021, Bích N không có Hợp đồng mua bán nhà giao cho Chị H và anh Biên như hứa hẹn nên Chị H và anh Biên đã nhiều lần thúc giục Bích N. Bích N đã lên mạng Internet đặt mua của 01 người không quen biết 02 bản Hợp đồng mua bán nhà ở giả số 1527/2021 đối với căn Biệt thự số 22, lô đất D02-L33, khu đô thị An Hưng và số 1526/2021 đối với căn Biệt thự số 25, lô đất D02-L25, khu đô thị An Hưng, mang tên người mua là chị Nguyễn Bích H. Đầu năm 2022, Bích N đưa 02 bản Hợp đồng mua bán nhà cho anh Nguyễn Thành P (là chồng chị Hồng).

Tổng số tiền Lưu Thị Bích N đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Bích H là 850.000.000 đồng và chiếm đoạt của anh Trịnh Ngọc B là 821.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ do chị Nguyễn Bích H giao nộp: 02 Hợp đồng mua bán nhà ở đối với Biệt thự số 33, lô đất D02-L33, khu đô thị An Hưng và Biệt thự số 25, lô đất D02-L25, khu đô thị An Hưng cùng các tin nhắn trao đổi giữa chị Nguyễn Bích H và Lưu Thị Bích N.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Lưu Thị Bích N khai nguồn gốc 02 bản Hợp đồng mua bán nhà ở giả số 1527/2021 đối với căn Biệt thự số 22, lô đất D02-L33, khu đô thị An Hưng và số 1526/2021 đối với căn Biệt thự số 25, lô đất D02-L25, khu đô thị An Hưng, mang tên người mua là chị Nguyễn Bích H là do N đặt mua

trên mạng Internet của 01 người không quen biết, do đã lâu N không nhớ số tiền bỏ ra để đặt mua Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất trên, N thanh toán tiền nhận các tài liệu giả trên thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh.

Tại bản Kết luận giám định số 4916/KLGĐ ngày 25/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “... Chữ ký đứng tên Lê Duy Mạnh trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) với chữ ký đứng tên Lê Duy Mạnh trên mẫu so sánh (ký hiệu M3) không phải là chữ do cùng một người ký ra; Không tiến hành giám định hình dấu tròn CHI NHÁNH HÀ TÂY CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN NAM CƯỜNG HÀ NỘI trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) do mẫu so sánh không tương ứng”.

Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Bích H và anh Trịnh Ngọc B yêu cầu bị can Lưu Thị Bích N trả lại số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể Chị H yêu cầu trả lại 850.000.000 đồng và anh Biên yêu cầu trả lại 821.000.000 đồng. Ngày 14/9/2022, anh Vũ Văn T (là chồng bị can N) đã chuyển trả vào tài khoản N hàng của Chị H số tiền 200.000.000 đồng nội dung ghi: “Anh Toàn chuyển tiền cho N gửi lại Hồng”. Chị H yêu cầu bị can N tiếp tục phải trả lại số tiền còn lại là 650.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 546/CT-VKS-P2 ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố Lưu Thị Bích N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đính chính cáo trạng về số tiền quy kết bị cáo Lưu Thị Bích N chiếm đoạt của các bị hại tổng số là 7.006.330.000 đồng, nay đính chính lại là 6.924.330.000 đồng, do lỗi đánh máy bị nhầm.

Tại phiên toà, bị cáo Lưu Thị Bích N nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và không có ý kiến gì về tội danh, điều khoản luật mà Viện kiểm sát áp dụng truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận những lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Bị cáo thay đổi lời khai liên quan đến đối tượng Lê Tuấn Anh mà bị cáo khai là người cầm tiền của bị cáo và đưa cho bị cáo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CL275241 của căn biệt thự D01-L24 An Vượng, khu đô thị mới D Nội, quận Hà Đông, Hà Nội, mang tên chị Bùi Thị P trong quá trình điều tra. Bị cáo khai thực tế không có đối tượng Lê Tuấn Anh, mà bị cáo tự đặt mua trên mạng của đối tượng không quen biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét cử, bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 50.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội để khắc phục hậu quả cho các bị hại. Tổng số đã khắc phục cho các bị hại 920.000.000 đồng.

Những người bị hại đều có ý kiến trình bày: Nhất trí với Cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị xét xử bị cáo theo qui định của pháp luật. Bị hại chị Bùi Thị P, anh Nguyễn Thành P và ông Lê Văn P đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho những người bị hại toàn bộ số tiền mà bị cáo đã lừa đảo của họ.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa: Sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lưu Thị Bích N và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lưu Thị Bích N: 15 đến 16 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 3 đến 4 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 18 đến 20 năm tù.

Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585; 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 6.924.330.000 đồng, được trừ đi số tiền bị cáo đã bồi thường cho các bị hại và nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Không.

+ Người bào chữa cho bị cáo Lưu Thị Bích N là luật sư Nguyễn Đức H có quan điểm: Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục được một phần hậu quả với tổng số tiền 920.000.000 đồng. Bị cáo có nhân thân tốt, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo do tin tưởng bạn bè có thể mua được đồ rẻ để mua cho người khác, nhưng bị cáo không chứng minh được do khi đưa tiền cho người khác không ghi giấy tờ, dẫn đến hành vi phạm tội và hậu quả như hiện tại. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mất, con nhỏ đang tuổi phát triển tâm sinh lý cần có người mẹ ở bên. Với những tình tiết giảm nhẹ như đã phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, áp dụng mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình, sữa chữa lỗi lầm.

Bị cáo Lưu Thị Bích N nhất trí với quan điểm bào chữa của Luật sư tại phiên tòa và không có bổ sung, tranh luận gì.

Những người bị hại có mặt tại phiên toà nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Riêng bị hại là chị Phạm Thị N có đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ đối tượng Lê Tuấn Anh và đối tượng giả giọng của ông Mai Xuân T – Phó Tổng cục Trưởng Tổng cục Hải quan và ông Lê Thanh N – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội là một người. Hiện tại trên thị trường không có phần mềm giả giọng này. Đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ có đồng phạm cùng N thực hiện hành vi phạm tội và xử lý theo qui định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận và công bố một số nội dung liên quan đến bản dịch 07 file ghi âm mà bị hại là chị Phạm Thị N cung cấp trong quá trình điều tra và Kết luận giám định số 6738/KL – KTHS ngày 05/12/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an liên quan đến kết quả giám định 03 file ghi âm trong USB mà chị Phạm Thị N cung cấp thể hiện: Tiếng nói của giọng nam trong 3 file ghi âm mẫu cần giám định và tiếng nói của Lưu Thị Bích N trong mẫu so sánh là

của cùng một người. Như vậy, kết luận giám định phù hợp với lời khai của bị cáo N tại quá trình điều tra và tại phiên toà khi bị cáo cho rằng bị cáo đã mua phần mềm giả giọng và tự nói chuyện với chị Phạm Thị N là có căn cứ nên không có cơ sở khẳng định có đồng phạm cùng bị cáo N phạm tội như lời đề nghị của chị Phạm Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội và tội danh:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà, thấy phù hợp với lời khai của chính bị cáo, người bị hại, phù hợp với vật chứng thu được, lời khai của người làm chứng phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2021, Lưu Thị Bích N lợi dụng sự quen biết một số người, đã nói dối và đưa ra những thông tin không đúng sự thật về nghề nghiệp, nơi công tác và có nhiều mối quan hệ với những người có chức vụ trong xã hội, giới thiệu với họ là có khả năng làm thủ tục xin chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất ở lâu dài; mua được các loại xe ô tô, điện thoại di động, máy tính xách tay với giá rẻ; mua được các căn biệt thự với giá ngoại giao tại dự án khu Đô thị mới D Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; xin được trúng thầu dự án cung cấp trang thiết bị y tế; có mối quan hệ để điều tra lấy lại được tiền bị lừa đảo trên mạng Internet. Từ đó để anh Hy K, chị Bùi Thị P, chị Phạm Thị N, chị Nguyễn Bích H, chị Trần Diệu Thuý và ông Lê Văn P đưa tiền cho N, nhưng sau khi nhận được tiền N không thực hiện các hợp đồng mua hộ các tài sản trên như cam kết mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết; sau khi đã chiếm đoạt được tiền của chị P, chị N, chị Hồng, thì N lên mạng Internet đặt mua của 1 người không quen biết 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và 04 Hợp đồng mua bán, đặt cọc các căn biệt thự giả lấy địa chỉ nhà đất tại các khu đô thị mới An Hưng và D Nội, Hà Đông đưa cho chị P, chị N và Chị H để cấn trừ số tiền N đang nợ.

Kết quả điều tra xác định Lưu Thị Bích N chiếm đoạt của 07 bị hại với số tiền là 6.924.330.000 đồng, gồm chiếm đoạt của những người bị hại sau: anh Hy K 1.468.500.000 đồng; chị Bùi Thị P 610.000.000 đồng; chị Phạm Thị N 3.118.630.000 đồng; chị Nguyễn Bích H 850.000.000; anh Trịnh Ngọc B

821.000.000 đồng; ông Lê Văn P 27.000.000 đồng và Chị Trần Diệu T 29.200.000 đồng.

Với hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lưu Thị Bích N về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Lưu Thị Bích N đã đưa ra những thông tin gian dối về nghề nghiệp, nơi công tác và có nhiều mối quan hệ với những người có chức vụ trong xã hội nên bị cáo có khả năng làm thủ tục xin chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất ở lâu dài; mua được các loại xe ô tô, điện thoại di động, máy tính xách tay, các căn biệt thự với giá rẻ; xin được trúng thầu dự án cung cấp trang thiết bị y tế; lấy lại được tiền bị lừa đảo trên mạng Internet.... Từ đó các bị hại tin tưởng đưa tiền cho bị cáo, nhưng sau khi nhận được tiền bị cáo không thực hiện như cam kết mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau đó, bị cáo lên mạng Internet đặt mua 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và 04 Hợp đồng mua bán, đặt cọc các căn biệt thự giả đưa cho một số bị hại để khấu trừ số tiền bị cáo nợ bị hại. Bị cáo đã chiếm đoạt của 07 bị hại với tổng số tiền là 6.924.330.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên” qui định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và “phạm tội 2 lần trở lên”; “làm từ 2 - 5 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác” theo các điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, gây thiệt hại lớn về tài sản cho người bị hại. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo đã khắc phục được 920.000.000 đồng cho các bị hại, cụ thể: chị Bùi Thị P: 610.000.000 đồng; chị Phạm Thị N: 60.000.000 đồng; chị Nguyễn Bích H: 200.000.000 đồng; nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội: 50.000.000 đồng.

Với hành vi phạm tội của bị cáo như trên, cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải, biết hối lỗi và ân hận do hành vi phạm tội của mình gây ra; đã tích cực tác động gia đình khắc phục được số tiền 920.000.000 đồng cho các bị hại; những người bị hại là chị Bùi Thị P, anh Nguyễn Thành P, ông Lê Văn P đều có đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; con đang tuổi trưởng thành, phát triển tâm, sinh lý cần có mẹ bên cạnh, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định

tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử áp dụng, xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2021, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo đối với 07 bị hại, mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đều cấu thành một tội phạm độc lập. Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “phạm tội 2 lần trở lên”. Đối với hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” nên không áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “phạm tội 2 lần trở lên” để xét xử đối với bị cáo. Do bị cáo phạm 02 tội nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

[5]. Các vấn đề khác của vụ án:

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về yêu cầu của người bị hại là chị Phạm Thị N đề nghị làm rõ đối tượng Lê Tuấn Anh và vai trò đồng phạm của Tuấn Anh với N trong vụ án này. Như lời khai của bị cáo N tại phiên toà, bị cáo N không quen biết ai là Lê Tuấn Anh, không đưa tiền cho Tuấn Anh, N tự nghĩ ra như vậy nhưng thực chất là N đặt trên mạng của đối tượng không quen biết làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên chị P. N thực hiện hành vi phạm tội một mình. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát cũng đã công bố một số nội dung liên quan đến bản dịch 07 file ghi âm mà bị hại là chị Phạm Thị N cung cấp trong quá trình điều tra và Kết luận giám định số 6738/KL – KTHS ngày 05/12/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an liên quan đến kết quả giám định 03 file ghi âm trong USB mà chị Phạm Thị N cung cấp thể hiện: Tiếng nói của giọng nam trong 3 file ghi âm mẫu cần giám định và tiếng nói của Lưu Thị Bích N trong mẫu so sánh là của cùng 1 người. Như vậy, kết luận giám định phù hợp với lời khai của bị cáo N tại quá trình điều tra và tại phiên toà khi bị cáo cho rằng bị cáo đã mua phần mềm giả giọng và tự nói chuyện với chị Phạm Thị N là có căn cứ nên không có cơ sở khẳng định có đồng phạm cùng giúp sức cho bị cáo N như quan điểm của chị Phạm Thị N. Do đó, không có căn cứ chấp nhận đề nghị của bị hại Phạm Thị N.

- Anh Vũ Văn T (chồng bị cáo) đã tự nguyện khắc phục hậu quả thay bị cáo cho các bị hại và nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội tổng số 920.000.000 đồng, anh Toàn không yêu cầu bị cáo hoàn trả khoản tiền này nên ghi nhận sự tự nguyện của anh Toàn.

[6] Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người bị hại có yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho họ số tiền còn lại bị cáo đã chiếm đoạt, cụ thể: anh Hy K 1.468.500.000 đồng; chị Bùi Thị P đã được bồi thường toàn bộ nên không yêu cầu bồi thường; chị Phạm Thị N 3.058.630.000 đồng; chị Nguyễn Bích H 650.000.000 đồng; anh Trịnh Ngọc B 821.000.000 đồng; ông Lê Văn P

27.000.000 đồng; Chị Trần Diệu T 29.200.000 đồng. Xét thấy, đây là số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại, hiện tại bị cáo chưa bồi thường nên cần buộc bị cáo bồi thường toàn bộ cho họ. Về số tiền anh Vũ Văn T (chồng bị cáo N) đã tự nguyện nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội 50.000.000 đồng (theo biên lai số 0023682 ngày 18 tháng 12 năm 2023) để thay bị cáo khắc phục thiệt hại cho các bị hại được khấu trừ vào tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho các bị hại. Tổng số đã bồi thường 920.000.000 đồng, còn phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt còn lại của các bị hại là 6.004.330.000 đồng.

[7]. Các vấn đề khác của vụ án:

- Đối với chị Lưu Thanh H (là em gái của bị cáo Lưu Thị Bích N) và anh Nguyễn Cao Cường (là em rể của bị cáo N) được Bích N nhờ nhận 50.000.000 đồng của chị Phạm Thị N và nhận 180.000.000 đồng của chị Bùi Thị P thông qua chuyển khoản N hàng. Sau khi nhận tiền, chị Hà và Anh C đã chuyển khoản lại ngay cho Bích N và không biết số tiền trên do Bích N phạm tội mà có nên không phạm tội hình sự. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị Hà và Anh C là phù hợp với qui định của pháp luật.

- Đối với hành vi ngày 22/12/2016, Lưu Thị Bích N thoả thuận vay riêng của anh Hy K 1.141.000.000 đồng để đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những người khác nhưng đến nay chưa trả cho anh K. Xét thấy, việc vay mượn trên là quan hệ dân sự, anh K có quyền khởi kiện bị cáo N bằng vụ kiện dân sự khác để đòi số tiền này khi có căn cứ.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Thị Bích N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

2. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, c khoản 2 Điều 341 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Lưu Thị Bích N 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn châp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2022.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

4. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Xử lý vật chứng: Không.

+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lưu Thị Bích N phải bồi thường cho các bị hại tổng số 6.924.330.000 đồng, đã bồi thường 870.000.000 đồng cho chị

Bùi Thị P: 610.000.000 đồng; chị Phạm Thị N: 60.000.000 đồng và chị Nguyễn Bích H: 200.000.000 đồng; xác nhận bị cáo đã nộp 50.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội theo biên lai thu tiền số 0023682 ngày 18 tháng 12 năm 2023 do anh Vũ Văn T (Chồng bị cáo nộp), còn phải bồi thường 6.004.330.000 đồng. Cụ thể từng bị hại như sau:

  1. Anh Hy K: 1.468.500.000 đồng;
  2. Chị Phạm Thị N: 3.118.630.000 đồng, xác nhận bị cáo đã bồi thường 60.000.000 đồng, còn phải bồi thường 3.058.630.000 đồng;
  3. Anh Lê Văn P: 27.000.000 đồng;
  4. Bà Trần Diệu Thuý: 29.200.000 đồng;
  5. Chị Nguyễn Bích H: 850.000.000 đồng, xác nhận bị cáo đã bồi thường 200.000.000 đồng, còn phải bồi thường 650.000.000 đồng;
  6. Anh Trịnh Ngọc B: 821.000.000 đồng;
  7. Chị Bùi Thị P: 610.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo đã bồi thường đủ số tiền này cho chị P.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo Lưu Thị Bích N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 114.004.330 đồng tiền án phí dân sự và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Các bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Thủy

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại HN;
  • - VKSND cấp cao tại HN;
  • - Viện kiểm sát ND TP Hà Nội;
  • - Công an TP Hà Nội;
  • - Cục Thi hành án DS TP Hà Nội;
  • - Trại tạm giam số 1, Công an TP Hà Nội;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HSST ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 03/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu cơ quan, tổ chức bị cáo Lưu Thị Bích N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger