Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HS-ST

Ngày 19-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tuấn Anh
  • Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn D: sinh ngày 03/7/1997, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn T (sinh năm 1966), con bà: Phạm Thị K (sinh năm 1966); Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: chưa có.

Bị bắt quả tang ngày 28/3/2024. Hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên toà.

  • - Bị hại: Ông Phạm Văn T1, sinh năm: 1960. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • Ông Bùi Văn T, sinh năm: 1966. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên toà.
  • - Người làm chứng:
    1. Anh Nguyễn Minh T2, sinh năm: 1993. Nơi cư trú: Xóm G, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt không có lý do.
    2. Anh Hoàng Văn Q, sinh năm: 1987. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 27/3/2024, Bùi Văn D một mình đi đến nhà ông Phạm Văn T1, sinh năm 1960, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện Đ mục đích để trộm cắp trâu đem bán. Do thấy điện trong nhà còn sáng nên D ngồi đợi, đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, đoán mọi người đã ngủ, D liền vào chuồng trộm cắp 01 con trâu của gia đình ông T1 rồi đưa đến khu vực đồi cây của gia đình ông Chìu Tắc H (thuộc xã D, huyện Đ), (cách đó khoảng hơn 7km) cất giấu. Ngày hôm sau D liên hệ thuê anh Nguyễn Minh T2 (sinh năm 1993, trú tại xóm G, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) với giá 2.500.000đ để đưa xe ô tô tải biển kiểm soát (BKS) 20C-237.27, chở trâu đi Hải Phòng bán. Trên đường đi, do anh T2 nghi ngờ trâu do D trộm cắp nên anh T2 không đồng ý chở nữa. D bảo anh T2 quay xe lại quán Trâu Rừng của anh Hoàng Văn Q, (sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã T, huyện Đ) để bán trâu. Do trước đó anh Q nắm được thông tin có gia đình ở xã Q bị mất trâu, nên anh Q kéo dài thời gian thỏa thuận mua bán để báo cơ quan chức năng. Lo sợ hành vi trộm cắp của mình bị phát hiện nên D đã lên thùng xe ô tô lấy xe đạp (xe trước đó Duy mượn của bố đẻ để đi đón anh T2) bỏ chạy thì bị anh Q và anh T2 giữ lại và báo Công an đến bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 01 con trâu màu đen, giống cái, chiều dài khoảng 2,1m, cao khoảng 1,3m, chu vi vòng bụng khoảng 2,3m, đầu mũi khuyên có xỏ 01 sợi dây thừng dài 03m; 01 xe đạp màu vàng, thân xe ghi chữ: “USA Alaska"; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu đỏ, lắp sim số 0865.111.286 của D.

Tại Kết luận định giá số 05/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: con trâu trưởng thành, giống cái, nặng 480 kg, tại thời điểm bị trộm cắp trị giá 34.560.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại trâu cho ông Phạm Văn T1; trả lại ông Bùi Văn T (bố đẻ của D) 01 chiếc xe đạp; còn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu đỏ, đã chuyển nhập kho vật chứng Công an huyện Đ bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Bị hại ông Phạm Văn T1 tại cơ quan điều tra có lời khai: Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 27/3/2024 sau khi dắt trâu đi ăn về thì ông T1 buộc trâu vào chòi thuộc khu vườn của gia đình. Tại khu vực chòi trâu nhà ông T1 có hàng rào dây thép gai bao quanh để bảo vệ tài sản. Sau đó ông T1 vào nhà nghỉ ngơi, đến 6 giờ sáng ngày 28/3/2024 ông T1 quay lại chòi trâu để dắt trâu đi cày không thấy trâu đâu. Ông T1 quan sát thì thấy hàng rào dây thép gai mở 01 lối đi khoảng 01 mét vừa đủ dắt trâu. Sau đó ông T1 huy động cả nhà đi tìm trâu nhưng không thấy. Đồng thời với việc đi tìm trâu gia đình ông T1 có thông tin đến một số cơ sở thu mua, giết trâu, nhà hàng trâu trên địa bàn huyện Đ biết việc gia đình ông bị mất trâu. Đến 18 giờ cùng ngày khi đang đi tìm trâu thì ông nghe được thông tin chủ nhà hàng T3 ở đoạn Quốc lộ A thuộc địa bàn xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh bắt giữ được đối tượng nghi vấn trộm trâu mang đến nhà hàng để bán. Ông T1 liền đến nhà hàng T3 thì thấy con trâu bị bán là trâu của gia đình mình. Còn đối tượng bán trâu là Bùi Văn D. Sau đó lực lượng công an đến lập biên bản và D thừa nhận đã trộm trâu của gia đình ông T1. Ông T1 đã nhận là tài sản là con trâu và không yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản. Ngoài ra ông T1 còn có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay có lời khai thể hiện: Vào khoảng 13 giờ ngày 28/3/2024 D có mượn chiếc xe đạp của ông T. Khi mượn xe D chỉ nói với ông T là mượn xe để đi làm. Đến chiều ông T nghe tin D bị bắt cùng chiếc xe đạp vì có hành vi trộm trâu. Chiếc xe đạp D sử dụng là của ông T mua từ hơn 10 năm nay. Hiện nay ông đã nhận lại chiếc xe đạp và không yêu cầu D phải bồi thường gì về dân sự.

Người làm chứng anh Nguyễn Minh T2 có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 28/3/2024 khi anh T2 đang ở nhà thì có tài khoản Facebook có tên Bùi Văn D nhắn tin hỏi có nhận chở 01 con trâu đi Hải Phòng. Anh T2 đồng ý và thoả thuận giá chở thuê là 2.500.000 đồng và hẹn đến khoảng 18 giờ thì đến Đ. Người thuê chở trâu hẹn anh T2 khi đến Bưu điện Đ thì gọi vào số 0865111286. Sau đó anh T2 điều khiển chiếc xe ô tô biển kiểm soát 20C-237.27 đi đến huyện Đ, trên đường đi anh T2 có liên hệ với số 0865.111.xxx thì người thanh niên hẹn đón anh T2 ở đoạn đường quốc lộ gần cao tốc. Khi anh T2 đến điểm hẹn người thanh niên đó lên xe anh T2 chỉ đường đến chỗ có con trâu cần chở. Sau khi cho con trâu lên xe người thanh niên bảo chở trâu sang Hải Phòng bán. Khi xe lên đường cao tốc anh T2 hỏi mang đến địa điểm nào ở Hải Phòng để bán thì người thanh niên trả lời chung chung. Khiến anh T2 nghi ngờ con trâu không phải là của người thanh niên đó và không muốn chở đi Hải Phòng. Nên anh T2 bảo người thanh niên thuê chở trâu muốn chở vào Hải Phòng thì phải có giấy tờ để đi qua trạm kiểm dịch và anh T2 đã vòng xe quay trở lại Đầm Hà qua lối rẽ ra khỏi đường cao tốc ở T. Người thanh niên sau đó bảo anh T2 chở đến quán T4 ở Dốc Đ để bán trâu. Khi đến quán thì anh T2 thấy người thanh niên thoả thuận với chủ quán giá bán trâu là 18.000.000 đồng nhưng phải có công an xã xác nhận thì mới mua. Sau đó người chủ quan gọi điện cho ai đó, còn người thanh niên bảo anh T2 chuyển xe đạp của anh ta từ thùng xe xuống. Người thanh niên sau đó lắp lại xích bị tuột và bỏ chạy. Do nghi vấn người thanh niên trộm cắp trâu nên anh T2 và chủ quán trâu đã đuổi theo bắt giữ và báo cơ quan công an đến để giải quyết.

Người làm chứng anh Hoàng Văn Q tại cơ quan điều tra có lời khai thể hiện: Khoảng 18 giờ ngày 28/3/2024 khi anh đang ở nhà thì có 02 thanh niên đi xe tải trắng đỗ trước của sân nhà anh Q, trong đó có 01 thanh niên xuống xe nói muốn bán trâu với giá 26.000.000 đồng. Anh Q không đồng ý và ép giá chỉ mua với giá 18.000.000 đồng. Thấy bị ép giá mà người thanh niên vẫn bán và trước đó có nghe tin có nhà ở Q bị trộm cắp trâu nên anh Q hỏi người thanh niên đó ở đâu. Thì người thanh niên đó nói ở Q. Thấy vậy anh Q bảo với người thanh niên chỉ mua con trâu khi có sự chứng kiến của công an xã. Sau đó anh Q gọi điện cho công an xã T nhờ xác minh nguồn gốc con trâu. Khi C điện lại cho anh Q thì người thanh niên lấy xe đạp bỏ chạy. Anh Q và người lái xe đuổi theo bắt giữ D lại. Một lúc sau có lực lượng công an đến anh Q đã bàn giao D cho lực lượng công an để giải quyết

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 69/QĐ-VKSĐH ngày 12/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà truy tố bị cáo Bùi Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn D thừa nhận hành vi phạm tội mình đã thực hiện như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo không thắc mắc gì về nội dung bản Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, không khiếu nại thắc mắc gì về kết luận định giá tài sản, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Văn D từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do bị cáo Bùi Văn D tại phiên toà.

Về vật chứng: 01 chiếc xe đạp mini, 01 con trâu đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu mobell là phương tiện liên quan đến việc phạm tội. Tiêu huỷ 01 sim kèm theo điện thoại của Bùi Văn D.

Về bồi thường dân sự: người bị hại là ông Phạm Văn T1; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên không đề cập.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo hiện không còn việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Người bị hại là ông Phạm Văn T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt không có lý do, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về chứng cứ xác định có tội:

Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội quả tang, lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Vì mục đích tư lợi cá nhân, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, khoảng 23 giờ 30 phút ngày 27/3/2024 Bùi Văn D đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 con trâu có giá là 34.560.000 đồng của gia đình ông Phạm Văn T1.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và lời luận tội của Viện kiểm sát. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của Bùi Văn D đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm………”

[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị hại gia đình ông Phạm Văn T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

Căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận thấy bị cáo phạm tội do bồng bột nhất thời, bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội đều có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương và cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội nên không cần thiết buộc phải chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú phối hợp cùng gia đình giám sát giáo dục cũng có thể cải tạo bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà đề nghị áp dụng điều luật và hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[5] Về vật chứng: 01 chiếc xe đạp mini đã cũ, 01 con trâu đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập.

01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Mobell màu đỏ D dùng vào việc liên quan đến tội phạm nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. 01 thẻ sim theo điện thoại của D không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

[6] Về bồi thường dân sự: người bị hại là ông Phạm Văn T1; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề cập.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo hiện không còn việc làm, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bùi Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bùi Văn D 15 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên bố trả tự do cho bị cáo Bùi Văn D tại phiên toà.

Giao bị cáo D cho UBND xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ khoản điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Mobell màu đỏ, số imei 1: 970101600818530, số imei 2: 970102600818538. Tiêu huỷ 01 sim điện thoại lắp trong điện thoại của Bùi Văn D.

(Toàn bộ vật chứng tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/4/2024 giữa Công an Huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Hà).

Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331 và khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vắng mặt bị hại. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; báo cho bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKS; CA; THADS huyện Đầm Hà;
  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan thi hành án Hình sự;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 03/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger