Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN QUÂN SỰ

KHU VỰC QUÂN KHU 9

Bản án số: 03/2024/HS-ST

Ngày 18-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 9

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Trung tá Mai Thị Thanh Trúc.

Các Hội thẩm quân nhân:

  • Trung tá Nguyễn Chí Quang;
  • Trung tá Nguyễn Thanh Sang.

- Thư ký phiên tòa: Thượng úy Trần Trọng Tuân, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 9.

- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 91 tham gia phiên tòa: Trung tá Nguyễn Văn Truyền, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 9, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử Số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T

, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1992, tại tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; bị tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 27/01/2024, bị tạm giam từ ngày 28/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam H85-Quân khu I; có mặt.

- Bị hại: Hồ Phi L, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2004, tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; cấp bậc, chức vụ, đơn vị công tác: Trung sĩ, Tiểu đội trưởng vệ binh, Bệnh viện Q, Cục Hậu cần, Quân khu I; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Bảo hiểm xã hội Bộ Q1; vắng mặt.
  • + Bệnh viện Q, Cục H2, Quân khu I; có ông Lê Văn H; sinh ngày 11/3/1972; chức vụ: Chính ủy, được Giám đốc Bệnh viện Q, Cục Hậu cần, Quân khu I ủy quyền tham gia phiên tòa theo Giấy ủy quyền ngày 17/6/2024; có mặt.

- Những người làm chứng:

  1. Nguyễn Duy H1; có mặt.
  2. Nguyễn Vũ E; có mặt.
  3. Lưu Phương T1; có mặt.
  4. Trương Trường P; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/01/2024, Nguyễn Văn T sinh sống tại huyện P, tỉnh Hậu Giang, xảy ra mâu thuẫn với gia đình nên đi đến thành phố Cần Thơ, nhưng không có nơi ở ổn định. Ngày 16/01/2024, T đến căn tin Bệnh viện Q, Cục H2, Quân khu I (Bệnh viện 121) ăn, uống nhưng không có tiền thanh toán nên bị lực lượng vệ binh Bệnh viện 121 mời rời khỏi. Ngày 17/01/2024, T tiếp tục đi vào Bệnh viện 121, đi chân trần, chỉ mặc quần Jean, không mặc áo nên bị vệ binh giữ lại và giao cho Công an phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 18/01/2024, T đi bộ theo hướng từ cầu Q đến Bệnh viện 121, trên đường Đ có nhặt 01 (một) thanh gỗ dài khoảng 90cm ở bên lề đường. Khi đến trước cổng Bệnh viện Q, nhìn thấy quân nhân Hồ Phi L đang đứng mua nước uống, T đi đến phía sau, bên phải, hai tay cầm thanh gỗ đánh 01 (một) cái từ phải sang trái, trúng vào phần trán bên phải của quân nhân L rồi cầm theo thanh gỗ bỏ chạy.

Sau đó, quân nhân Hồ Phi L trở vào Bệnh viện Q, trình báo sự việc. Nguyễn Duy H1 là trực ban Bệnh viện 121 cùng các vệ binh khác đuổi theo, truy bắt. Quá trình vây bắt, T ném thanh gỗ vào lực lượng, kháng cự, chống trả; quân nhân Nguyễn Vũ E đã dùng công cụ hỗ trợ là cây ba trắc đánh 02 (hai) cái, trúng vào phần đầu mới khống chế và bắt giữ được T, rồi đưa T đi chữa trị vết thương tại Bệnh viện Q.

Hậu quả: Quân nhân Hồ Phi L chấn thương vùng mặt sưng nề mắt phải, vết thương phức tạp cung mày và mi trên mắt phải, gãy lún thành trước xoang trán phải, gãy sụp sàn ổ mắt phải, tổn thương cơ thể là 19%; Nguyễn Văn T bị chấn thương gây sưng nề kèm vết thương vùng đỉnh đã được điều trị ổn định, không ảnh hưởng chức năng, tổn thương cơ thể là 03%.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận: Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 18/01/2024, trước cổng Bệnh viện 121, bị cáo đã dùng thanh gỗ nhặt được trên đường, đi đến phía sau, bên phải, hai tay cầm thanh gỗ đánh 01 (một) cái từ phải sang trái, trúng vào phần trán bên phải của quân nhân L rồi bỏ chạy, gây thương tích 19% cho quân nhân Hồ Phi L. Bị cáo đánh bị hại là để trả thù lực lượng vệ binh, vì trước đây bị cáo bị lực lượng vệ binh đuổi đi khỏi Bệnh viện Q; rồi có lần bị lực lượng vệ binh bắt giữ giao cho Công an xử lý; đến nay, bị cáo chưa bồi thường khắc phục hậu quả. Khi bị đuổi bắt, bị cáo kháng cực, ném thanh gỗ vào lực lượng nên bị đánh vào đầu, thương tích là 03%.

Bị hại Hồ Phi L khai: Có lần, tôi cùng lực lượng vệ binh mời bị cáo T ra khỏi Bệnh viện 121, do T đến căn tin ăn, uống nhưng không trả tiền. Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 18/01/2024, khi đang đứng mua nước uống tại cổng Bệnh viện 121 thì bất ngờ bị T dùng thanh gỗ đánh trúng vào phần đầu, gây thương tích là 19%. Tôi đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Người làm chứng Lưu Phương T1 khai tại phiên tòa, như sau: Ngày 18/01/2024, tôi nhìn thấy một người vệ binh đi từ trong Bệnh viện 121 ra cổng đến trước chỗ tôi buôn bán để mua nước uống; cùng lúc này có một thanh niên cầm khúc gỗ đi đến chỗ người vệ binh. Do, tôi đang làm bánh mì bán cho khách nên không quan sát nữa, nhưng sau đó tôi nghe người mua bánh mì (không biết tên, địa chỉ) la lên có người bị đánh, lúc này tôi thấy người vệ binh ôm đầu, máu trên trán chảy xuống, còn người thanh niên thì chạy về hướng đèn xanh, đèn đỏ cầu Q.

Người làm chứng Nguyễn Duy H1 khai tại phiên tòa và người làm chứng Trương Trường P vắng mặt nhưng có lời khai tại Cơ quan điều tra, như sau: Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 18/01/2024, khi được thông báo về sự việc quân nhân Hồ Phi L bị người lạ đánh, rồi bỏ chạy nên đã cùng nhau đuổi theo bắt giữ. Quá trình vây bắt, bị cáo T cầm thanh gỗ ném vào lực lượng, chống cự dữ dội, vùng vẫy, dùng tay tấn công lực lượng nên quân nhân Nguyễn Vũ E đã dùng công cụ hỗ trợ là cây ba trắc, đánh 02 (hai) cái mới khống chế và bắt giữ được T. Sau đó, đưa T đi chữa trị ở Bệnh viện Q.

Người làm chứng Nguyễn Vũ E khai tại phiên tòa: Khi vây bắt, bị cáo kháng cự quyết liệt, để khống chế và bắt giữ nên đã dùng cây ba trắc, đánh 02 (hai) cái vào người của bị cáo nhưng do bị cáo vùng vẫy dữ dội nên đã đánh trúng vào phần đầu của bị cáo T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bảo hiểm xã hội Bộ Q1 yêu cầu bồi hoàn số tiền là 6.579.369 đồng, là chi phí điều trị thương tích cho quân nhân Hồ Phi L. Bệnh viện 121 yêu cầu hoàn trả số tiền 1.305.900 đồng, là chi phí điều trị thương tích cho Nguyễn Văn T.

Tại các Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 46/KLTTCT-TTPYCT, ngày 25/01/2024; số 105/KLTTCT-TTPYCT, ngày 06/3/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế thành phố C, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của quân nhân Hồ Phi L là 19%; của Nguyễn Văn T là 03%.

Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSKV91 ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 91 truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 134; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành tính từ ngày tạm giữ (ngày 19/01/2024).

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi hoàn cho Bảo hiểm xã hội Bộ Q1 số tiền 6.579.369 đồng, là chi phí điều trị thương tích cho bị hại Hồ Phi L; đối với số tiền 1.305.900 đồng, là chi phí điều trị thương tích cho bị cáo, căn cứ khoản 2 Điều 18 Luật Khám bệnh chữa bệnh buộc bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm hoàn trả cho Bệnh viện 121.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh gỗ có tiết diện hình chữ nhật, kích thước 3x4cm, dài 90cm, trên thân có nhiều đinh kim loại đã rỉ sét, là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

Áp dụng quy định án phí, lệ phí đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn T đồng ý với nội dung luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, không có ý kiến tranh luận.

Bị hại Hồ Phi L và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: đồng ý nội dung luận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về sai phạm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hình sự Khu vực 5-Quân khu I, Điều tra viên, Viện kiểm sát quân sự Khu vực 91, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Theo đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại cổng Bệnh viện Q, Cục H2, Quân khu I, bị cáo Nguyễn Văn T đã dùng thanh gỗ đánh vào vùng trán, vùng mắt, gây tổn thương cơ thể 19% cho quân nhân Hồ Phi L. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, thấy được hậu quả xảy ra. Bị cáo sử dụng thanh gỗ để gây thương tích cho bị hại nên thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; vì bực tức thiếu kèm chế mà bị cáo cố ý gây sự, dùng vũ lực tấn công bị hại, xem nhẹ sức khỏe của người khác, xem thường pháp luật nên hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Do đó, bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 91 truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xem xét toàn diện vụ án, mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng tính chất vụ án mà bị cáo gây ra là nghiêm trọng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

[5] Hành vi của Nguyễn Vũ E, trong quá trình khống chế, bắt giữ bị cáo mặc dù đã gây thương tích 03% cho bị cáo nhưng thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự theo Điều 24 Bộ luật Hình sự, do đó, các Cơ quan tố tụng không xem xét giải quyết là có căn cứ.

[6] Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 các Điều 584; Điều 585; Điều 586 và khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi hoàn 6.579.369 đồng cho Q1; bị hại Hồ Phi L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; đối với số tiền 1.305.900 đồng, là chi phí điều trị thương tích cho bị cáo, bị cáo có trách nhiệm hoàn trả cho Bệnh viện 121.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy thanh gỗ (tiết diện hình chữ nhật, kích thước 3x4cm, dài 90cm, trên thân có nhiều đinh kim loại đã rỉ sét) mà bị cáo sử dụng để gây thương tích cho bị hại do không còn giá trị sử dụng.

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền còn phải thực hiện là 394.000 (7.885.269 đồng x 5%) đồng.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 19/01/2024).

2. Về bồi thường thiệt hại:

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 các Điều 584; Điều 585; Điều 586 và khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi hoàn 6.579.369 (Sáu triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn ba trăm sáu mươi chín) đồng cho Bảo hiểm xã hội Bộ Q1; hoàn trả 1.305.900 (Một triệu ba trăm lẻ năm nghìn chín trăm) đồng cho Bệnh viện Q, Cục H2, Quân khu I .

Áp dụng khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự, kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh gỗ theo Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, ngày 19/01/2024 của Công an phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 394.000 (Ba trăm chín mươi tư nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/6/2024), đối với bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án đối với Q1, có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự Quân khu 9./.

Nơi nhận:

  • - VKSQSQK9; VKSQSKV91;
  • - Cơ quan THAHSQK9;
  • - Phòng THAQK9;
  • - Trại Tạm giam H85-QK9;
  • - Cơ quan ĐTHSKV5-QK9;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng;
  • - Bệnh viện Quân y 121, Cục Hậu Cần, QK9;
  • - Lưu: HS, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trung tá Mai Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 9 về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 03/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 9
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T dùng cây đánh gây thương 19% cho bị hại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger